(Đã dịch) Tân Hợi Đại Quân Phiệt - Chương 241: Tạo hạm phương án
Dựa trên kế hoạch đã được Hải quân xây dựng và chỉ thị của Tư lệnh, Bộ Hải quân đã chỉnh sửa lại kế hoạch mới, đồng thời gửi các yêu cầu liên quan đến phía Mỹ. Sau khi Vũ Văn Đào sang Mỹ, ông đã tiến hành đàm phán về kế hoạch mới này với phía Mỹ và đã đạt được thỏa thuận sơ bộ. Sau đó, Tát Trấn Băng lấy ra một văn kiện, đưa cho Trần Kính Vân và nói: "Đây là bản kế hoạch sơ bộ mới!"
Trần Kính Vân nhận lấy và xem xét. Nội dung trong đó không nhiều, chỉ bao gồm các số liệu chung chung, chứ không chi tiết và phong phú như bản kế hoạch phát triển ba năm hay năm năm lần trước. Mặc dù kế hoạch lần này đơn giản hơn rất nhiều, nhưng Trần Kính Vân vẫn xem xét rất tỉ mỉ.
Kế hoạch đóng tàu mới này vẫn dựa trên cơ sở hợp tác giữa hai bên Hải quân, theo đó tổng kinh phí đóng tàu vẫn trong khoảng 40 triệu đồng. Số lượng và loại hình tàu chiến sẽ được điều chỉnh mới theo kế hoạch và ý kiến của Trần Kính Vân.
Theo kế hoạch của Bộ Hải quân, sẽ mua sắm hai chiếc tuần dương hạm hạng nhất cấp vạn tấn, với đơn giá dự kiến 8 triệu đồng mỗi chiếc; ba chiếc tuần dương hạm tốc độ cao bốn ngàn tấn, đơn giá dự kiến 3,5 triệu đồng mỗi chiếc; sáu chiếc tàu khu trục tốc độ cao một ngàn tấn, đơn giá dự kiến hai triệu đồng mỗi chiếc.
Kế hoạch mua sắm này hoàn toàn khác biệt so với đề xuất ban đầu của Bộ Hải quân. Trong lần đầu tiên, Bộ Hải quân dự định mua một chiếc tuần dương hạm bọc thép vạn tấn cùng hai chiếc tuần dương hạm bảo vệ 5.000 tấn làm nòng cốt, cùng với vài chiếc tuần dương hạm trinh sát tốc độ cao và tàu khu trục để hình thành một hạm đội tuần dương hạm bọc thép. Tuy nhiên, đã là cuối năm 1912, khái niệm tuần dương hạm bọc thép và tuần dương hạm bảo vệ đã lỗi thời. Thay vào đó là sự xuất hiện của chiến hạm tuần dương – phiên bản nâng cấp của tuần dương hạm bọc thép – cùng với sự kết hợp của tuần dương hạm tốc độ cao áp dụng phòng hộ trọng điểm và từ bỏ pháo cỡ lớn. Những chiếc tuần dương hạm bảo vệ như Hải Kỳ hào, với hơn bốn ngàn tấn, trang bị hai pháo 8 tấc và giáp bảo vệ dày, đã không còn phù hợp nữa.
Để bắt kịp xu hướng thế giới, đồng thời đáp ứng yêu cầu của Trần Kính Vân về một hạm đội tuần dương hạm tốc độ cao mà ông đã đề ra cho Bộ Hải quân, Bộ Hải quân đã tham khảo các hạm đội hiện có và đang được đóng mới của Anh, Mỹ và các quốc gia khác, sau đó đưa ra kế hoạch đóng tàu mới.
