(Đã dịch) Đế Quốc Babylon - Chương 1165: Thế giới thế cuộc biến hóa lớn
Vài năm trước, trong thời kỳ Tổng thống Clinton cầm quyền, nước Mỹ vẫn còn tràn ngập cảnh tượng vui vẻ, phồn thịnh. Thế nhưng, kể từ khi Bush lên nắm quyền, tình hình nước Mỹ đã thay đổi đến mức khiến họ không thể tin rằng đây là vị tổng thống đáng tin cậy mà họ đã bầu chọn, người đã hoàn toàn đẩy nước Mỹ vào cảnh địa ngục.
Bush khó bề biện minh, bởi dưới cái bóng hào quang của Clinton, ông ta đã trở thành một kẻ thất bại hoàn toàn.
Ngoại trưởng Mỹ đích thân đến châu Âu để thuyết phục, nhưng thái độ của các nước châu Âu lại vô cùng kiên định: Mỹ nhất định phải từng bước rút quân khỏi châu Âu.
Mặc dù tạm thời vẫn có thể duy trì tình hình hiện tại, nhưng kế hoạch rút quân của Mỹ chắc chắn phải được vạch ra, bởi việc phòng thủ châu Âu sẽ chủ yếu do chính người châu Âu đảm nhiệm.
Tại Mỹ, quá trình luận tội Bush cũng đã bắt đầu. Ông ta đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng, khiến nền kinh tế Mỹ hoàn toàn rơi xuống vực sâu. Đảng Dân chủ đã viện dẫn sự phát triển kinh tế và quốc khố dồi dào dưới thời Clinton ra so sánh với hiện tại, khiến người ta chỉ muốn Bush tìm cục đậu phụ mà đâm đầu vào cho chết quách đi thôi.
Sự kiện lần này đã dẫn đến suy thoái kinh tế nghiêm trọng tại Mỹ, đồng thời hình thành một cục diện thế giới mới. Sự suy thoái của Mỹ, cùng với sự phục hưng của châu Âu và sự quật khởi của Trung Đông, đã tạo nên một sự tương phản rõ rệt.
Hai tháng sau, Bush đã ảm đạm rời khỏi vũ đài chính trị giữa làn sóng chỉ trích từ khắp cả nước, trở thành một trong số ít tổng thống bị luận tội trong lịch sử Mỹ. Phó tổng thống lên nắm quyền, nhưng vẫn phải đối mặt với tình thế trong và ngoài nước vô cùng nan giải.
Lúc này, các thế lực ly khai trong nước Thổ Nhĩ Kỳ đã ngày càng trở nên nghiêm trọng. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã sử dụng máy bay và pháo hạng nặng để trấn áp người Kurd sắp ly khai. Vào lúc này, người Ả Rập tuyên bố khu vực phía đông Thổ Nhĩ Kỳ là vùng cấm bay, cấm tất cả các loại máy bay chiến đấu hoạt động trên không phận đó. Thổ Nhĩ Kỳ vô cùng phẫn nộ trước quyết định này, nhưng đối mặt với những người Ả Rập mà ngay cả Mỹ cũng không thể đánh bại, Thổ Nhĩ Kỳ đành phải nuốt trái đắng, không dám khiêu chiến Iraq.
Nguyện vọng bấy lâu nay của người Kurd cuối cùng đã thành hiện thực. Họ đã thành công thành lập quốc gia riêng của mình, Kurdistan, và quốc gia này ngay lập tức được thế giới Ả Rập công nhận.
Tuy nhiên, phần lớn những người Kurd độc lập đều thuộc địa phận Thổ Nhĩ Kỳ trước đây. Còn những người Kurd vốn đang sống ở địa phận Iran và Iraq thì phần lớn chọn ở lại, bởi lẽ mức sống của họ lúc này đã rất cao, và họ không muốn đến một quốc gia vẫn còn chủ yếu dựa vào nghề chăn nuôi.
Việc Kurdistan được thành lập khiến họ vô cùng cảm kích Iraq, bởi nếu không có sự ủng hộ hết mình của Iraq, việc người Kurd giành độc lập gần như là điều không thể.
Vì vậy, khi Iraq đề nghị thuê lại các căn cứ không quân cũ của Mỹ, họ đã lập tức đồng ý.
Như vậy, toàn bộ khu vực phía đông Địa Trung Hải đã nằm trong tầm kiểm soát của Iraq. Từ căn cứ ở phía bắc Kurdistan cho đến căn cứ không quân ở phía nam Libya, bất kỳ chiến hạm nào trên mặt biển cũng sẽ nằm trong tầm tấn công của các máy bay tiêm kích do Iraq bố trí tại đây.
Mỹ bắt đầu đàm phán với thế giới Ả Rập. Những vạn quân nhân Mỹ bị bắt làm tù binh lúc này vẫn an toàn trong các trại tù binh của Iraq. Chưa kể những thứ khác, chỉ riêng việc cung cấp lương thực cho họ mỗi ngày cũng đã là một khoản chi phí đáng kể.
