(Đã dịch) Giám Bảo Cuồng Thiếu - Chương 615: Thiên tự quán
Chiếc ngọc thập tiết thuộc văn hóa Kim Sa của Trần Đại Sơn không phải là bảo vật truyền đời, mà đã được khai quật từ vài chục năm trước, trước cả khi di chỉ Kim Sa được phát hiện.
Dựa theo quy định của pháp luật về văn vật, cơ quan quản lý hoàn toàn có thể thu hồi món đồ này vô điều kiện.
Thế nhưng, xét đến hoàn cảnh của Trần Đại Sơn, Trương Diễm Hà quyết định ngầm giúp đỡ ông dưới hình thức quyên tặng.
Do tình huống đặc biệt của Trần Đại Sơn, Trương Diễm Hà đã gọi Viện trưởng bảo tàng Cẩm Thành, Mã Quốc Huy, đến.
Từ quỹ của Bảo tàng Cẩm Thành, ông Mã Quốc Huy đã ứng trước ba vạn tệ, đồng thời thuê một đội ngũ tang lễ chuyên nghiệp để lo hậu sự cho người bạn đời của Trần Đại Sơn.
Trần Đại Sơn cảm động đến rơi nước mắt, chủ động khai báo tung tích sáu món ngọc khí khác được đào lên năm đó, khiến Trương Diễm Hà vui mừng khôn xiết.
Nếu có thể thu hồi lại sáu món văn vật kia, đó sẽ là một công lớn!
Thế là, mọi việc đều vẹn toàn.
Việc của Trần Đại Sơn được giao toàn quyền cho Mã Quốc Huy xử lý.
Buổi chiều, đại hội giám định bảo vật bắt đầu đúng hẹn.
Nhờ có Lục Phi tham gia, tiến độ buổi chiều nhanh gấp đôi so với trước đây.
Trong một buổi chiều, Lục Phi đã giám định hơn một trăm bảy mươi món đồ vật, tuy không tìm thấy món nào đặc biệt quý giá, nhưng trình độ của cậu đã khiến mọi người kinh ngạc.
Sau buổi giám định nửa ngày ấy, tên tuổi Lục Phi trong giới đồng nghiệp ở Cẩm Thành đã trở thành một huyền thoại.
Buổi chiều tan làm, Trương Diễm Hà lại mượn danh Vương Chấn Bang, mặt dày mò đến nhà Lục Phi ăn cơm.
Ăn xong, mọi người giải tán, Lục Phi đến phòng Mã Đằng Vân, ôm về một chiếc hộp gấm.
Về phòng, cậu khóa chặt cửa, ngồi ngay ngắn trước bàn làm việc, hưng phấn mở hộp.
Bên trong chính là chiếc đấu thải ứng long văn thiên tự quán của Bill, được Mã Đằng Vân mua lại từ tay Bill với giá năm vạn đồng bạc ròng.
Chiếc thiên tự quán này có đường kính miệng sáu centimet, cao mười centimet, đường kính đáy khoảng tám centimet.
Quán có miệng thẳng, vai phình, đế tròn, nước men trắng bóng, óng ả và sáng trong.
Thân quán được trang trí hai họa tiết rồng, rồng được vẽ bằng men lam, với đôi cánh dang rộng, ngẩng đầu bước đi. Xung quanh là những đám mây lớn nhỏ bay lượn, tất cả đều được tô điểm bằng màu lục, viền bằng men lam.
Phần cổ và vai quán được viền bằng họa tiết lá tiêu đối xứng, với đường nét men lam và màu lục tô điểm, tạo sự hài hòa trên dưới.
Rồng vốn là vật phi phàm, năm trăm năm thành giao long có s���ng, ngàn năm mới hóa thành ứng long có cánh, được xem là loài rồng quý hiếm bậc nhất.
Phần thân quán được trang trí xen kẽ những dải mây tía màu lục, với hai con ứng long men lam bơi lượn giữa. Phần vai và chân bụng đều được vẽ một dải hoa văn cánh sen màu hồng. Men sứ trắng mịn, họa tiết sinh động, tươi đẹp và bắt mắt.
Chất men trắng tinh, tinh xảo, thân sứ mỏng nhẹ đến mức gần như trong suốt, tựa cánh ve.
Dưới ánh đèn, Lục Phi thậm chí có thể nhìn rõ ngón tay của mình ở bên trong quán.
