(Đã dịch) Pháp Lan Tây Chi Hồ - Chương 78: Tuyên chiến (1)
Về vấn đề này, phe trung lập, vốn dĩ không có tổ chức chặt chẽ, cũng bắt đầu đoàn kết lại. Kỳ thực, người tập hợp phe trung lập không phải là những thành viên trung lập ban đầu, mà là Jacques Pierre Brissot de Warville, một nhân vật thuộc Câu lạc bộ Jacobin.
Ban đầu, Brissot mưu sinh bằng nghề viết văn và từng phục vụ Công tước Orléans. Khi Công tước Orléans sang Anh làm sứ giả, ông ta lại quay sang phò tá Lafayette một thời gian. Sau sự kiện Louis XVI bỏ trốn, Brissot bắt đầu chuyển hướng ủng hộ nền cộng hòa và đã có những tranh chấp trực tiếp với Lafayette ngay trong câu lạc bộ. Vì vậy, khi Câu lạc bộ Jacobin chia rẽ, ông ta đã đứng về phía Robespierre.
Trong cuộc bầu cử mới, với tư cách là đại diện của Paris, ông ta đã trở thành nghị sĩ Quốc hội. Tại đây, nhờ một mối quen biết, ông ta lại kết giao với Clavière.
Quốc hội là một nơi đặc biệt, tại đó, nghị sĩ nào càng thể hiện sự cấp tiến, càng dễ được chú ý và càng dễ trở thành nghị sĩ "có tiếng nói". Chính môi trường này đã khiến quan điểm chính trị của Brissot trở nên cấp tiến hơn ở cả hai khía cạnh.
Khía cạnh thứ nhất là việc đề cao nền cộng hòa. Trong Quốc hội, hầu hết những người trung lập không c��n tin tưởng nhà vua, nên việc tấn công nhà vua rất dễ nhận được sự hoan nghênh. Thế là Brissot đầu tiên đề xuất "Đạo luật người lưu vong", chĩa mũi nhọn vào các quý tộc lưu vong. Ông ta tố cáo rằng những quý tộc đó đã chủ mưu vụ "bắt cóc nhà vua", âm mưu gây nổi loạn, và là kẻ thù của nước Pháp. Sau đó, ông ta đề xuất trừng phạt những người này, ví dụ như buộc họ phải về nước chịu xét xử (đương nhiên, những quý tộc lưu vong đó nếu không điên thì chắc chắn không thể trở về), nếu họ từ chối về nước, tòa án có thể xét xử vắng mặt, kết tội họ và áp dụng các hình phạt khác nhau nhắm vào cá nhân họ (đương nhiên những bản án này không thể thi hành) và tài sản của họ (cái này lại rất dễ thi hành).
Brissot đã thuyết phục mọi người tin rằng, thông qua "Đạo luật người lưu vong", có thể phần nào xoa dịu hoặc thậm chí giải quyết vấn đề do việc phát hành quá mức chỉ khoán gây ra.
Chỉ khoán, ban đầu được phát hành với tài sản của Giáo hội làm vật thế chấp. Nếu chính phủ thực sự có thể phát hành nghiêm ngặt theo giá trị tài sản của Giáo hội, thì những chỉ khoán này tự nhiên có thể dần dần được thu hồi thông qua việc bán đất của Giáo hội, và đương nhiên sẽ không có nguy cơ lạm phát.
Nhưng chỉ cần vận hành máy in tiền là có ngay tiền để chi tiêu. Cách kiếm tiền này quá hấp dẫn, đến mức ít có chính phủ nào, đặc biệt là những chính phủ đang đứng trên bờ vực, có thể kiềm chế việc in tiền bừa bãi. Kết quả là chính phủ đã in bao nhiêu chỉ khoán, e rằng ngay cả những người trong chính phủ cũng không nắm rõ. Có tin đồn rằng số chỉ khoán đã in ra đủ để mua lại đất đai của Giáo hội nhiều lần rồi. Do đó, chỉ khoán đương nhiên mất giá thảm hại, dù chưa đến mức như một số quốc gia sau này phải dùng "Kinh" (10^16) làm đơn vị tiền tệ, nhưng việc chỉ khoán liên tục mất giá vẫn gây áp lực ngày càng lớn cho quốc gia.
Nếu có thể tịch thu đất đai của những quý tộc bỏ trốn, dùng những đất đai này làm vật thế chấp cho chỉ khoán, thì vấn đề chỉ khoán có lẽ sẽ tạm thời được giải quyết (đương nhiên, nếu tiếp tục in, sớm muộn gì c��ng sẽ bị lật đổ, nhưng đó chẳng phải là chuyện của sau này sao? Hậu quả về sau, ai quản được?).
Đề án này hiển nhiên đã được Quốc hội thông qua mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Đảng Đen dĩ nhiên phản đối đề án này, còn Lafayette, ông ta không muốn gây áp lực quá lớn lên giới quý tộc, cũng bày tỏ sự phản đối. Nhưng phe trung dung cộng thêm những người Jacobin đã chiếm đa số trong Quốc hội (huống hồ một số người trong phe Lafayette cũng không mấy kiên định).
