(Đã dịch) Tân Hợi Đại Quân Phiệt - Chương 147: Gilles (một)
Vì Viên Thế Khải, Tát Trấn Băng và những người khác ở phía bắc cố tình khuếch trương, vụ việc Hồng Nhạn hào và cả việc nhà Thanh trước đây mua chiến hạm đã gây xôn xao dư luận. Báo chí khắp cả nước liên tục đưa tin, thậm chí trở thành một sự kiện mang tầm quốc gia. Ban đầu, hai tỉnh Mân-Chiết cũng không ngoại lệ, liên tục nhiều ngày báo chí đều bàn luận về các vấn đề liên quan đến tàu chiến hải quân. Những luồng dư luận này gần như đều có chung một quan điểm, đó là hiện nay chính phủ Trung ương đang thiếu tiền, vì vậy các tỉnh nên noi theo lệ cũ của nhà Thanh, gánh vác quân phí hải quân, đặc biệt là các tỉnh miền duyên hải như Mân-Chiết, Quảng Đông. Trong đó, vụ Hồng Nhạn hào lại đặc biệt chĩa mũi dùi vào Trần Kính Vân.
Tình huống này khiến Trần Kính Vân vừa tức giận, vừa ra lệnh cho Cục Điều tra lập tức điều tra kẻ đứng sau giật dây, sau đó thông qua nhiều thủ đoạn để cấm tuyệt đối việc tiếp tục tuyên truyền về vụ việc này trong phạm vi Mân-Chiết. Cục Điều tra thậm chí còn thành lập một Phòng Tuyên truyền chuyên trách để giám sát báo chí trong vùng. Các tờ báo công khai chỉ trích Trần Kính Vân và chính quyền quân sự, thậm chí có xu hướng kích động bạo loạn, đều bị đình bản. Sau đó, một chế độ quản lý ngành báo chí được ban hành, quy định rằng các cơ quan báo chí, xuất bản muốn công khai hoạt động phải qua đăng ký xét duyệt mới được phép phát hành. Điều này thay đổi ho��n toàn tình trạng trước đây, khi mà chỉ cần vài người cũng có thể tùy tiện lập một tờ báo, dẫn đến chỉ riêng trong nội thành Phúc Châu đã có hàng chục tờ báo.
Vào thời điểm đó, người dân thường chỉ tiếp nhận thông tin từ một nguồn duy nhất, chủ yếu là báo chí. Chỉ cần kiểm soát được nguồn báo chí này thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.
Về cái gọi là "tự do ngôn luận", vào lúc đó, người dân bình thường còn chưa có nhu cầu tinh thần cao đến mức ấy. Thứ này thường chỉ xuất hiện trong thời bình thịnh vượng, khi mà mọi người đã no đủ, rảnh rỗi rồi mới chợt nhận ra mình còn thiếu cái "tự do ngôn luận" đó. Trong thời loạn, sống sót được mới là mấu chốt. Khi bạn ăn còn không đủ no thì sẽ chẳng để ý việc mình có thể tùy tiện chỉ trích chính quyền hay không.
Dưới hành động nhanh như chớp của Cục Điều tra, chỉ trong vòng hai ngày, dư luận tại hai tỉnh Mân-Chiết đã nhanh chóng lắng xuống. Kéo theo đó là việc vô số tờ báo nhỏ phải đóng cửa, sáp nhập hoặc bị thâu tóm. Sau đợt chỉnh đốn này, ngành báo chí hai tỉnh Mân-Chiết bắt đầu xuất hiện một vài tờ báo có sức ảnh hưởng lớn hơn. Chẳng hạn như Phúc Châu Nhật báo, Hàng Châu Nhật báo do dân chúng điều hành, hay Phúc Kiến Thương báo, Chiết Giang Thương báo do chính quyền quân sự chủ quản. Ngoài ra, Cục Điều tra còn đứng ra thu mua nhiều tờ báo nhỏ, hợp nhất chúng lại để thành lập tờ Quốc Dân Nhật báo, nhằm kiểm soát dư luận.
Dư luận hai tỉnh Mân-Chiết lắng xuống. Còn những gì các tỉnh khác bàn tán, Trần Kính Vân không thể kiểm soát được nữa. Chỉ là, nếu tình trạng tuyên truyền như vậy kéo dài, e rằng danh tiếng của Trần Kính Vân trong phạm vi cả nước sẽ giảm sút nghiêm trọng, không chừng sau này sẽ bị mọi người lên án, trở thành một đại quân phiệt độc tài. Quả thực, Chu Thụy trước đây cũng đã từng lâm vào cảnh tương tự.
