(Đã dịch) Tân Hợi Đại Quân Phiệt - Chương 263: Nói chuyện tào lao một hai
Trần Kính Vân, một chính trị gia càng ngày càng có suy nghĩ diễn thuyết, đã không bỏ lỡ cơ hội phát biểu một bài diễn thuyết tạm thời trên bến tàu. Những lời lẽ và khẩu hiệu ông ta sử dụng cấp tiến hơn hẳn trước đây, càng dễ kích động lòng người, đặc biệt nhấn mạnh thuyết ưu việt của chủ nghĩa dân tộc và quyền sinh tồn của dân tộc ưu tú. Nói cách khác, dân tộc Trung Hoa là dân tộc ưu tú nhất thế giới, và một dân tộc ưu tú nhất đương nhiên cần có được quyền sinh tồn xứng đáng, chứ không phải ở trong tình trạng nửa thuộc địa nửa phong kiến như hiện tại. Mà điều kiện tiên quyết để đạt được quyền sinh tồn chính là Trung Quốc phục hưng. Điều kiện tiên quyết của sự phục hưng này là Quốc Xã Đảng phải thống nhất Trung Quốc, và điều kiện tiên quyết để Quốc Xã Đảng thống nhất Trung Quốc chính là sự lãnh đạo của Trần Kính Vân.
Nếu loại bỏ đi những lời nói nhảm vô nghĩa, và gạt bỏ cái gọi là chủ nghĩa dân tộc cùng sự phục hưng Trung Quốc – những chủ đề quen thuộc mà đám học sinh cũ thường nhắc tới – thì lời tuyên truyền cốt lõi, hay mục tiêu căn bản của Trần Kính Vân (và cả Quốc Xã Đảng) trong rất nhiều bài diễn thuyết chính là: Các ngươi cần phải được ta, Trần Kính Vân, lãnh đạo, và hơn thế nữa, các ngươi còn phải biết ơn vì điều đó.
Còn những thứ như bình quân quyền, cường quốc áp bức, cứu dân cứu quốc, Trung Quốc phục hưng, thậm chí cả "vũ khí bí mật" của Quốc Xã Đảng là thuyết ưu việt dân tộc chủ nghĩa, tất cả đều trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho mục tiêu cốt lõi này. Thực ra, bất kỳ đảng phái, giáo phái, hoặc tổ chức chính trị, tôn giáo nào cũng đều có một mô hình tương tự: phục vụ cho một hoặc vài người, lôi kéo một số ít người, và áp bức đa số người. Nhìn lại lịch sử nhân loại, hầu như không có tổ chức nào có thể thoát ra khỏi khuôn khổ này.
Chừng nào nhân loại còn tồn tại các hệ thống xã hội, dù là chế độ nô lệ cổ đại, chế độ quân chủ phong kiến, hay các chế độ đa đảng luân phiên hoặc độc đảng chuyên chế hiện đại, thì về cơ bản sẽ không thoát khỏi được hai khung cơ bản: tầng lớp thống trị và tầng lớp bị trị. Còn cái gọi là chủ nghĩa cộng sản trong truyền thuyết, trừ phi nhân tính của loài người bị xóa sổ hoàn toàn, trở thành những sinh vật thuần túy, vô tư như robot, nhưng chỉ cần nhân tính còn tồn tại, con người vẫn là những gì chúng ta biết – có tư lợi, có dục vọng – thì cho đến ngày nhân loại diệt vong, mục tiêu vĩ đại nhưng hư ảo đó của chủ nghĩa cộng sản cũng sẽ không bao giờ thực hiện được.
Nhìn chung, lịch sử nhân loại chính là lịch sử chiến tranh giữa tầng lớp thống trị và tầng lớp bị trị! Mà hiện tại, Quốc Dân Quân ở hai tỉnh Mân Chiết đang đóng vai trò chính là tầng lớp thống trị.
Đối mặt với biển người đang reo hò phía dưới, Trần Kính Vân cũng chìm đắm trong sự phấn khích tột độ nhờ những tiếng hoan hô đó, khiến bài diễn thuyết của ông ta càng thêm hùng hồn, mạnh mẽ. Kết hợp với những động tác tay dứt khoát, ông ta đã khiến giọng nói lúc trầm lúc bổng của mình vang vọng khắp khán phòng, thành công kiểm soát hoàn toàn không khí của buổi diễn thuyết.
"Chỉ cần đảng viên Quốc Xã chúng ta không sợ hy sinh, không sợ gian khổ, tiên phong dẫn dắt nhân dân tiến lên bằng những bước chân kiên quyết, thì bất cứ ai cũng không thể ngăn cản bước chân phục hưng của dân tộc Trung Hoa chúng ta!"