Thứ nhất, mua hai chiếc tuần dương hạm t���c độ cao trang bị sáu pháo 8 tấc. Hai chiếc tuần dương hạm vạn tấn này, vốn là hạt nhân của hạm đội, phải đạt tốc độ tối thiểu 27 hải lý/giờ. Tốc độ này là yêu cầu tối thiểu, chủ yếu để tránh bị chiến hạm tuần dương của Hải quân địch truy đuổi, chẳng hạn như chiến hạm tuần dương lớp Kim Cương mà Nhật Bản đang đặt hàng từ Anh có tốc độ lên đến 27 hải lý/giờ. Hải quân Nhật Bản, vốn là đối thủ và mục tiêu hàng đầu của Hạm đội Thái Bình Dương Trung – Mỹ, nên điều này cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng.
Tuy nhiên, với công nghệ hiện tại, để một tuần dương hạm vạn tấn đạt được tốc độ cao như vậy, phải đánh đổi một lượng lớn trọng tải và không gian, do đó, việc trang bị giáp và các khía cạnh khác phải có sự thỏa hiệp.
Ban đầu, kế hoạch là sử dụng tuần dương hạm bọc thép với hệ thống phòng hộ toàn diện, nhưng để duy trì tốc độ cao, buộc phải từ bỏ việc bọc thép toàn bộ, thay vào đó áp dụng phòng hộ trọng điểm tương tự chiến hạm tuần dương. Đồng thời, để giảm không gian hệ thống động lực và đạt tốc độ cực cao, tàu chiến sẽ sử dụng tổ hợp động lực bao gồm lò hơi đốt xăng dầu và động cơ hơi nước turbine. Dù là lò hơi đốt xăng dầu hay động cơ hơi nước turbine, cả hai đều đã bắt đầu được ứng dụng trên một số ít tàu chiến của Hải quân, mặc dù chưa phổ biến rộng rãi. Phía Mỹ trước đây cũng có kế hoạch tương tự, nhưng chỉ vì thận trọng mà chưa áp dụng quy mô lớn. Hiện tại, Bộ Hải quân Phúc Châu đã đưa ra yêu cầu khắt khe về tốc độ cao, đồng thời cũng muốn nhân cơ hội này thử nghiệm loại tổ hợp động lực trên, nên phía Mỹ đã đề xuất giải pháp động lực này.
Về phần pháo hạm, cũng có sự thay đổi lớn. Các chuyên gia phía Mỹ và Vũ Văn Đào cùng các cộng sự của Bộ Hải quân Phúc Châu nhất trí rằng, sáu pháo 8 tấc là yêu cầu tối thiểu. Bởi nếu một tàu chiến hơn vạn tấn, trị giá gần chục triệu đồng, mà chỉ trang bị pháo 6 tấc hoặc hai pháo 8 tấc thì hoàn toàn là sự lãng phí. Thử hỏi, một chiến hạm hơn vạn tấn dù chạy nhanh đến mấy, nhưng nếu trang bị pháo như tăm tre thì làm sao có thể chiến đấu được? Đừng nói đối đầu với thiết giáp hạm và chiến hạm tuần dương, ngay cả tuần dương hạm bọc thép đời đầu cũng khó lòng đương cự. Như vậy chẳng khác nào làm ngược.
Đương nhiên, điều quan trọng nhất là việc từ bỏ hệ thống phòng hộ bọc thép toàn diện đã giải phóng một lượng lớn trọng tải. Số trọng tải này, ngoài việc phân bổ cho hệ thống động lực, còn một phần được dùng cho hệ thống pháo hạm.
Vì vậy, lựa chọn ba tháp pháo đôi, bố trí hai tháp phía trước và một tháp phía sau, với bốn pháo 8 tấc phía trước và hai pháo 8 tấc ở đuôi tàu. Về pháo phụ, sử dụng tám pháo đơn 5 tấc.
Chỉ riêng cấu hình hỏa lực này đã vượt trội hơn hẳn các chiến hạm cấp vạn tấn cùng thời.
