(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 306: Làng Lở
Quân Thiên Đức phòng thủ tại huyện Siêu Loại dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Vạn Thắng vương. Sở chỉ huy đặt trên một gò đất rộng thuộc xã Dương Xá, huyện Siêu Loại. Gò đất vô danh này được gọi là bãi Yên Bình, đặt theo tên cô con gái mới chào đời của Vạn Thắng vương.
Bãi Yên Bình, cách sông Thiên Đức khoảng 28 dặm về phía Nam, được chọn làm nơi đóng chỉ huy sở. Phía trước bãi là sông Nghĩa Giang, một nhánh của sông Thiên Đức, nhưng thuyền bè lớn không thể qua lại vì đang mùa nước cạn, lòng sông hẹp. Hai cầu tre dài 20 trượng, rộng khoảng 5 thước bắc qua sông, làm lối đi lại.
Bên hữu chỉ huy sở có Đội Thiên Kim, bên tả có Đội Thần Vũ trấn giữ ngay đầu hai cây cầu tre. Mười khẩu thần công cùng ba mươi hoả pháo liên hoàn được bố trí phía trước chỉ huy sở, do Trần Thái Bộc phụ trách.
Đội Tam Vạn và Đội Thiên Đức dàn quân trấn giữ bờ đối diện chỉ huy sở. Toàn bộ 2000 quân đóng quanh chỉ huy sở Yên Bình đều có ngựa, trang bị hoả lực mạnh, đóng vai trò là quân dự bị cơ động, sẵn sàng tiếp ứng tiền tuyến.
Địa hình huyện Siêu Loại bằng phẳng. Phía Bắc có sông Thiên Đức; phía Đông có dòng Xích Giang chảy qua; phía Nam là dòng Văn Giang uốn lượn; còn phía Tây giáp với huyện Thừa Thiên bởi sông Dâu.
Bốn mặt đều là sông, nhưng thủy quân Thiên Đức chưa đủ đông và mạnh, lại phải đóng quân dàn trải nên Yết Kiêu đã bố trí 700 thủy quân trấn giữ ngã ba sông Dâu và Thiên Đức.
Đinh Công Tráng điều thủy binh thuộc Đại đoàn Thiên Đức về giữ ngã ba sông Dâu và Văn Giang. Tiểu đoàn thủy Kình Ngư rút từ Phượng Sơn về đóng ở bến Diên Ứng, có nhiệm vụ đảm bảo đường rút lui cho chỉ huy sở, hoặc tiếp ứng cho lực lượng của Yết Kiêu ở đầu sông Dâu và Đinh Công Tráng ở cuối sông Dâu.
Tiểu đoàn thủy quân Siêu Loại của Đinh Công Tráng có 500 binh sĩ với 20 Mông Đồng và 8 Xa Hải, được hỗ trợ bởi 2000 bộ binh địa phương đóng trên đất Thừa Thiên, trang bị 300 khẩu pháo bắn đá lớn nhỏ kèm theo 30 hoả pháo liên hoàn. Đây có thể coi là một điểm phòng ngự vững chắc.
Nhiệm vụ của Yết Kiêu và Đinh Công Tráng là không để thủy quân đối phương tiến vào sông Dâu, hòng chia cắt huyện Siêu Loại với huyện Thừa Thiên.
Lực lượng nòng cốt trên tiền tuyến là Trung đoàn Thánh Dực với 2000 binh sĩ thuộc 4 tiểu đoàn: Toàn Thắng, Tất Thắng, Chiến Thắng, Đại Thắng. Binh sĩ Trung đoàn Thánh Dực đều được trang bị ngựa, đảm bảo khả năng cơ động khi tác chiến.
Tiểu đoàn 341 trực thuộc Trung đoàn Thánh Dực có 700 binh sĩ do Dương Cát Lợi chỉ huy, được trang bị 40 thần công, 50 hoả pháo liên hoàn cùng hơn hai trăm khẩu pháo bắn đá các loại. Theo phiên hiệu của quân Thiên Đức: Số 3: Đại đoàn Thánh Dực (trong đó 1 là Thiên Đức, 2 là Thần Sách). Số 4: Pháo binh (với 1 là bộ binh, 2 là kỵ binh và 3 là thủy binh). Nếu muốn biên chế thành 2 hoặc 3 tiểu đoàn trực thuộc, chỉ cần thêm một số vào phía sau. Bởi vậy, Tiểu đoàn 341 có thể hiểu là Tiểu đoàn pháo binh số 1 của Đại đoàn Thánh Dực. Cách biên chế trong tiểu đoàn sẽ lần lượt là C1 - C2 - C3 rồi B1 - B2 - B3… theo một quy tắc rõ ràng.
Tiểu đoàn tân binh TB31 có 1700 quân, một nửa chưa từng xung trận, nửa còn lại là lính bộ binh thuộc quân Hải Đông trước đây hoặc tù binh Tế Giang. TB31 đang trong quá trình tuyển chọn và phân bổ về các đơn vị phù hợp. Lực lượng TB31 chỉ được trang bị 300 hoả mai, còn lại là nỏ, đao kiếm, quả nổ, hoả hổ.
