(Đã dịch) Để Ngươi Mua Ve Chai, Ngươi Thu Được Ngọc Tỉ Truyền Quốc? - Chương 465: Lý Định Quốc
Ái Tân Giác La... cái họ này chắc chắn không hề tầm thường! Người mang họ này đều là thành viên hoàng tộc!
Nói nhảm! Có cần cậu nói đâu, tôi xem phim cũng biết rồi!
Hơn nữa lại là dòng họ Ái Tân Giác La từ cuối thời Minh? Chắc chắn phải là tổ tiên của Khang Hi, Càn Long rồi!
Thân phận này cao quý lắm!
Đây không phải kho báu của Trương Hiến Trung sao? Liên quan gì đến Ái Tân Giác La chứ?
Tôi nhớ Ái Tân Giác La Ni Kham hình như chết sau Trương Hiến Trung mà? Dòng thời gian có vấn đề rồi!
Lẽ nào kho báu này do Ni Kham chôn cất?
Lạc Phong cũng trầm tư đôi chút, đúng là Ni Kham là một trong những cháu trai của Nỗ Nhĩ Cáp Xích.
"Tôi nghĩ, có lẽ là chôn cùng!"
Lạc Phong vừa vuốt cằm vừa nói:
"Hoặc cũng có thể là vật tế!"
"Nơi này hoàn toàn có thể là mộ y phục dùng để tế bái."
"Còn về việc ai đã làm điều này..."
Nói đến đây, Lạc Phong bật cười ha hả:
"Ắt hẳn là Lý Định Quốc!"
Để có thể nghĩ ra những điều đó, chủ yếu là bởi thân phận của Lý Định Quốc khá đặc biệt.
Lý Định Quốc xuất thân bần hàn, sinh ra trong một gia đình nông dân. Năm lên 10 tuổi, ông tham gia cuộc khởi nghĩa của Trương Hiến Trung, rất được Trương Hiến Trung yêu mến.
Năm 1637, Lý Định Quốc lên 17 tuổi, mình cao 8 thước, võ nghệ cao cường, xử sự khiêm cung lễ phép, mọi người gọi ông là "Tiểu Sài Vương", trong quân gọi là "Tiểu Uất Trì". Lý Định Quốc theo Trương Hiến Trung chuyển đến đánh các vùng Tần (Thiểm Tây), Tấn (Sơn Tây), Dự (Hà Nam), Sở (Hồ Bắc), giết địch phá trận nổi tiếng dũng mãnh, lại thích đọc các sách "Tôn Tử binh pháp", "Tư trị thông giám",… Khi ấy ông chỉ huy 2 vạn binh sĩ, trong quân có tiếng là rộng rãi nhân từ, công phá thành trì thường không giết chóc, gặp trăm họ hay kẻ sĩ đều có biện pháp để bảo toàn, theo Trương Hiến Trung tập kích An Khánh, thẳng tiến Nam Kinh.
Năm 1643, Lý Định Quốc theo Trương Hiến Trung phá Vũ Xương, chiếm Trường Sa, được ban họ Trương. Ông cùng Tôn Khả Vọng, Lưu Văn Tú, Ngải Năng Kỳ đều được nhận làm con nuôi của Trương Hiến Trung, gọi là "bốn tướng quân".
Năm 1644, ông theo Trương Hiến Trung phá Thành Đô. Ngày 16 tháng 11 năm ấy, tại Thành Đô, Trương Hiến Trung xưng đế, quốc hiệu là Đại Tây, đổi niên hiệu là Đại Thuận năm đầu, phong 4 người con nuôi làm vương, Tôn Khả Vọng làm Bình Đông Vương, Lý Định Quốc làm An Tây Vương, Lưu Văn Tú làm Phủ Nam Vương, Ngải Năng Kỳ làm Định Bắc Vương. Về mặt quân sự, Tôn Khả Vọng được phong làm Bình Đông tướng quân, coi 19 doanh; Lý Đ���nh Quốc làm An Tây tướng quân, coi 16 doanh; Lưu Văn Tú làm Phủ Nam tướng quân, coi 15 doanh; Ngải Năng Kỳ làm Định Bắc tướng quân, coi 12 doanh.