Để đáp ứng các yêu cầu thiết kế trên, các chuyên gia đóng tàu phía Mỹ nhanh chóng đưa ra phương án thiết kế chi tiết: Tàu chiến dài tổng cộng 185 mét, rộng 18 mét, mớn nước 6 mét. Giáp bảo vệ: đai giáp sườn tàu 750 mm, boong tàu 40 mm, ụ súng 50 mm, tháp chỉ huy 30 mm, đồng thời bố trí giáp ở các bộ phận trọng yếu khác. Hệ thống động lực bao gồm tám lò hơi đốt xăng dầu kết hợp bốn động cơ hơi nước turbine loại Parsons, với bốn trục chân vịt; tốc độ tối đa dự kiến 27 hải lý/giờ, mang theo 2.000 tấn dầu, tầm hoạt động ở tốc độ kinh tế 16 hải lý/giờ có thể đạt 7.000 hải lý. Vũ khí: ba tháp pháo đôi tổng cộng sáu pháo 8 tấc, tám tháp pháo đơn 5 tấc, hai ống phóng ngư lôi ba nòng 533 mm. Thủy thủ đoàn định biên 400 người, trọng tải tiêu chuẩn của tàu chiến là một vạn tấn, trọng tải tối đa có thể đạt 11.000 tấn.
Thiết kế này có thể nói chính là một phiên bản thu nhỏ của chiến hạm tuần dương, với ý tưởng thiết kế về cơ bản nhất quán với chiến hạm tuần dương, tức là đánh đổi giáp bảo vệ lấy tốc độ cao và hỏa lực mạnh. Đối với phía Mỹ, đây cũng là một cơ hội tuyệt vời để thăm dò thiết kế chiến hạm tuần dương, bởi vì cho đến nay, Hải quân Mỹ vẫn còn thờ ơ với chiến hạm tuần dương, cho rằng chúng gần như không thể phát huy tác dụng cần thiết dưới hỏa lực của thiết giáp hạm.
Vì áp dụng thiết kế mới, chi phí chế tạo cũng tăng so với dự tính ban đầu. Đơn giá đã từ 8 triệu đồng tăng lên 9 triệu đồng.
Ngoài hai chiếc tuần dương hạm hạng nặng vạn tấn đóng vai trò hạt nhân hạm đội này, còn có ba chiếc tuần dương hạm tốc độ cao bốn ngàn tấn. Trước Thế chiến thứ nhất, phía Mỹ không mấy coi trọng việc đóng và thiết kế các hạm đội nhỏ, chỉ say mê vào việc thiết kế và chế tạo thiết giáp hạm. Dù là tuần dương hạm hạng nặng vạn tấn hay tuần dương hạm hạng nhẹ vài ngàn tấn, phía Mỹ đều không có mẫu tàu hay thiết kế nào đủ tốt để tham khảo. Lần này, các chuyên gia Mỹ và Hạm đội Phúc Châu một lần nữa hướng về phía Hải quân Anh, đồng thời dựa trên số liệu của một số tuần dương hạm đang được đóng và các hạm đội hiện có của các quốc gia khác để đưa ra phương án thiết kế ban đầu.