Rồi đúng như Brissot mong muốn, dự luật này đã bị nhà vua phủ quyết. Theo Hiến pháp, nhà vua có quyền phủ quyết các dự luật do Quốc hội thông qua. Nhà vua đương nhiên biết rằng, việc phủ quyết dự luật như vậy chắc chắn sẽ chọc giận Quốc hội, nhưng hiện tại, phe bảo hoàng đã trở thành lực lượng duy nhất ông ta có thể trông cậy, ông ta cũng không còn lựa chọn nào khác.
Việc dự luật bị phủ quyết này đã làm tăng đáng kể uy tín của Brissot. Một khi chiêu bài này có hiệu quả, thì tự nhiên nó sẽ được sử dụng lại. Ngay sau đó, Brissot lại đề xuất dự luật về việc ng���ng trả lương cho các giáo sĩ từ chối tuyên thệ trung thành. Dự luật này đương nhiên lại bị nhà vua phủ quyết.
Thông qua một loạt nước cờ chính trị như vậy, Brissot đã thành công xây dựng danh tiếng của mình trong Quốc hội, đồng thời dưới sự hậu thuẫn của Clavière và một số nhân vật khác, ông ta đã tập hợp được nhiều người trung lập về phía mình. Đồng thời, Brissot cũng gián tiếp gán cho Louis XVI biệt danh "Ông Phủ Quyết", khiến hình ảnh một "thủ lĩnh phong kiến ngoan cố" của ông ta ngày càng khắc sâu vào lòng dân.
Về hướng cấp tiến thứ hai, đó chính là chiến tranh.
Đã nhận được sự hỗ trợ từ Clavière và những người bạn của ông ta, Brissot đương nhiên phải lên tiếng vì lợi ích của họ. Tuy nhiên, Brissot sẽ không công khai điều này. Khẩu hiệu của ông ta trong việc tuyên truyền chiến tranh là "xuất khẩu cách mạng".
Lafayette vẫn luôn nhấn mạnh quân đội Pháp có nhiều vấn đề, khả năng chiến đấu khó mà đảm bảo, và lấy đó để trì hoãn chiến tranh; còn Robespierre thì luôn chĩa mũi nhọn tấn công vào những "kẻ độc tài quân sự" tiềm năng.
Giờ đây, Brissot đối đáp lại luận điệu của Lafayette rằng, quân đội Pháp có vấn đề, thì quân đội các nước khác còn có nhiều vấn đề hơn.
Ông ta cho rằng, cuộc cách mạng của nhân dân Pháp đã cổ vũ khắp châu Âu, hầu hết người dân các nước châu Âu đều khao khát cách mạng. Sự mong đợi của họ đối với quân đội cách mạng Pháp giống như "hạn hán lâu ngày mong mây mưa". Một khi chiến tranh nổ ra, quân đội Pháp trong cuộc chiến đó sẽ là "thuận lòng thiên hạ, giáng đòn vào những kẻ phản nghịch", làm sao lại không thể thắng?
Còn đối với luận điểm của Robespierre, ông ta cũng châm biếm, cho rằng Robespierre lại tin vào thiện ý của các vị vua phong kiến nước ngoài, và lại coi thường lòng yêu nước của nhân dân Pháp.
Dưới sự lãnh đạo của Brissot, phe trung lập nhanh chóng tập hợp lại. Một nhóm lớn người, bao gồm Vergniaud, vợ chồng Roland, v.v., đều tập hợp về phía Brissot. Và một khi họ đoàn kết lại, cuộc chiến đã tiến thêm một bước dài.
Ngày 29 tháng 11, Quốc hội thông qua nghị quyết, yêu cầu nhà vua lập tức cảnh cáo Tuyển hầu tước Trier, buộc ông ta phải lập tức giải tán quân đội của các quý tộc lưu vong Pháp trong lãnh thổ của mình. Nếu không, Pháp sẽ áp dụng các biện pháp, kể cả vũ lực, để bảo vệ an ninh quốc gia.
Lần này, "Ông Phủ Quyết" đã không phủ quyết nghị quyết này thêm nữa, mà lập tức phê chuẩn nghị quyết đó và gửi cảnh báo đến Tuyển hầu tước Trier.
Tuyển hầu tước Trier là một vương công thuộc cái gọi là "Đế quốc La Mã Thần thánh". Về lý thuyết, đe dọa sử dụng vũ lực đối với ông ta đồng nghĩa với việc đe dọa sử dụng vũ lực đối với Áo. Louis XVI và Hoàng hậu Marie trước đây vẫn chờ đợi Hoàng đế Áo, người đã từng mạnh miệng tuyên bố tấn công Pháp, nhưng Hoàng đế sau khi khoe khoang đôi chút rồi lại bỏ đi, không còn nhắc đến chuyện giao tranh với Pháp nữa. Lúc này, việc Quốc hội Pháp có thể thông qua một nghị quyết như vậy, trong mắt nhà vua và hoàng hậu, đúng là như đang ngủ thì gặp được cái gối.