Lực lượng địa phương gồm có: Tiểu đoàn bộ binh huyện Siêu Loại với 1600 lính, chia thành 3 đội là Siêu Loại 1, 2, 3, được trang bị 300 súng hoả mai, hoả hổ, hàng trăm kh��u pháo bắn đá các loại, vài trăm quả nổ cùng hàng nghìn quả nổ gắn vào tiễn. Lực lượng dân binh huy động được 2100 người, tổ chức thành 21 đội theo thứ tự từ DB 1 đến DB 21, với nhiệm vụ trợ chiến và quấy phá. Dân binh trang bị nỏ Liên Châu, hàng nghìn quả nổ nhỏ gắn vào tiễn, hơn ba trăm quả nổ lớn cùng vài trăm hoả hổ.
Các chỉ huy như Nguyễn Địa Lô, Trương Tú, Hoàng Như Hổ và nhiều người khác được điều động từ trường quân sự đến nắm quyền chỉ huy trực tiếp các đội dân binh.
Nguyễn Địa Lô mừng rơn khi được giao một khẩu hoả mai cùng 20 viên đạn và 3 quả nổ. Trương Tú không hào hứng với hoả mai, chàng thích dùng đao để đoạt mạng đối phương hơn. Trong khi đó, Hoàng Như Hổ không tỏ ra quá khích hay thờ ơ, chỉ nâng niu khẩu súng vì đích thân Vạn Thắng vương đã trao cho từng người.
Ba người với ba tính cách khác nhau sẽ sử dụng vũ khí và chỉ huy dân binh theo những cách riêng biệt, đó là lẽ đương nhiên.
Đại bản doanh Trung đoàn Thánh Dực đóng tại cánh đồng Thạch Kiều, cạnh làng Thạch Kiều. Trước mặt làng Thạch Kiều có con sông nhỏ không tên, hai bờ um tùm lau lách. Kể từ khi Trung đoàn Thánh Dực đóng trại tại đây, binh sĩ đã phát quang bờ bãi, và trong hai năm nay, rất nhiều mía đã được trồng ven sông.
Nhằm thuận tiện việc đi lại, quân sĩ Thánh Dực kết hợp với dân trong vùng, chủ yếu là dân thập phương, dựng hàng chục cầu tre lớn nhỏ bắc qua sông. Bởi vậy, dân trong vùng gọi là sông Cầu Quân (tức là cầu do quân sĩ làm). Sông Cầu Quân chỉ rộng 9 trượng, chỗ hẹp nhất là 6 trượng. Mùa nước cạn có khúc sông gần như trơ đáy, thỉnh thoảng chỉ có thuyền chài nhỏ của ngư dân đánh cá qua lại.
Trung đoàn Thánh Dực từng xin lệnh huy động quân dân nạo vét lòng sông nhưng Chương không đồng ý, ông giảng giải rõ lý do cho Bàn Phù Sếnh. Dựa trên địa thế, Chương đã xác định từ trước rằng chưa thể tập trung phát triển hệ thống đường sá ở huyện Siêu Loại. Dân chúng Siêu Loại là dân tứ xứ, trước đây Lý Lệnh công cũng không chú trọng phát triển vùng này, bởi lẽ khi giao tranh xảy ra, đây sẽ là vùng đất bị chiếm đầu tiên.
Huyện Siêu Loại có nhiều mương máng, sông ngòi, lại bốn mặt giáp sông, Chương có muốn cũng không thể xây dựng tường thành vì đó chẳng khác nào dã tràng xe cát. Bởi thế, Chương đã từng nói rõ với Lê Văn Thịnh rằng trước mắt chỉ nên chú trọng phát triển nông nghiệp ở Siêu Loại. Nhờ vậy, Lê Văn Thịnh hiểu căn nguyên sâu xa cho việc tại sao Vạn Thắng vương có đủ tiềm lực mà vẫn chưa để tâm đến vùng đất này.
Sớm tinh mơ ngày 10 tháng 2, ánh lửa hiệu từ chòi gác tiền tiêu gần ngã ba sông Xích Giang - Thiên Đức lóe lên cùng ba nhịp trống dài.
5000 thủy quân Tam Đái do đích thân Phan Văn Hầu đốc suất, làm tiền quân, hiện ra trong sương sớm. Hầu dẫn chiến thuyền chậm rãi men theo bờ tả ngạn sông Thiên Đức, tránh pháo từ bờ Siêu Loại bắn xuống.
Kế hoạch của Phan Văn Hầu là để thủy binh hợp với liên quân Vũ Ninh - Tam Đái, rồi ông ta sẽ đánh vào trại thủy quân Long Vũ trước đây. Sau đó, đổ quân, một phần tấn công làng Nhất Vạn, phần còn lại sẽ tiến vào đất của huyện Siêu Loại. Chúng sẽ đóng trại gần Báo Ân Trùng Nghiêm tự, nơi lực lượng của Hoàng Ngưu từng đánh Phạm Cự Lượng mấy năm trước.
Tiểu đoàn 341 không khai hoả, mặc cho đoàn chiến thuyền 150 chiếc lớn nhỏ lũ lượt đi qua. Nhiệm vụ của Tiểu đoàn 341 là dồn sức phối hợp với Đội Tất Thắng và Đội Chiến Thắng, giáng đòn quyết định vào trung quân của đối phương ngay khi chúng đổ bộ.
Đại quân do Tô Trung Từ th��ng lĩnh thận trọng tiến sau tiền quân khoảng hơn nửa canh giờ. Theo tin tình báo thu thập từ nhiều nguồn, đại quân La thành sẽ đổ bộ ở khu vực làng Lở, xã Lê Xá, huyện Siêu Loại. Sở dĩ dân trong vùng gọi là làng Lở là bởi khúc sông Thiên Đức tại đó uốn lượn gấp khúc, dòng chảy thường xuyên gây sạt lở bờ bãi.
Bờ sông trước làng Lở thoai thoải, quang đãng, lại tương đối bằng phẳng; bên tả ngạn có doi đất nhô ra lòng sông thuận lợi cho chiến thuyền neo đậu.
Phía hữu làng Lở có một gò đất tương đối cao ráo, bằng phẳng, lau sậy mọc cao quá đầu người. Quân La thành tất nhiên lo quân Thiên Đức phục binh ở gò, dựa vào địa thế cao đánh xuống bãi đổ bộ nên đã cho quân thám thính đi trước.
Dù thám báo khẳng định quân Thiên Đức không đặt phục binh, nhưng Lý Mẫn, Đô thống Đại nguyên soái, theo lời khuyên của Tô Trung Từ, đã cho đổ quân chếch về phía cánh tả của làng Lở, cách gò không tên khoảng 100 trượng.
Thực tế là quân thám thính do Tô Trung Từ cử đến làng Lở từ trước Tết, sinh sống trà trộn, làm thuê để nằm vùng trong làng và quanh vùng mà chẳng ai quan tâm. Gần đến ngày Tô Trung Từ khởi sự, mấy quân thám thính lợi dụng đêm tối rời khỏi làng một cách bí mật để xem xét tình hình lần cuối. Vừa đặt chân ra khỏi cổng làng, họ liền bị chụp bao cói lên đầu và khiêng thẳng ra cánh đồng.
Phạm Bỉnh Di đã chờ sẵn. Chẳng nói chẳng rằng, ông ta kéo lưỡi một tên, cắt phăng ngay lập tức. Xong xuôi, Bỉnh Di lạnh giọng nói: – Chúng mày là dân lành chứ gì? Vô tội hả? Không biết gì đúng không? Là do chúng tao bắt nhầm. Sao cũng được, chúng tao không thích làm đau kẻ khác. Thằng nào khai thành thật đã báo những tin gì về La thành, tao sẽ giữ cái lưỡi lại cho. Chúng mày ở đây bao lâu, làm gì, gặp ai chúng tao đều biết cả.
Trần Nhật Tôn đọc lên vài cái tên khiến quân thám thính dập đầu xin tha, khai sạch bách. Quân thám thính buộc phải báo tin giả về La thành. Quân của Bỉnh Di giả trang chèo đò ra sông lúc chập tối đưa tin cho một con thuyền chờ sẵn trên sông.
Tiểu đoàn 341 đưa toàn bộ thần công lên gò không tên, chĩa sẵn về hướng Đông Bắc. Đội Tất Thắng, Đ��i Chiến Thắng cùng TB31, Siêu Loại 2 và 10 đội dân binh khẩn trương đào hào, cắm chông tre, đắp ụ đất, bố trí các vị trí chiến đấu, tìm vị trí đặt các cụm pháo đá lớn nhỏ, chọn các dấu mốc… ngay trên cánh đồng làng Lở. Dân làng Lở được sơ tán về hậu phương ngay trong đêm, chỉ để lại hơn ba chục người già và trẻ nhỏ giả vờ chăn trâu cắt cỏ để quân Tô Trung Từ khi qua lại trên sông thấy yên lòng.
Chỉ sau hai đêm, làng Lở đã biến thành một làng chiến đấu. Nhiều bụi tre sau làng, hướng ra cánh đồng mênh mông, được chặt bỏ làm chông, đồng thời tạo ra đường rút lui. Đội Tất Thắng cùng tiểu đoàn B1 của TB31 và 5 đội dân binh, tổng cộng 1500 quân, ẩn nấp trong làng cùng hàng trăm khẩu pháo bắn đá được bố trí sẵn sàng khai hỏa, chỉ chờ hiệu lệnh.
Mọi bản quyền nội dung này đều thuộc về truyen.free, nơi những áng văn chương được ươm mầm và lan tỏa.