Lớp men trắng mịn màng, óng ả, trong ngoài như một, hoàn hảo đến tột cùng.
Ngược lại, nhìn chữ hiệu dưới đáy, chữ “Thiên” viết bằng men lam vẫn rất chuẩn mực, ngay ngắn.
Lục Phi lấy ra một lọ thuốc nhỏ, nhỏ một giọt lên ngón cái, rồi dùng ngón cái nhẹ nhàng xoa lên chữ "Thiên". Một cảnh tượng không thể tin nổi đã xảy ra.
Nét bút cuối cùng đột nhiên xuất hiện thêm một nét móc nhỏ, biến chữ "Thiên" ban đầu thành chữ "Vô".
Cũng chính vào khoảnh khắc ấy, chiếc thiên tự quán hàng giả tinh xảo thời Dân Quốc đã trở thành một chiếc đấu thải ứng long văn thiên tự quán Thành Hóa chính hãng.
Đây không phải ma thuật, mà là một mánh khóe của Lục Phi.
Ngay khoảnh khắc Bill mang chiếc thiên tự quán ra, Lục Phi đã nhận định đây đích thị là đấu thải thiên tự quán Thành Hóa chính phẩm.
Trước khi chạm tay vào, ngón cái của Lục Phi đã được bôi thuốc.
Ngay khi tiếp nhận chiếc thiên tự quán từ tay Bill, Lục Phi đã nắm rõ vị trí chính xác của chữ “Thiên”.
Tay trái nắm miệng bình, tay phải đỡ đáy, đồng thời ngón cái đã hoàn thành công việc của mình.
Chất mà Lục Phi bôi lên ngón cái không phải nước phép gì cả, mà chính là chất phủ sửa chữa thường dùng nhất trong việc phục hồi đồ sứ.
Loại chất phủ này của Lục Phi không màu không mùi, sau khi bôi lên và hong khô, nó sẽ che phủ màu sắc vốn có, đơn giản là vậy.
Tuy nhiên, việc chỉ dựa vào trí nhớ và cảm giác để phủ chính xác lên nét bút móc đó mà không làm hỏng bất cứ chi tiết nào khác thì với tài nghệ thần sầu của Lục Phi lại dễ như ăn cháo, còn đối với người khác thì chỉ có thể đứng nhìn mà thôi.
Khi Trương Diễm Hà cầm chiếc thiên tự quán trên tay, Lục Phi đã cực kỳ căng thẳng, sợ ông già này làm hỏng chuyện tốt của mình.
May mắn thay, Trương Diễm Hà tuổi cao mắt mờ, lại không quan sát kỹ, nhờ vậy mà Lục Phi đã thoát hiểm.
Việc Lục Phi lừa gạt người nước ngoài như vậy nhìn qua có vẻ hơi thiếu đạo đức.
Nhưng điều đó cũng khó tránh khỏi, bởi Lục Phi có đủ lý do để làm chuyện này, chiếc thiên tự quán đó có sức hấp dẫn quá lớn đối với cậu.
Chiếc bình này có tên là Thành Hóa đấu thải ứng long văn thiên tự quán.
Trong đó, giá trị lớn nhất và điểm nhấn chính nằm ở hai từ "đấu thải" và "thiên tự quán".
Đầu tiên, nói về đấu thải.
"Đấu thải" là tên gọi xuất hiện từ thời Thanh, còn vào triều Minh thì được gọi là "Đậu thải".
Kỹ thuật này bắt đầu từ thời Tuyên Đức và đạt đến đỉnh cao vào niên hiệu Thành Hóa.
Kỹ thuật này đầu tiên dùng men lam vẽ đường viền, sau đó tô màu vào bên trong các đường viền đó.
Kỹ thuật phức tạp, tỷ lệ thành công không cao, nhưng nếu nung thành công thì chắc chắn mỗi món đều là tinh phẩm.
Thời kỳ đầu, ranh giới giữa ngũ thải và đấu thải không rõ ràng, rất nhiều đồ đấu thải đều bị gọi là ngũ thải.
Đến giữa thời Minh, đặc biệt là sau này vào thời Thanh, đặc điểm của kỹ thuật đấu thải đã trở nên rất rõ ràng, nhìn là biết ngay.
Đấu thải rất nổi tiếng, chủ yếu là do đấu thải Thành Hóa đã vang danh khắp bốn biển.