Tàu dài tổng cộng 135 mét, rộng 11 mét, mớn nước 4 mét, trọng tải tiêu chuẩn 4.000 tấn, trọng tải tối đa có thể đạt 4.500 tấn. Hệ thống động lực cũng áp dụng phương án tương tự tuần dương hạm hạng nặng vạn tấn, tức là sử dụng tổ hợp lò hơi đốt xăng dầu và động cơ hơi nước turbine. Tốc độ tối đa thiết kế là 29 hải lý/giờ, tầm hoạt động ở tốc độ 16 hải lý/giờ có thể đạt 4.500 hải lý. Về vũ khí, lựa chọn hai tháp pháo đơn 6 tấc, bố trí một tháp phía trước và một tháp phía sau; pháo phụ gồm sáu pháo 4 tấc, cùng với hai ống phóng ngư lôi ba nòng 533 mm. Cũng tương tự như hai chiếc tuần dương hạm hạng nặng vạn tấn, để đáp ứng yêu cầu tốc độ cao, trọng lượng giáp bảo vệ đã bị hy sinh, chỉ chọn dùng phòng hộ trọng điểm. Mặc dù trọng tải của chiếc tàu này tương đương với tuần dương hạm bảo vệ Hải Kỳ hào, nhưng khả năng phòng hộ lại kém hơn Hải Kỳ hào rất nhiều, thậm chí hỏa lực cũng thua xa, dù sao Hải Kỳ hào còn được trang bị hai pháo 8 tấc. Tương tự, tốc độ của hai loại cũng khác nhau một trời một vực: Hải Kỳ hào chỉ đạt khoảng 20 hải lý/giờ, trong khi chiếc tuần dương hạm hạng nhẹ bốn ngàn tấn đang thiết kế có thể chạy 29 hải lý/giờ.
Ngoài hai chiếc tuần dương hạm hạng nặng vạn tấn và ba chiếc tuần dương hạm hạng nhẹ bốn ngàn tấn, còn có sáu chiếc tàu khu trục một ngàn tấn. Việc này tương đối đơn giản: phía Mỹ trực tiếp phóng đại một thiết kế hiện có, đưa ra phương án tàu dài tổng cộng 100m, rộng 9m, mớn nước 3 mét, trọng tải tiêu chuẩn 1.000 tấn. Theo phương án này, pháo chính là hai pháo đơn 4 tấc, pháo phụ gồm bốn pháo 3 tấc, cùng với hai ống phóng ngư lôi ba nòng 533 mm. Tốc độ tối đa thiết kế là 30 hải lý/giờ.
Theo kế hoạch trên, tổng cộng sẽ có hai chiếc tuần dương hạm hạng nặng vạn tấn, ba chiếc tuần dương hạm hạng nhẹ bốn ngàn tấn và sáu chiếc tàu khu trục một ngàn tấn, nhằm hình thành một đội hình hạm đội tuần dương tốc độ cao có khả năng tác chiến xa bờ. Theo kế hoạch chiến lược do cố vấn Hải quân Mỹ đưa ra, nhiệm vụ trọng tâm của hạm đội này là sử dụng tốc độ cao để tấn công các đội hình tuần dương hạm quy mô nhỏ hoặc tàu buôn của Hải quân Nhật Bản trên biển xa, đồng thời cố gắng tránh giao chiến với hạm đội chủ lực của Hải quân Nhật Bản. Ngay cả khi chạm trán hạm đội chủ lực của Hải quân Nhật Bản, chúng vẫn có thể rút lui bất cứ lúc nào nhờ tốc độ cao, thậm chí có thể tận dụng tốc độ cao để tiến hành các cuộc tấn công chớp nhoáng trong đêm tối hoặc sóng gió. Đây cũng là lý do tại sao lại mua đến sáu chiếc tàu khu trục.
Về bản chất, nhiệm vụ của hạm đội này là kìm chân địch, chứ không phải quyết chiến với hạm đội chủ lực của Hải quân Nhật Bản. Theo dự đoán lạc quan từ phía Mỹ, hạm đội tuần dương tốc độ cao của Trung Quốc sẽ có thể kìm hãm hiệu quả một phần lực lượng Hải quân Nhật Bản khi chiến tranh giữa Nhật Bản và Mỹ bùng nổ, nhờ đó giảm bớt áp lực khổng lồ mà Bộ Hải quân Mỹ phải đối mặt, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hạm đội chủ lực của Hải quân Mỹ trong cuộc quyết chiến với hạm đội chủ lực Nhật Bản.