Vì thế, Phòng Tuyên truyền của Cục Điều tra, theo ám chỉ của Trần Kính Vân, đã tích cực tiến hành phản công dư luận. Họ trắng trợn chỉ trích chính phủ Trung ương Bắc Kinh không màng đến lợi ích hải quân quốc gia, có ý đồ bán đứng hai tuần dương hạm do Anh chế tạo, thậm chí còn muốn hủy bỏ hợp đồng đóng tàu với các nước Đức, Ý, Áo. Họ cũng tuyên bố rằng vấn đề hải quân là do chính phủ Trung ương gây ra, việc ép các tỉnh địa phương phải gánh vác chi phí hải quân là hành động vô lý, đảo lộn trật tự. Hơn nữa, họ còn nói rằng Bắc Dương đã thiếu tiền đến mức không còn cách nào duy trì sự tồn tại của chính phủ Trung ương. Nếu ngay cả khoản tiền vài chục triệu để đóng tàu cũng không thể lo liệu, vậy thì nên nhường lại vị trí.
Điều này ngụ ý rằng, Hải quân là trách nhiệm của Trung ương, không thể đổ lên đầu Trần Kính Vân này. Nếu Bắc Dương thật sự hết cách rồi, vậy thì đơn giản thôi, Viên Thế Khải ông hãy xuống đài, để người khác lên thay, ví dụ như Tôn Văn.
Đợt phản công dư luận lần này không chỉ giới hạn trong phạm vi hai tỉnh Mân-Chiết, mà chủ yếu còn ở Thượng Hải và các địa phương khác trên cả nước để định hướng dư luận. Phương pháp cũng tương tự Viên Thế Khải, chỉ đơn giản là mời người viết bài hoặc tự lập ra báo.
Tóm lại, mục đích chỉ có một, đó là khuấy đục tình hình này.
Những làn sóng dư luận bề ngoài có vẻ lớn như vậy, nhưng thực tế lại không có bất kỳ hiệu quả đáng kể nào. Cùng lắm thì chúng cũng chỉ là chủ đề để mọi người tiện miệng bàn tán lúc trà dư tửu hậu, chứ không thực sự tác động đến phán đoán hay quyết định của những nhân vật có thực quyền ở khắp nơi.
Ví dụ như Trần Kính Vân sẽ không vì ảnh hưởng của dư luận mà choáng váng chi ra khoảng mười triệu. Viên Thế Khải ngay từ đầu cũng không kỳ vọng vào việc những dư luận này có thể ảnh hưởng đến lựa chọn của Trần Kính Vân. Mục đích của Viên Thế Khải rất đơn giản, ngoài việc chọc tức Trần Kính Vân ra, còn là để nhân tiện mua chuộc lòng trung thành của Hải quân và cảm tình của dân chúng đối với Trung ương mà thôi.
Tát Trấn Băng, Lâm Dĩnh Khải và những người khác, sau khi biết Trần Kính Vân kiên quyết từ chối mua Hồng Nhạn hào, đã vô cùng chán nản, thất vọng. Lâm Dĩnh Khải cũng đã đến trường Hải quân Phúc Châu nhậm chức phó hiệu trưởng. Dù mang danh phó hiệu trưởng, nhưng vì hiệu trưởng do Trần Kính Vân kiêm nhiệm, nên công tác quản lý thực tế của trường Hải quân vẫn do phó hiệu trưởng tiến hành. Lâm Dĩnh Khải đối với sự sắp xếp này vẫn khá hài lòng.
Về phần Tát Trấn Băng, sau khi đợi ở Phúc Châu năm sáu ngày cũng cảm thấy chẳng còn hứng thú, đang định trở về. Nhưng mà, ngay sau khi ông mua vé tàu xong, khi đang chuẩn bị trở về để tiếp tục công việc hiệu trưởng trường Thương thuyền Tùng Hỗ Thượng Hải, thì lại có người tìm đến ông, hơn nữa còn là một người Tây dương.
Người Tây dương này không phải người bình thường, mà là đại diện ngành đóng tàu của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại Viễn Đông: Hải quân Thượng tá Gilles. Ông cũng là tùy viên quân sự thứ nhất tại Trung Quốc của Mỹ. Người này là một nhân vật vô cùng quan trọng trong quan hệ hải quân hai nước vào thời Thanh mạt và những năm đầu Dân Quốc. Ở một mức độ nào đó, ông ta còn quan trọng hơn cả công sứ Mỹ tại Trung Quốc.