Ban đầu, Mỹ nghĩ rằng Iraq sẽ đưa ra các yêu cầu bồi thường, thoái thác trách nhiệm chiến tranh. Nhưng họ không ngờ rằng, phía Iraq lại đưa ra yêu cầu vô cùng thấp. Ngoài yêu cầu Mỹ dỡ bỏ lệnh phong tỏa tài sản của các quốc gia Ả Rập, thì chính là Mỹ cần thanh toán chi phí ăn uống của những quân nhân Mỹ này trong vài tháng qua mà thôi.
Yêu cầu này khiến Powell, người đến đàm phán, gần như rơi lệ. Họ đã chuẩn bị tinh thần cho việc Iraq sẽ đưa ra khoản bồi thường chiến tranh lên đến vài trăm triệu đô la, và dù nền kinh tế đang suy thoái, họ vẫn phải chấp nhận. Điều này là bởi thân nhân của các tù binh đã nhiều lần biểu tình, tuần hành khắp nước để phản đối sự thờ ơ của chính phủ.
Tarik, đại diện đàm phán của Iraq, trong buổi họp báo đã phát biểu một đoạn khiến vô số người cảm động, nhưng cũng khiến vô số người khác chỉ trích người Iraq vô sỉ.
"Trong lịch sử loài người có ghi chép, tổng thời gian không có chiến tranh cộng lại chưa đến một trăm năm. Hòa bình từ trước đến nay vẫn luôn là một thứ xa xỉ. Chúng tôi, những người Ả Rập, cũng cảm nhận sâu sắc điều này. Trong chưa đầy một trăm năm kể từ khi Iraq thoát khỏi ách thống trị thực dân, chúng tôi gần như luôn phải trải qua trong chiến tranh và hỗn loạn. Vì thế, chúng tôi càng thêm trân quý hòa bình. Cuộc xung đột quân sự quy mô lớn bùng nổ giữa chúng tôi và Mỹ không phải là ý muốn của chúng tôi. Chúng tôi không e ngại bất kỳ cuộc chiến tranh nào, và từ trước đến nay cũng không hề e ngại mối đe dọa hạt nhân. Thế nhưng, chúng tôi vẫn luôn khẩn cầu hòa bình. Vì vậy, vì hòa bình, chúng tôi nguyện ý phóng thích những chiến sĩ xa quê hương này trở về đất nước của họ. Hơn nữa, chúng tôi cũng hoan nghênh họ đến đây du lịch bất cứ lúc nào. Chiến tranh luôn là trò chơi của các chính trị gia. Đối với những người dân thường, điều họ mong muốn là được ở trong chính ngôi nhà của mình, uống một tách cà phê nóng, bầu bạn với người thân và sống một cuộc đời bình an, ổn định."
Hiệp định hòa bình đã được ký kết. Dù nhìn từ khía cạnh nào, Mỹ cũng đã là một kẻ thất bại hoàn toàn. Vào phút cuối cùng, Powell vẫn cảm thấy vô cùng khó chịu, bởi vì khi thanh toán tiền ăn cho tù binh theo yêu cầu của Iraq, Iraq đã từ chối việc Mỹ sử dụng đồng đô la để chi trả.
Trong vòng vài tháng đó, đồng đô la đã mất giá bốn mươi phần trăm. Các quốc gia dự trữ ngoại hối cũng bắt đầu giảm mạnh lượng đô la, thay vào đó tăng cường dự trữ Euro và A-nguyên. Iraq, với kho bạc đã chẳng còn mấy đồng đô la, làm sao có thể chấp nhận thu thêm đô la nữa?
Bất đắc dĩ, Powell đã đồng ý sử dụng vàng dự trữ của Mỹ để thanh toán.
Ngoài số tù binh này, còn lại là trang bị của Mỹ. Trong trận hải chiến, Iraq đã thu được vài chiến hạm, bao gồm tàu sân bay hạt nhân USS Washington và tàu tuần dương Aegis, và còn vớt được một chiếc máy bay ném bom B-52 của Mỹ. Tất cả những thứ này, cho đến bây giờ, vẫn được xem là tài sản của Mỹ. Hơn nữa, chiếc tàu sân bay hạt nhân kia đã được Iraq tiến hành sửa chữa, các bộ phận hư hại đã được khôi phục.
Tù binh có thể được Iraq trả về gần như miễn phí, nhưng với những trang bị này, Iraq đ��ơng nhiên không thể mất trắng. Đặc biệt là khi Iraq đã giúp Mỹ sửa chữa những chiến hạm này, Mỹ ít nhiều cũng phải bỏ ra một khoản tiền.
Qusay chỉ thị giá là năm trăm triệu A-nguyên mà thôi. Tarik, vì chưa hiểu rõ tính khí của Qusay, đã buột miệng nói ra mức giá này trong lúc đàm phán, và thế là nó đã biến thành một tỷ năm trăm triệu A-nguyên.
Đến lúc đó, người Mỹ trả giá lại vẫn có thể thể hiện sự rộng lượng của họ.