"Không ai được phép!" Trần Kính Vân lặp lại lời này một lần nữa: "Bất cứ kẻ nào cũng không được phép!"
Chứng kiến những người xung quanh đều đang hò reo, Lâm Văn Anh nhìn Trần Kính Vân đang hùng hồn diễn thuyết trên đài mà trong lòng cảm thấy vô cùng phức tạp. Anh từng nghe Tôn tiên sinh diễn thuyết kêu gọi quyên góp, nhưng những bài diễn thuyết ấy chủ yếu là dùng sự chân thành để lay động lòng người, kể về những khổ nạn của quốc gia và dân tộc. Thế nhưng Trần Kính Vân trước mắt lại dùng những lời lẽ kích động lòng người để dệt nên một giấc mộng, một giấc mộng mà bất kỳ thanh niên yêu nước nào cũng không thể bỏ qua, một giấc mộng khiến vô số học sinh trẻ tuổi Trung Quốc trằn trọc đêm ngày: sự phục hưng của Trung Quốc.
Cộng thêm thuyết ưu việt dân tộc chủ nghĩa và quyền sinh tồn, những điều này càng khiến tâm trạng của lớp người trẻ tuổi sôi sục không ngừng. Hơn nữa, trong điều lệ đảng cụ thể mà Quốc Xã Đảng đưa ra còn chủ trương "người cày có ruộng", xác định đường lối lấy công thương làm gốc để lập quốc. Khác với việc Quốc Dân Đảng cùng các đảng phái khác trong nước chỉ nói suông mà không làm, Quốc Xã Đảng lại thực sự đã bắt tay vào hành động. Việc thành lập các khu kinh tế phát triển ở Phúc Châu, Hàng Châu và Thượng Hải đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển công thương theo ba hướng này. Chưa kể một loạt các chính sách hỗ trợ công thương khác đã thu hút toàn bộ tầng lớp công thương ở hai tỉnh Mân Chiết. Thêm vào đó, bộ "Pháp lệnh công thuê thổ địa" từng gây xôn xao dư luận trước đây đã bắt đầu được thử nghiệm ở một vài phủ huyện nhỏ như Duyên Bình. Mặc dù giống như chế độ cải cách thuế phổ biến và việc độc quyền bán thuốc phiện trước đó, pháp lệnh này cũng gây ra không ít thương vong, nhưng Quốc Dân Quân lại giành được sự ủng hộ của đông đảo nông dân nghèo và không có đất ở tầng lớp dưới đáy xã hội.
Sau nhiều lần thảo luận và so sánh với một số chế độ cải cách ruộng đất ở các quốc gia khác, Quốc Xã Đảng đã đưa ra khái niệm "Công thuê thổ địa" này.
Cải cách ruộng đất là một vấn đề lớn trong lịch sử nhân loại, có thể nói cho đến nay chưa từng có quốc gia nào giải quyết triệt để được nó. Trong xã hội hiện đại, sở dĩ vấn đề ��ất đai không còn nghiêm trọng là do sản lượng cây trồng nông nghiệp tăng lên đáng kể, đồng thời công thương nghiệp đã thay thế nông nghiệp trở thành nguồn thu nhập chính của quốc gia và người dân. Lấy ví dụ Trung Quốc sau chế độ khoán hộ, thực ra cũng chưa giải quyết được tận gốc vấn đề đất đai. Mặc dù quyền sở hữu đất là qu��c hữu, hạn chế giao dịch đất, nhưng lại tồn tại khái niệm "quyền kinh doanh", và quyền kinh doanh này cũng có thể chuyển nhượng được. Trong thập niên 80 và 90 ở nông thôn Trung Quốc cằn cỗi, nhiều gia đình đi làm công đã từ bỏ việc canh tác trên mảnh đất được phân chia ban đầu. Vậy những mảnh đất đó đã đi đâu? Chúng đã được nông dân khác nhận lấy để canh tác, và vì lúc bấy giờ vẫn còn thuế nông nghiệp, nên những nông dân cày cấy đất của người khác vẫn phải trả địa tô. Quá trình này có thể có một vài sai lệch về mặt danh từ, nhưng về hình thức thì đây hoàn toàn là mô hình kinh tế nông nghiệp tiểu nông truyền thống của Trung Quốc.
Thực ra, tổ tiên người Trung Quốc từ hàng trăm, hàng nghìn năm trước đã từng áp dụng chiêu thức chuyển nhượng quyền kinh doanh này rồi, nhưng vẫn không thể giải quyết được vấn đề đất đai.