Trong những năm Tuyên Thống cuối triều Thanh, khi Thanh triều có ý định tái thiết Hải quân và mua, đặt hàng tàu chiến từ nước ngoài, Mỹ cũng cực lực tranh giành hợp đồng đóng tàu. Để tránh việc các nhà máy đóng tàu trong nước Mỹ cạnh tranh không lành mạnh, chính phủ Mỹ đã cử Hải quân Thượng tá Gilles làm đại diện duy nhất cho ngành đóng tàu Mỹ, phụ trách chào bán tàu chiến Mỹ tại khu vực Viễn Đông.
Chính nhờ sự cạnh tranh hết sức mình của ông ta mà Mỹ đã giành được đơn đặt hàng Hồng Nhạn hào. Lúc bấy giờ, Mỹ coi trọng đơn đặt hàng này không phải chỉ vì giá trị chế tạo 20 vạn bảng Anh, mà là hy vọng mượn đơn đặt hàng Hồng Nhạn hào này để từ đó mở ra thị trường tàu chiến Trung Quốc. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, hay nói đúng hơn là trước khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, tàu chiến Mỹ không có nhiều sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Khi hầu hết các quốc gia mua tàu chiến từ nước ngoài, lựa chọn số một là Anh Quốc, lựa chọn thứ hai thường là Đức, và hàng thứ ba là Pháp, Ý, thậm chí cả Đế quốc Áo-Hung. Việc ngành chế tạo tàu chiến Mỹ muốn mở ra thị trường quốc tế không hề dễ dàng chút nào.
Vì vậy, mặc dù đơn đặt hàng Hồng Nhạn hào lúc đó chỉ bao gồm thân tàu, thậm chí ngay cả vũ khí cũng bị Trung Quốc quy định là hàng của Anh Quốc, Mỹ vẫn nhiệt tình tiếp nhận phần đơn đặt hàng này. Đương nhiên, tình huống này lại khiến các nhà buôn vũ khí lớn trong nước Mỹ càng thêm bất mãn. Bởi đối với vũ khí, đặc biệt là pháo lớn trên tàu chiến, quy cách là rất quan trọng. Một khi ngay từ đầu Trung Quốc toàn bộ sử dụng vũ khí Anh Quốc, thì thường thường về sau cũng đều sẽ tiếp tục sử dụng vũ khí Anh Quốc. Do đó, lúc bấy giờ, gã khổng lồ vũ khí Mỹ là công ty Bethlehem đã tranh giành vỡ đầu vì vũ khí trên Hồng Nhạn hào. Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ và thậm chí cả công sứ Mỹ tại Trung Quốc đều tham gia vào việc này, nhưng cuối cùng họ vẫn không thể thay đổi quyết tâm của Trung Quốc.
Dù vậy, công ty Bethlehem vẫn khao khát thị trường vũ khí đạn dược khổng lồ của Trung Quốc và không cam lòng. Vừa đúng lúc đó, Trung Quốc cũng có ý định xây dựng thêm lực lượng Hải quân quy mô lớn, nên công ty này nảy sinh kế hoạch giúp đỡ Trung Quốc tái thiết Hải quân. Lúc bấy giờ, Mỹ đang thi hành chính sách "ngoại giao Mỹ Kìm", nhằm bảo vệ lợi ích buôn bán vũ khí, mở rộng ảnh hưởng của Mỹ tại Trung Quốc. Đồng thời, điều quan trọng hơn là Hải quân Nhật Bản ngày càng trở nên khổng lồ, đã gây ra áp lực cực lớn cho Hải quân Mỹ trên Thái Bình Dương. Hơn nữa còn có liên minh Anh-Nhật luôn đè nặng lên Mỹ, nên chính phủ Mỹ cũng nảy sinh ý định hỗ trợ Hải quân Trung Quốc.
Trong thời kỳ này, chính sách ngoại giao của Mỹ lấy trung lập làm nguyên tắc, đồng thời dựa vào chính sách ngoại giao "Mỹ Kìm". Tức là cố gắng hết sức tránh xung đột quân sự, sau đó dùng lượng lớn đô la Mỹ để mở đường, chủ trương chính sách mở cửa, nhằm tìm kiếm thị trường quốc tế cho vốn và sản phẩm của Mỹ. Chẳng qua, lúc bấy giờ gần như toàn cầu đều tràn lan chủ nghĩa bá quyền, khắp nơi đều là thắng làm vua, thua làm giặc một cách trắng trợn. Chỉ dựa vào tiền tài để mở đường là rất khó để người khác mở cửa.