Ghi chép rõ ràng nhất là trong "Thần Tông thực lục": “Thần Tông dùng bữa, trước ngự có một đôi chén gà đấu thải Thành Hóa, trị giá mười vạn lượng bạc.”
Vào giữa và cuối thời Minh, một đôi chén đấu thải Thành Hóa đã trị giá mười vạn lượng bạc trắng, nghĩ thôi cũng đủ khiến người ta giật mình.
Nói xong đấu thải, giờ hãy nói về "thiên tự quán".
Trong số các vật phẩm đấu thải Thành Hóa, ngoài chén ra, nổi tiếng nhất chính là thiên tự quán.
Quán có chữ “Thiên” được viết ở đáy làm chữ hiệu, trong các sổ sách triều đình được ghi là "Thành diêu thiên tự quán" (thiên tự quán của lò Thành Hóa).
Thông thường, trong đồ sứ, lọ là đáng giá nhất, thuộc hạng nhất.
Xưa nay, người chơi đồ cổ thường nói: "Bát trứ" chính là bát đĩa.
Còn chén (quán) thì không quá cao cũng không quá thấp, được xem là "tồn trứ" (vật để chứa), nên địa vị không bằng lọ.
Nhưng thiên tự quán lại đặc biệt, địa vị tương đối cao, hễ có chữ hiệu "Thiên" thì chắc chắn là đồ sứ ngự dụng.
Vì sao chữ hiệu dưới đáy thiên tự quán lại viết chữ "Thiên"?
Có lẽ là dựa theo cách sắp xếp của "Thiên Tự Văn".
Khúc mở đầu của "Thiên Tự Văn" chính là "Thiên địa huyền hoàng, vũ trụ hồng hoang, nhật nguyệt doanh trắc, thần túc liệt trương".
Cho nên cụm từ "thiên tự số một" mà chúng ta thường nói cũng là bắt nguồn từ đây.
Trong các văn vật của Cố Cung, món được xếp vào "thiên tự số một" lại là một chiếc ghế đẩu nhỏ.
Nghe nói khi đánh số thứ tự, nhân viên công tác vừa vào cửa đã thấy chiếc ghế đẩu này, vì thế liền xếp nó là "thiên tự số một".
Thiên tự quán không phải đến ngày nay mới quý giá, mà ngay từ trong lịch sử đã đặc biệt được trân trọng.
Thời Càn Long có một ghi chép, vào ngày mười chín tháng sáu năm Càn Long thứ chín, từ phòng chế tác của Dưỡng Tâm Điện gửi đến một chiếc thiên tự quán lò Thành Hóa bị thiếu men.
Vua Càn Long hạ chỉ: "Giao một chiếc thiên tự quán bị thiếu men này cho Đường Anh bổ men. Nếu bổ được, bổ xong thì mang đến. Nếu không bổ được, không cần bổ, cứ mang chiếc cũ đến. Khâm thử."
Đường Anh sau khi nhận được ngự chỉ liền vô cùng căng thẳng, ông mang chiếc quán này về Cảnh Đức Trấn, suy nghĩ làm sao để bổ được lớp men đó.
Vài tháng sau, ông làm ra ba cặp mới, tính cả chiếc quán gốc, tất cả cùng mang về dâng lên hoàng thượng.
Ông viết bản tấu chương như sau: "Nô tài kính cẩn xem xét chiếc thiên tự quán được ban xuống, thuộc lò Thành Hóa, trải qua bao năm tháng, khí lửa đã phai nhạt. Nếu muốn bổ men vào chỗ khuyết, ắt phải cho vào lò nung lại. E rằng sức lửa trong lò sẽ quá mạnh, thực không phù hợp với chất liệu sứ cũ. Vì thế không dám mạo muội bổ men. Kính cẩn cho thợ lò lành nghề, phỏng theo kiểu dáng và kích thước của chiếc quán gốc, chế tạo ba cặp mới, kính dâng lên kinh thành. Đồng thời dâng kèm chiếc quán gốc, kính mong Hoàng thượng xem xét."
Đường Anh là nhân vật tầm cỡ nào chứ?
Đến cả ông ấy còn không dám bổ men, có thể tưởng tượng kỹ thuật này đỉnh cao đến mức nào, và món đồ đó quý giá ra sao.
Bản thảo này được truyen.free biên tập lại, nhằm mang đến trải nghiệm đọc tự nhiên và phong phú nhất.