Ở một mức độ nào đó, chế độ đất đai hiện đại không có khác biệt cơ bản so với mấy trăm năm trước. Sở dĩ không có vấn đề phát sinh là bởi vì khoa học kỹ thuật phát triển, sản lượng cây nông nghiệp tăng lên đáng kể, vấn đề cái ăn không còn căng thẳng. Mặt khác, công thương nghiệp phát triển vượt bậc, khiến thu nhập từ việc kinh doanh, buôn bán đủ để nuôi sống những người làm công nghiệp, thậm chí còn cao hơn nhiều so với thu nhập từ làm ruộng tại nhà.
Vì vậy, để giải quyết vấn đề đất đai rất đơn giản: một là phát triển khoa học kỹ thuật, nâng cao sản lượng cây nông nghiệp. Chỉ cần tổng sản lượng lương thực của Trung Quốc có thể nuôi sống toàn bộ người dân, thì Trung Quốc sẽ không còn vấn đề đất đai. Thứ hai là phát triển công thương nghiệp, tạo ra thêm nhiều việc làm để những nông dân không có đất có thể tìm được công việc khác và có đủ vật tư sinh hoạt. Còn những thứ như chế độ đất đai thì không phải vấn đề chính yếu. Chế độ tư hữu, chế độ công hữu, hay việc tách rời quyền sở hữu và quyền kinh doanh đều không ảnh hưởng lớn. Các quốc gia tư hữu như Anh, Mỹ vẫn phát triển tốt, và ở Trung Quốc hiện đại với việc tách rời quyền sở hữu và quyền kinh doanh, cũng không ai bị chết đói.
T��i sao trước thời kỳ cải cách mở cửa, lại có nhiều người đến vậy không đủ ăn? Bởi vì trước đó người ta chỉ làm điểm thứ nhất, mà đầu óc họ lại bị mê hoặc bởi những thứ như giai cấp, chủ nghĩa, v.v., nên không xây dựng công thương nghiệp "tư bản chủ nghĩa vạn ác". Đặng lão đã thực hiện điểm thứ hai, cải cách mở cửa thành công giúp toàn thể người dân trong nước, đang ở thời kỳ bùng nổ dân số, được ăn no. Đây là thành tựu vĩ đại nhất của Đặng lão, một công lao mà từ xưa đến nay ở Trung Quốc không ai có thể sánh bằng. Chưa nói đến những hoàng đế thời cổ đại, cọng lông (ám chỉ Mao Trạch Đông) cũng chẳng khác gì các đế vương xưa, ngoài việc đấu đá nội bộ và chiến tranh ra thì chẳng thấy họ làm được gì khác. Tranh giành cả đời mình, lãng phí nửa thế kỷ thời gian của Trung Quốc, cũng không thể khiến người dân trong nước được ăn no. Thế hệ trước thường kể, trẻ em và thanh niên thời đói ăn khoai lang, mùa đông đi guốc gỗ. Ngày mưa, trẻ con hễ nghe mùi thịt là nước miếng chảy ròng ròng, nào ai nghĩ thế kỷ 21 sau này lại có chứng chán ăn, ngửi thấy thịt là buồn nôn. Cho nên, từ góc độ của một người dân bình thường mà nói: Đặng lão cùng những người tài giỏi như Tưởng đời thứ hai mới là những người biết xử lý thực tế, có thể khiến cuộc sống mọi người ổn định thường ngày mới là điều quan trọng. Còn những chuyện quốc gia, dân tộc, v.v., đều là lời nói nhảm hư vô mờ mịt. Nếu mọi người không đủ ăn, thì dù có thống nhất Địa Cầu thì làm được gì? Ngoài việc khiến số lượng người dân đói kém dưới sự cai trị của bạn từ vài trăm triệu lên thành mười mấy tỷ người ra, thì còn gì khác nữa sao?
Dựa trên sự ủng hộ của Quốc Dân Quân và tình hình hiện tại trong nước, việc xóa sổ toàn bộ địa chủ rồi chia đất cho những nông dân không có đất là điều không thực tế. Trong xã hội văn minh hiện đại, những kẻ thiếu tự kiềm chế (ý nói những người cấp tiến) là một loại "sinh vật cao quý" (ý mỉa mai), việc thi hành chính sách diệt trừ giai cấp và thảm sát chủng tộc chẳng khác nào nhau. Nếu thi hành chính sách này, nội bộ Quốc Dân Quân ắt sẽ lục đục và trở mặt với nhau. Mặc dù những người chủ chốt trong Quốc Dân Quân chủ yếu tập trung vào tầng lớp công thương và nông dân bình thường, nhưng trên thực tế, rất nhiều nhà công thương cũng xuất thân từ địa chủ, thậm chí bản thân họ cũng chính là địa chủ. Vì vậy, tùy tiện sử dụng các phương thức đấu tranh giai cấp đó rất dễ khiến Trần Kính Vân tự chuốc họa vào thân. Với chính sách cấp tiến như vậy, chