Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Đại Thời Đại 1958 - Chương 693: Thắng lợi trong tầm mắt

"Đúng như ngài nói, Trung Quốc đôi khi không phải là rắc rối." Gromyko vừa bác bỏ kháng nghị của Mỹ, tiện thể đề nghị Mỹ tự mình thương lượng với Trung Quốc, đẩy quả bóng trách nhiệm trở lại. Bởi vì Serov luôn tìm cách phong tỏa thông tin về Trung Quốc, đồng thời chỉ đạo các nước Đông Âu cũng làm theo, tạo ra một bức tường ngăn cách thông tin về Trung Quốc trong nội bộ Liên Xô. Trong mắt Liên Xô, Trung Quốc hoàn toàn biến thành vô hình, bị lãng quên trong nhiều năm.

Dù thủ đoạn có phần hèn hạ, nhưng hiệu quả rất tốt. Trung Quốc, vốn bị coi là vô hình, khiến Liên Xô luôn tránh thái độ chèn ép, coi như không thấy mọi hành vi gây hấn. Trên thực tế, ngoài các ủy viên Đoàn Chủ tịch Trung ương ra, người dân Liên Xô cơ bản không hay biết Trung Quốc đang gây sự. Hệ quả là, trong bối cảnh Liên Xô không điều động đại quân áp sát biên giới, Trung Quốc luôn tự cảm thấy an toàn và tự tin thái quá, tự cho rằng trong phe xã hội chủ nghĩa, ngoài Liên Xô ra thì mình là thủ lĩnh thứ hai.

Trong bối cảnh đó, Trung Quốc vẫn luôn thể hiện thái độ rất "hiếu chiến". Lần này, trong lúc Mỹ kháng nghị việc Bắc Việt tấn công Nam Việt, Gromyko cũng rất thẳng thừng đẩy trách nhiệm sang phía Trung Quốc, tuyên bố ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á là có hạn, và rằng họ nên tìm một quốc gia khác để kháng nghị.

"Bất kể chuyện gì, cũng đều có tính hai mặt của lưỡi dao. Khi một ngón tay chỉ vào người khác, thì bốn ngón c��n lại đang chĩa vào chính mình. Trung Quốc luôn lớn tiếng, chúng ta không lên tiếng, thì người Mỹ đương nhiên sẽ không gây rắc rối cho chúng ta." Serov cười khẩy nói, "Ai bảo các đồng chí Trung Quốc cứ luôn lớn tiếng như vậy cơ chứ. Họ gây cho chúng ta không ít phiền phức, nhưng đôi khi cũng mang lại những sự giúp đỡ rất đáng kể."

Tại sao Trung Quốc lại ngả về phía Mỹ? Vấn đề này đương nhiên có liên quan đến Khrushchev, nhưng không quá lớn. Mặc dù dưới thời Khrushchev, Liên Xô bị Trung Quốc mắng cho ‘chó máu đầy đầu’, nhưng mọi việc vẫn trong tầm kiểm soát. Khrushchev chỉ chú tâm tranh cãi, không dùng vũ lực quân sự uy hiếp Trung Quốc. Đến thời Brezhnev, không muốn tốn công tranh cãi, Brezhnev dứt khoát ra tay mạnh mẽ hơn, điều động một số đơn vị quân tuyến hai đến biên giới Xô-Trung, đồng thời công bố thuyết chủ quyền hữu hạn.

Chính là lý luận được Serov 'nhặt nhạnh' trong dòng thời gian này, cùng với việc Liên Xô điều động một số đơn vị quân tuyến hai, đã khiến Trung Quốc sợ đến tè ra quần. Đây mới chính là động lực ban đầu khiến Trung Quốc xích lại gần Mỹ. Trung Quốc đâu có ngốc, lúc Liên Xô chưa phản ứng thì nói cho sướng miệng, nhưng khi thấy Liên Xô bắt đầu chỉnh đốn quân đội, cộng thêm thuyết chủ quyền hữu hạn được tuyên truyền rộng rãi, họ lập tức cảm thấy bản thân không còn an toàn.