Đặc biệt là tại khu vực Viễn Đông, ngành đường sắt Mỹ trước đây ở Đông Bắc Trung Quốc cũng đã chịu thất bại nặng nề (như Waterloo), miếng mồi béo bở đã đến miệng lại bị Nhật Bản và Nga cướp trắng trợn. Cùng với mối quan hệ đồng minh Anh-Nhật, điều này đã khiến Bộ Hải quân Mỹ gặp phải áp lực quá lớn.
Trong bối cảnh đó, việc Mỹ nảy sinh ý định hỗ trợ Hải quân Trung Quốc thì không khó hiểu, bởi lợi ích mang lại là rõ ràng. Các nhà buôn vũ khí trong nước có thể nhận được nhiều đơn đặt hàng vũ khí đạn dược từ Trung Quốc, đồng thời lại có thể mở rộng ảnh hưởng và thế lực tại Trung Quốc. Hải quân Mỹ còn có thể mượn sự phát triển của Hải quân Trung Quốc để giảm bớt áp lực khổng lồ từ Hải quân Nhật Bản.
Nhưng Công sứ Mỹ tại Trung Quốc William James lại cực lực phản đối. Trong bức thư gửi Quốc Vụ Khanh vào tháng Sáu, ông cuối cùng viết rằng: "Nếu được phép bày tỏ ý kiến về kế hoạch này, thực tế là Trung Quốc không cần một lực lượng Hải quân khổng lồ nào. Họ có lẽ chỉ cần các loại pháo hạm, du thuyền... để phục vụ công tác tuần tra cảnh sát ven biển và nội ��ịa, chống buôn lậu, trấn áp phản loạn, và huấn luyện sĩ quan, nhưng chiến hạm thì chẳng có tác dụng gì đối với họ. Họ không có tiền để chi trả những chiến hạm này, cũng không có binh sĩ đủ khả năng điều khiển những chiến hạm ấy. Đây là quan điểm phổ biến hiện nay: Nếu họ có một hoặc nhiều chiến hạm, thì ở một mức độ nào đó chỉ có thể làm tăng cường hoặc mở rộng Hải quân Nhật Bản, bởi vì nếu Nhật Bản và Trung Quốc hoặc quốc gia khác phát sinh rắc rối, khi họ cần, Nhật Bản sẽ cướp lấy những chiến hạm này, Trung Quốc và các quốc gia khác đều không thể ngăn chặn điều đó xảy ra. Bởi vì họ cố chấp và bảo thủ, người Trung Quốc có nhiều suy nghĩ phù phiếm, kiêu ngạo và đầy ảo tưởng. Họ chỉ quan tâm vẻ bề ngoài mà không để ý đến bản chất sự vật. Họ muốn sở hữu mọi dấu hiệu của một cường quốc và được tôn kính như một cường quốc. Bởi vậy, họ mong muốn có Lục quân và Hải quân, súng pháo và thành lũy, chiến kỳ, trống trận và quân hiệu, nhưng lại không có kinh nghiệm hay khả năng sử dụng chúng. Nhu cầu về chiến hạm của họ còn chẳng bằng một đứa trẻ mong muốn một khẩu súng. Trong khi họ đang tiến hành nhiều cải cách thiết thực, và đang khởi xướng các công tác giáo dục, thương mại và khai thác tài nguyên đều cần tiền cấp bách, hơn nữa nguồn thu thuế hoặc các khoản thu nhập khác đều đã đến giới hạn. Bởi vậy, trong mắt của tôi, khuyến khích họ vay nợ để phát triển Hải quân hoặc đầu tư vào một lực lượng Hải quân khổng lồ là không sáng suốt, thậm chí là một hành vi không thân thiện. Tôi nghĩ không có sự lãng phí tiền bạc nào lớn hơn điều này. Tôi có niềm tin mãnh liệt như vậy vào điều này, đến nỗi tôi không thể không bày tỏ quan điểm của mình."
Mặc dù William James cực lực phản đối, nhưng dưới sự thúc đẩy của công ty Bethlehem và Hải quân Mỹ, chính phủ Mỹ và Thanh vẫn tiến hành các cuộc đàm phán liên quan. Đúng vào thời điểm Khởi nghĩa Vũ Xương bùng nổ, họ đã ký kết hiệp ước, hợp đồng dưới hình thức mật ước. Và mật ước này, chính là cái gọi là "Hợp đồng Bethlehem".
Nội dung này thuộc bản quyền của truyen.free, xin vui lòng không sao chép khi chưa được phép.