Thế nhưng, cuối cùng điều không ai ngờ tới là phía Mỹ lại không đồng ý. Họ đưa ra một đề xuất mà Tarik tuyệt đối không ngờ tới: Iraq dứt khoát bỏ ra một tỷ năm trăm triệu đô la, và người Mỹ sẽ coi như bán toàn bộ số chiến hạm này cho Iraq.
Người Mỹ không ngờ lại không muốn những chiến hạm này.
Không phải người Mỹ không muốn chúng, mà là bởi vì hiện tại Mỹ đã không thể duy trì khoản quân phí khổng lồ như vậy nữa. Đối mặt với các vấn đề trong nước, họ chỉ có thể cắt giảm mọi khoản chi tiêu. Nhiều dự án nghiên cứu và phát triển trong nước đều bị cắt giảm triệt để, ngay cả chiến đấu cơ F-22 sắp đưa vào phục vụ cũng không thể nhận được đủ kinh phí.
Trong lòng nước Mỹ, một làn sóng di dân đã bắt đầu nổi lên. Trước đây, mọi người thường di dân đến Mỹ, nhưng giờ đây, lại là từ Mỹ di dân đến châu Âu, thậm chí có cả di dân đến Trung Đông, dù số lượng này còn ít.
Trong tình huống này, việc người Mỹ mang mấy chiến hạm này về với chi phí cao chi bằng trực tiếp bán cho Iraq. Mỹ đã quyết định duy trì quy mô năm cụm tác chiến tàu sân bay, và cắt giảm một nửa binh lực.
Iraq đương nhiên sẽ không bỏ ra một tỷ năm trăm triệu đô la. Những chiến hạm này đều do Iraq tịch thu, vậy Iraq dựa vào đâu mà phải bỏ tiền ra mua? Sau những cuộc đàm phán khó khăn giữa hai bên, Iraq cuối cùng đã bỏ ra năm mươi triệu đô la để nhận toàn bộ số chiến hạm này. Và năm mươi triệu đô la này chủ yếu dùng để đổi lấy công nghệ tháo dỡ và xử lý lò phản ứng hạt nhân từ phía Mỹ.
Mỹ biết rằng những chiến hạm này đã bị Iraq nghiên cứu kỹ lưỡng trong vài tháng qua, nên toàn bộ bí mật bên trong đã không còn là bí mật nữa.
Còn đối với Iraq, trên những chiến hạm này thực sự có rất nhiều thứ mà họ đặc biệt quan tâm. Họ đã nắm rõ kết cấu chủ yếu của tàu sân bay lớp Nimitz, điều này sẽ đóng vai trò rất quan trọng khi họ thiết kế thế hệ tàu sân bay tiếp theo của mình.
Ngoài vấn đề với người Mỹ, một vấn đề khác chính là những người Do Thái kia.
Iraq đã phái quân đội kiểm soát toàn bộ các khu định cư của người Do Thái. Và giống như mục đích ban đầu, Iraq có thể tấn công quân đội Israel, có thể tấn công các lãnh đạo chính phủ Israel, nhưng đối với dân thường Do Thái, Iraq tuyệt đối không thể có hành vi tàn sát.
Bởi vì mối thù hằn tích tụ nhiều năm, ngay cả khi người Iraq không ra tay, cũng e rằng một số tổ chức cực đoan sẽ hành động. Hơn nữa, những hành vi này còn có thể bị kích động một cách khó lường. Vì vậy, Iraq đã chủ động kiểm soát toàn bộ người Do Thái, đồng thời cũng là để bảo vệ họ.
Toàn bộ đất đai nay đã thuộc về người Palestine. Iraq sẽ đóng quân tại Haifa và Tel Aviv, và hạm đội Địa Trung Hải của Iraq sẽ lấy Haifa làm cảng nhà.
Vấn đề làm thế nào để an trí những người Do Thái này cũng bắt đầu trở nên cấp bách.
Ngay lúc này, các thế lực Do Thái tại Mỹ cuối cùng đã bắt đầu hành động. Họ đã cử đại diện, hy vọng tiến hành đàm phán với chính phủ Iraq.
Những người theo chủ nghĩa Zion biết rằng giấc mơ của họ ��ã tan biến. Vì vậy, điều họ cần làm bây giờ là cứu đồng bào của mình ra khỏi đó. Iraq tuyệt đối sẽ không cho phép họ tiếp tục ở lại, và cho dù được phép, việc họ tiếp tục ở lại đó cũng đã không còn an toàn.
Vào thế kỷ mười tám, nơi này chỉ có vài trăm người Do Thái. Trước Thế chiến thứ hai, con số này là bốn mươi nghìn người, và sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc, nơi đây có sáu trăm nghìn người Do Thái. Và sau đó, thông qua việc di cư và sinh sản không ngừng, số lượng người Do Thái ở đây mới đạt đến quy mô sáu triệu người.
Vậy Iraq sẽ đối xử với những người Do Thái này ra sao?
Cả thế giới đang dõi theo nơi này, để xem Iraq sẽ xử lý như thế nào và phản ứng của họ ra sao.
Bản dịch này được thực hiện cẩn trọng và dành riêng cho độc giả của truyen.free.