Serov tin tưởng, ngay cả khi Xô-Trung đối đầu gay gắt, Trung Quốc cũng không mong Liên Xô giải thể. Điều này có thể thấy qua các báo cáo trong hai năm trước và sau khi Liên Xô tan rã. Trung Quốc mong Liên Xô đừng quá mạnh, nhưng chắc chắn không muốn trước mặt mình không có một bức tường chắn bảo vệ.

Thực ra Liên Xô cũng không làm gì quá đáng với Trung Quốc. Ở Viễn Đông, chỉ có các đơn vị quân tuyến hai, tuyến ba. Việc tăng cường quân bị là chuyện xảy ra sau khi chiến tranh Afghanistan bắt đầu. Nguyên nhân Trung Quốc sợ hãi không liên quan đến việc quân đội Liên Xô ở Viễn Đông mạnh đến mức nào, mà là do Trung Quốc quá yếu, ngay cả lính biên phòng KGB cũng không đối phó nổi.

Hiện tại, lực lượng vũ trang Liên Xô ở biên giới Xô-Trung ước tính khoảng bảy trăm nghìn quân, chiếm khoảng một phần năm tổng quân số Liên Xô. Năm ngoái, Liên Xô vừa vượt Mỹ về sản lượng thép, trở thành số một thế giới. Sản lượng dầu mỏ, cao su, bông vải đứng đầu thế giới; hàng dệt đứng thứ ba; số lượng thịt bò đứng thứ hai; sản phẩm từ sữa bò đứng đầu thế giới.

Trong nhiều thống kê về sản phẩm công-nông nghiệp đơn lẻ, Liên Xô đã đạt đến trình độ sánh ngang với Mỹ. Còn đối với những mặt hàng mà Liên Xô chiếm đến chín mươi phần trăm sản lượng thế giới như trứng cá muối, thì việc so sánh tương đối không còn nhiều ý nghĩa.

Nhiều lĩnh vực mà đáng lẽ phải đến cuối thập niên 70 mới đạt được trình độ này, sau khi chuyển giao một phần ngành công nghiệp đồng bộ cho các nước đồng minh, nguồn nhân lực của Liên Xô đã có thể tập trung lại, cộng thêm sự ủng hộ của số lượng đồng minh nhiều hơn hẳn trong lịch sử, cùng với sự hỗ trợ về kinh tế và nhân lực từ các đồng minh này, đã mang lại nguồn tiếp viện hùng hậu cho Liên Xô. Năm ngoái, kinh tế Liên Xô lại tăng trưởng mười phần trăm.

Nếu cứ duy trì tốc độ tăng trưởng này, thì lời Khrushchev nói rằng Mỹ sẽ không bao giờ đuổi kịp Liên Xô quả không phải lời sáo rỗng. Ngành công nghiệp quân sự của Liên Xô còn tăng trưởng nhanh hơn thế. Bởi vì chiến tranh diễn ra nhiều, Liên Xô càng cung cấp nhiều vũ khí cho các nước đồng minh. Đồng thời, nhờ kinh tế hùng mạnh, nhu cầu tăng cường quân bị cũng cao. Ngay cả số lượng tuần dương hạm chiến lược lớp Kirov dự kiến đóng cũng tăng thêm vài chiếc, lên đến tám chiếc, nhằm phối hợp sử dụng cùng tàu sân bay của Liên Xô.

Lần này, sau một năm dưỡng sức, phía Bắc Việt đã mở cuộc tấn công. Rõ ràng, trong giai đoạn đầu, họ đã chiếm ưu thế rất lớn. Ngay cả khi Nam Việt nhờ không quân Mỹ vận chuyển quân tiếp viện, vẫn không thể đẩy lùi quân Bắc Việt quanh Xuân Lộc.

Dưới sự tấn công toàn diện của quân Bắc Việt ở tuyến phía Nam, quân đội Nam Việt dần không thể chống đỡ nổi. Quan trọng hơn, do các cuộc tấn công liên tục, quân đội Nam Việt, vốn luôn được Mỹ bổ sung vật tư quân sự, lần đầu tiên cảm thấy thiếu đạn dược. Thật nực cười, tốc độ bổ sung của một cường quốc số một thế giới như Mỹ mà lại để quân đội lâm vào tình cảnh thiếu đạn dược, nói ra thì không ai tin, nhưng đó lại là sự thật.