Sau khi đưa ra lời cảnh báo, nhà vua và hoàng hậu mong đợi Hoàng đế nổi giận, rồi quân đội hùng mạnh của Đ��� quốc La Mã Thần thánh sẽ tiến đến, sau đó có thể treo cổ từng nghị sĩ trong Quốc hội lên cột đèn.
Tuy nhiên, diễn biến sự việc lại hoàn toàn nằm ngoài dự kiến của cả nhà vua và hoàng hậu.
Các vị quân vương phong kiến bên bờ sông Rhine, trước lời cảnh báo của Pháp, đều run sợ. Cũng như người Pháp lo lắng trong nước mình có quá nhiều thế lực hỗn loạn, liệu khi thực sự chiến đấu có người dẫn đường hay không, thì đám "người La Mã" "thần thánh" đó cũng lo lắng dân chúng bên mình sẽ tin vào những tà thuyết dị đoan của Pháp, rồi theo người Pháp mà làm nên cái gọi là cách mạng.
Hơn nữa, điều này thực sự không phải là lo lắng viển vông, bởi vì ở những quốc gia này thậm chí đã có người ngang nhiên xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của Pháp, tự ý thành lập hàng loạt "Câu lạc bộ bạn hiến pháp". Người Pháp có bao nhiêu kẻ nội ứng trong nước, đám Tuyển hầu tước Đức không rõ (mặc dù những quý tộc lưu vong đã nói rất nhiều về những kẻ nội ứng ở Pháp. Nhưng ai cũng biết, đó chắc chắn là lời khoác lác, bởi vì nếu lực lượng bảo hoàng ở Pháp mạnh như vậy, họ đâu đến mức trở thành những kẻ lưu vong?), nhưng bản thân họ có bao nhiêu kẻ nội ứng, trong lòng họ lại hiểu rất rõ.
Thế là những vị tuyển hầu tước này lập tức thu mình lại. Họ một mặt cử người đến Vienna, cầu xin Hoàng đế bảo hộ, một mặt cử người đến Pháp, bày tỏ rằng đây hoàn toàn là sự hiểu lầm.
Đương nhiên, nếu Hoàng đ��� La Mã Thần thánh phát huy sức mạnh, đứng ra dẫn đầu chống lại Pháp, có lẽ họ còn có thể dựa hơi Hoàng đế một chút. Tuy nhiên, trên thực tế, Hoàng đế La Mã lại bị Nữ hoàng Đông La Mã kiềm chế. Mặc dù Nữ hoàng là người căm ghét Pháp nhất trong số tất cả các quốc gia trên thế giới, nhưng hiện tại, Nữ hoàng thực sự đóng vai trò là người bảo hộ Pháp.
Chỉ có Vua Tây Ban Nha lên tiếng đôi lời. Dù sao, Vua Tây Ban Nha cũng thuộc dòng Bourbon. Tuy nhiên, tiếng kêu của Vua Tây Ban Nha lại đặc biệt yếu ớt, chẳng qua là hy vọng Pháp có thể tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác, đừng hễ một chút là dùng vũ lực đe dọa. Tiếng kêu này, ngoài việc chỉ càng thể hiện sự hèn nhát của mình, không có tác dụng nào khác.
"Hoàng đế La Mã" đành phải khẩn cấp hội đàm với Vua Phổ để tìm kiếm đối sách. Đồng thời, ông ta cử người đến Anh, tìm kiếm sự giúp đỡ từ Anh. Tuy nhiên, Anh đã tuyên bố rất rõ ràng rằng họ hiểu và tôn trọng lập trường của Hoàng đế về vấn đề này, và sẵn lòng duy trì thái độ trung lập và thiện chí.
Điều này thực ra rất bình thường, bởi vì nếu Anh cũng tham gia vào liên minh chống Pháp, biết đâu thực sự có thể khiến Pháp khiếp sợ, khiến quốc gia này không dám hành động bừa bãi. Phải biết rằng, người Anh không tin Công giáo. Nhưng người Anh đã rất rõ ràng, Hoàng đế Áo hoàn toàn không muốn gây chiến với Pháp; nếu người Anh tham gia vào, ông ta có thể yên tâm mạnh dạn tranh giành Ba Lan với người Nga. Ngược lại, nếu người Anh giữ thái độ trung lập, thì người Pháp được khuyến khích, biết đâu sẽ thực sự nổ ra chiến tranh.
Ở châu Âu, người Pháp yêu ẩm thực và phụ nữ đẹp, người Ý yêu phụ nữ đẹp và nghệ thuật, còn người Anh thì sao? Người Anh không có sở thích nào khác, chỉ thích nhìn lục địa châu Âu bốc cháy.
Trước khi đạt được thỏa thuận với Phổ, Hoàng đế Áo cũng chỉ có thể giữ thái độ kiềm chế, buộc các tuyển hầu tước ở sông Rhine phải giải tán quân đội của những người lưu vong, và sự yếu đuối này càng khuyến khích các thế lực hiếu chiến của Pháp.
Bản chuyển ngữ này, một tác phẩm độc quyền, chỉ tìm thấy tại truyen.free.