Sự quan tâm của Trần Kính Vân dành cho Hải quân kém xa so với Lục quân. Về việc tái thiết Hải quân, ông cũng chỉ có một khái niệm chung chung, đó là hướng tới việc xây dựng các hạm đội tàu sân bay. Ngược lại, theo ông, trước khi Trung Quốc có thể đóng được số lượng lớn tàu sân bay, việc tranh giành cái gọi là quyền bá chủ trên biển chỉ là lời nói suông, và họ sẽ vẫn phải sống dưới cái bóng của Hải quân Nhật Bản. Trước đó, ông đã đặt ra mục tiêu rất đơn giản cho Hải quân: thứ nhất là huấn luyện, thứ hai là tận dụng tài nguyên hiện có để xây dựng một hệ thống phòng thủ. Không cần đánh bại hạm đội chủ lực của Hải quân Nhật Bản, mà là phòng ngự được vùng biển duyên hải, không để Nhật Bản tùy tiện đổ bộ vào nội địa ven biển Trung Quốc. Về điểm này, Trần Kính Vân cũng đã có tính toán. Kế hoạch của ông rất đơn giản: đó là máy bay. Dù các loại tàu sân bay không thể có ngay lập tức, nhưng lực lượng phòng không trên đất liền của Hải quân cũng có thể phát huy tác dụng không nhỏ.
Về việc xây dựng hạm đội tuần dương tốc độ cao hiện tại, một là Trần Kính Vân cần dùng nó để thắt chặt quan hệ hợp tác với người Mỹ, thứ hai là cũng có thể dùng nó để duy trì năng lực tác chiến xa bờ của Hải quân Trung Quốc, tránh tình trạng chảy máu chất xám trong giới nhân tài cấp cao của Hải quân; hơn nữa, việc duy trì một đội hình tuần dương hạm tốc độ cao như vậy sẽ giúp khi các tàu sân bay được chế tạo sau này, chúng có thể trực tiếp được đưa vào để hình thành một hạm đội tàu sân bay hoàn chỉnh.
Về những vấn đề khác, ông không có nhiều ý kiến. Sau khi xem xét kỹ, Trần Kính Vân nói: "Kế hoạch này theo tôi là khả thi, nhưng chỉ tổ chức một hạm đội tuần dương tốc độ cao thì chưa đủ. Đường bờ biển nước ta dài như thế, không thể chỉ phòng thủ chung chung được. Tôi thấy khái niệm 'tấn công chớp nhoáng' mà các anh đưa ra trong kế hoạch rất hay. Các anh hãy trao đổi với phía Mỹ xem họ có thể hỗ trợ thiết kế các tàu chiến chuyên dụng cho tác chiến chớp nhoáng không, trọng tải có thể nhỏ hơn nữa, cỡ vài trăm tấn là được, chủ yếu dùng để phòng ngự cảng biển và vùng duyên hải, lấy ngư lôi làm vũ khí chính, nhưng tốc độ phải nhanh, giá thành phải rẻ, và hơn nữa, phải là loại mà xưởng đóng tàu của chúng ta có thể tự sản xuất. Bộ Hải quân các anh hãy bàn bạc kỹ hơn về công việc cụ thể, tôi chỉ đưa ra một định hướng chung mà thôi."
Tát Trấn Băng là một tướng lĩnh Hải quân lão luyện, nghe xong liền nhận ra loại tàu mà Trần Kính Vân nói đến có lẽ là loại "tàu săn ngư lôi" 400 tấn mà Trung Quốc đã đặt hàng từ Đức, tức là cái gọi là tàu khu trục nhỏ. Những chiếc tàu này chỉ khoảng ba bốn trăm tấn, lấy ngư lôi làm vũ khí chính, chủ yếu dùng để phòng ngự vùng duyên hải.
Vì vậy, ông liền đáp: "Thuộc hạ đã rõ. Bộ Hải quân sẽ sớm trình lên Tư lệnh một bản kế hoạch để Người xem xét!"
Toàn bộ bản văn này do truyen.free biên soạn, xin vui lòng không sao chép lại.