Hiện tại, số người tử trận của Nam Việt đã lên tới tám nghìn, cộng thêm người bị thương, có thể nói lực lượng vũ trang Xuân Lộc đã mất một nửa quân số. Cần biết rằng, ngay cả trong chiến tranh hiện đại, một khi thương vong trong chiến đấu vượt quá ba mươi phần trăm đã là cực kỳ nguy hiểm, huống hồ là tổn thất một nửa thực lực.

Cuối cùng, quân đội Bắc Việt vẫn là bên nổ súng trước. Ngoài việc tiếp tục tấn công trực diện, Bắc Việt còn cử quân đi vòng từ hai bên sườn, rất rõ ràng là họ đang chuẩn bị phát động một đợt tấn công mới. Phía sau lưng quân đội Nam Việt, cách Sài Gòn vài cây số, đây là con đường thuận tiện nhất để tiến vào Sài Gòn. Nếu Nam Việt chỉ cần giữ vững được điểm này, họ có thể bảo vệ được chốt chặn giải vây. Ngược lại, các quân nhân Nam Việt đang phòng thủ trong thành sẽ gặp nguy hiểm.

"Đến gần thêm chút nữa, gần thêm chút nữa..." Khẩu súng phóng lựu chống tăng trên tay gần như muốn xoắn lại. Với tâm trạng vừa căng thẳng vừa kích động, người lính không ngừng lẩm nhẩm cầu nguyện. Một, hai, ba... Khi đếm đến ba trong lòng, người lính trẻ tuổi lập tức nhảy ra từ bên phải chiếc xe tăng, đồng thời ghìm chặt tay bóp cò súng. Kh��u súng phóng lựu chống tăng trên tay anh ta mang theo luồng lửa đuôi nóng bỏng lao thẳng vào giáp của chiếc xe tăng. Đồng thời, người lính này lập tức vứt bỏ ống phóng rỗng, biến mất khỏi tầm mắt mọi người. "Ầm ầm...", tiếng nổ cực lớn vang lên, chiếc xe tăng lập tức bốc cháy dữ dội.

Chiếc xe tăng bốc lên từng cột lửa. Động cơ của nó bỗng im bặt, như thể bị bóp nghẹt. Trông kìa, ngọn lửa như một khối cao su nóng chảy bám chặt lên tấm giáp thép, vừa giống như một sợi dây thừng làm bằng lửa, xiết chặt vây lấy chiếc xe tăng, nuốt chửng toàn bộ nó. Vài giây sau, cánh cửa khoang vốn được đậy kín bật mở cái "loảng xoảng", trước tiên, một luồng khói đặc kèm lửa bốc ra, sau đó mấy người lính nhảy vội ra ngoài. Họ kêu la thảm thiết, điên cuồng vẫy vẩy cánh tay đã bốc cháy. Có người lăn lộn trên mặt đất, cố dập tắt bộ quần áo đang bốc cháy, như thể chiếc xe tăng đã nuốt chửng họ vào biển lửa. Một làn khói bụi đen kịt từ từ bao trùm. Sau đó là một sự im lặng chết chóc. Tiếng pháo của cả hai bên trên chiến trường cũng im bặt.

"Đơn vị pháo binh chuẩn bị, tiến hành oanh kích phủ đầu!" Sau khi gặp phải sự chống cự, pháo binh Bắc Việt bắt đầu phát huy uy lực, trút xuống vô số đạn pháo lên trận địa phòng thủ của quân đội Nam Việt.

Đây chỉ là một khúc dạo đầu trên chiến trường, nhưng phần lớn thời gian là xe tăng Bắc Việt ào ạt xông lên. Cộng thêm việc phần lớn vùng nông thôn Nam Việt đã sớm bị kiểm soát, đơn vị quân đội chịu trách nhiệm trấn giữ tuyến đường bộ phía nam Xuân Lộc, thực chất chỉ là một cánh quân đơn độc, bị cô lập trong trận địa này. Khi chiến đấu kéo dài, những lùm cây bụi lân cận đã sớm bị cày nát, khiến họ phơi bày trước mắt quân Bắc Việt, tình thế sẽ ngày càng nguy hiểm.

Ngoài trận địa, những khẩu hiệu thống nhất đất nước liên tục vang lên cũng khiến họ hoang mang lo lắng. Binh lính Nam Việt cũng chủ yếu là dân thành thị, nhưng đất đai cũng vô cùng quan trọng đối với họ. Cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc cũng đã thu hút rất nhiều người dân thường.

Hai ngày sau, quân đội Nam Việt tại tuyến đ��ờng bộ phía nam Xuân Lộc đã giương cờ trắng đầu hàng, Xuân Lộc hoàn toàn bị bao vây. Không có một chiến dịch tiếp vận nào có thể hoàn toàn dựa vào không quân. Người duy nhất dám tuyên bố điều này trước đây là Göring của Đế chế thứ Ba. Thống chế Paulus, người đã ngã xuống ở Đông Đức, chắc chắn sẽ không đồng ý quan điểm này.

Trong tình huống này, Nguyễn Văn Thiệu hạ lệnh bỏ Xuân Lộc, rút quân, tập trung quân chủ lực vào Sài Gòn, dốc sức bảo vệ thủ đô của chính quyền Nam Việt. Ông ta yêu cầu không quân Mỹ hỗ trợ rút quân Nam Việt ở Xuân Lộc, nhưng lại bị Mỹ từ chối. Bởi vì Xuân Lộc không còn sân bay an toàn để hạ cánh, phi công Mỹ không thể mạo hiểm hỏa lực pháo binh để thực hiện việc rút lui. Số phận của quân đội Nam Việt ở Xuân Lộc đã được định đoạt.

Chiến dịch Xuân Lộc vừa kết thúc, sau mấy ngày dưỡng sức, Bắc Việt lại tiếp tục tác chiến, triển khai chiến dịch tấn công chiến lược. Ý đồ của họ là tiêu diệt địch ở Tây Nguyên thuộc miền Trung Nam Việt, cắt đứt liên lạc giữa các tỉnh miền Bắc Nam Việt, khu vực Sài Gòn và các tỉnh phía Nam. Kế hoạch của Quân Việt Nam là trước tiên cắt đứt các Quốc lộ 19, 14 và Quốc lộ 1; sau đó dùng chủ lực tiêu diệt địch ở Buôn Ma Thuột, Đức Lập, Đạt Lỏng; cuối cùng vây diệt địch ở khu vực Pleiku - Kon Tum và chiếm lĩnh Tây Nguyên, mở màn Chiến dịch Tây Nguyên.

Đồng thời, một cánh quân Bắc Việt khác dưới sự chỉ huy của Văn Tiến Dũng, đã mở màn Chiến dịch Thừa Thiên - Huế – Đà Nẵng. Sau khi chiến dịch bắt đầu, Quân Việt Nam trước tiên cắt đứt Quốc lộ 1, phong tỏa các cửa biển Thuận An, Tư Hiền; đánh tan hai sư đoàn quân Sài Gòn, tạo thế bao vây đối với Thừa Thiên - Huế. Quân Việt Nam đánh chiếm Phú Lộc, cắt đứt đường rút lui của quân phòng thủ Thừa Thiên - Huế về Đà Nẵng.

"Xem ra Chiến tranh Việt Nam có thể kết thúc sớm hơn một năm so với trong lịch sử. Vậy thì, khi tranh thủ được thời gian, liệu có thể giúp đỡ Thái Lan không? Dù sao thì chúng ta có nhiều thời gian hơn mà." Serov cầm tập tình báo, trầm ngâm nói.

Chính Việt Nam mới là quốc gia có ảnh hưởng đến Lào và Campuchia, đồng thời cũng là đối trọng của Thái Lan. Do yếu tố địa lý, Indonesia là một quốc đảo nên có phần khó phát huy hết vai trò. Vai trò lớn nhất của Indonesia là kiềm chế Malaysia và Australia, buộc hai quốc gia này phải phát triển quân lực, tăng cường trang bị quân sự.

"Chủ tịch, chúng tôi vừa nhận được một tin tức không hề tầm thường, nhưng chưa thể xác minh." Tổng cục trưởng Tổng cục Thứ nhất Maurikin lúc này bước vào, tay cầm một bức điện báo, nói.

Nội dung này là tài sản trí tuệ độc quyền của truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free