Năm 1646, quân Thanh vào Xuyên, Trương Hiến Trung chết trận. Sau khi Tứ Xuyên thất thủ, Lý Định Quốc cùng Tôn Khả Vọng đưa quân Đại Tây chạy về Quý Châu.
Năm 1647, các tỉnh Điền (Vân Nam), Kiềm (Quý Châu) vẫn thuộc về nhà Nam Minh, quân Nam Minh lập tức đón đánh quân Đại Tây. Tháng giêng, sau khi đến Tuân Nghĩa và nghỉ ngơi ít ngày, quân Đại Tây lập tức vượt sông Kì, đánh phá Quý Dương. Tháng 2, họ chiếm được Định Phiên.
Quân Đại Tây tiến vào Vân Nam, kiến lập chính quyền, địa vị của 4 người Tôn, Lý, Lưu, Ngải là tương đương. Khi ấy, Lý Định Quốc vì tính khí quật cường, gặp chuyện thường xảy ra tranh chấp. Năm 1648, Tôn Khả Vọng mượn việc cũ, trói Lý Định Quốc ở Diễn võ trường mà đánh đòn, sau đó lại ôm nhau mà khóc. Tôn lệnh cho Lý thảo phạt Sa Định Châu để chuộc tội.
Khi ấy có thổ ti Sa Định Châu nổi dậy, chiếm Côn Minh, phá tan phủ đệ của Kiềm quốc công Mộc Thiên Ba, truy nã Mộc Thiên Ba. Lý Định Quốc trong lòng vừa buồn vừa giận, nhưng vẫn nén lòng vì muốn giữ vững đoàn kết nội bộ quân Đại Tây. Vào tháng 3, ông tiến quân hạ được Côn Minh. Tháng 4, liên tiếp phá Trình Cống, Khúc Tĩnh, Tấn Ninh, Sư Tông, Thông Hải, Mông Tự, đổi châu A Mê thành "Khai Viễn". Lý Định Quốc đã lần lượt bắt giết các thủ lĩnh nổi dậy Nại Cách Long, Sa Định Châu… Cuối năm, quân của ông đến Lâm An, bình định xong Vân Nam. Lúc này, Lý Định Quốc có hơn 5 vạn quân, là lực lượng mạnh nhất của nghĩa quân.
Sau trận Ma Bàn, Vĩnh Lịch bị bức chạy sang Miến Điện, mất liên lạc với Lý Định Quốc. Hoàn cảnh ngày một gian nan, muốn đón Vĩnh Lịch trở về, giương cao ngọn cờ, đoàn kết các lực lượng kháng Thanh, Lý Định Quốc đã tích cực cho người trốn đến Miến Điện liên lạc với Vĩnh Lịch, tự mình đưa quân đến Miến Điện để đón rước.
Nhưng Vĩnh Lịch chỉ muốn cầu an, cam tâm ở lại Miến Điện. Khi quân Minh và Miến Điện xảy ra xung đột, Vĩnh Lịch hạ chiếu cho Lý Định Quốc rút quân trở về. Định Quốc xem chiếu mà đau xót, than rằng: "Đại Minh hết rồi!" Bộ tướng thừa cơ trách Vĩnh Lịch bất nghĩa, khuyên ông đầu hàng nhà Thanh, Định Quốc cự tuyệt.
Lý Định Quốc không rút quân mà vẫn quanh co ở biên giới Miến Điện. Ngày 1 tháng 12 năm 1661, quân Thanh tiến sát biên giới Trung – Miến, người Miến đem cha con Vĩnh Lịch Chu Do Lang giao nộp cho nhà Thanh. Ngô Tam Quế sai người thắt cổ Chu Do Lang trong một tòa miếu nhỏ tại Côn Minh.
Lý Định Quốc nghe tin thì lăn ra mà khóc. Khi ấy, quân đội của ông đóng ở nơi hẻo lánh, lương thực thuốc men thiếu thốn, bệnh tật mà chết quá nửa. Định Quốc vì lao lực mà phát bệnh. Ngày 21 tháng 7 năm 1662, thời Khang Hi, ông mất, hưởng thọ 43 tuổi.
Đây chính là cuộc đời của Lý Định Quốc.
Nói tóm lại, Lý Định Quốc chính là người đã giết Ái Tân Giác La Ni Kham. Hơn nữa, Lý Định Quốc lại là con nuôi của Trương Hiến Trung, vậy nên việc đầu lâu của Ni Kham xuất hiện ở đây để tế bái là hoàn toàn hợp lý.
"Thế nên, hiện tại xem ra, là Lý Định Quốc đã dùng đầu của người này để tế tự Trương Hiến Trung!"
Lạc Phong nói xong, liền đặt tấm bảng gỗ trở lại vào hộp.
Mặc dù nơi này không phải phần mộ của Trương Hiến Trung, nhưng Lý Định Quốc chắc chắn đã coi đây là mộ y phục của ông ta.
Không để ý quá nhiều như thế nữa, Lạc Phong lại mở một chiếc rương khác.
Mở rương ra, bên trong là một vật hình ống dài được bọc kín bằng vải. Mắt Lạc Phong sáng rực.
Lẽ nào lại là tranh chữ?
Nhưng mà chôn cất cùng đầu lâu ư? Chắc không phải tranh chữ đâu nhỉ?
Nghĩ đến đây, Lạc Phong vẫn thoáng thất vọng. Nhưng nếu đã được dùng để tế bái, vậy vật này chắc hẳn có ý nghĩa đặc biệt.
"Vật này là thứ gì vậy?"
Sau khi mở lớp vải bọc ra, thứ bên trong khiến Lạc Phong cũng không hiểu. Đó chỉ là một tấm vải thôi sao?
Mang theo nghi hoặc, Lạc Phong trải rộng tấm vải này ra. Anh phát hiện, đó là một tấm vải màu trắng, dài 2 mét, chỗ rộng nhất là một mét rưỡi, có hình tam giác với mép vải lượn sóng. Chính giữa tấm vải lại thêu hình một con hùng ưng!
"Cái này... chắc hẳn là một lá cờ!"
Bởi vì không có bất kỳ chữ ký của danh gia nào. Cũng chẳng có vật gì khác, chỉ duy nhất một con hùng ưng. Vậy thì đây chắc chắn là một lá cờ, không phải tranh chữ hay vải lụa.
"Đây là quốc kỳ Đại Minh triều sao?"
"Triều Minh làm gì có quốc kỳ?"
"Mà cờ lại lấy màu trắng làm nền? Đây là phong tục của vùng nào vậy?"
Lạc Phong lắc đầu:
"Chắc chắn không phải quốc kỳ, mà là tinh kỳ!"
"Hơn nữa, cũng không giống tinh kỳ của triều Minh!"
Lạc Phong biết rõ, vào thời kỳ nhà Minh, căn bản không có quốc kỳ. Tinh kỳ thì ngược lại có, đó chính là loại cờ hiệu được dùng khi ra trận, như câu thơ có nói: "Xuân thu vô nghĩa chiến, chư hầu lại giao binh, Trung Nguyên thà bằng ngày, tinh kỳ quyển trời cao"...
Về phần quốc kỳ, nó chỉ xuất hiện lần đầu tiên vào thời nhà Thanh, dưới triều vua Quang Tự, được gọi là Hoàng Long Kỳ, với hình một con rồng được vẽ trên nền lụa vàng!
"Lẽ nào đây là cờ Bát Kỳ của Mãn Thanh?" Tô Mỹ Cơ cất tiếng hỏi.
Lạc Phong không trả lời ngay mà nói:
"Lúc ban đầu, Bát Kỳ của Mãn Thanh chỉ có bốn cờ, với bốn màu sắc thuần túy là vàng, trắng, lam, đỏ!"
"Nỗ Nhĩ Cáp Xích cai quản Hoàng Kỳ, còn trưởng tử Ái Tân Giác La Chư Anh thì phụ trách cờ trắng. Ái Tân Giác La Ni Kham là con của Chư Anh, tự nhiên cũng thuộc về cờ trắng!"
"Lá cờ trắng trước mắt này, hẳn là chiến lợi phẩm mà Lý Định Quốc thu được sau khi tiêu diệt Ni Kham!"
Tất cả quyền chuyển ngữ và biên tập cho nội dung này thuộc về truyen.free.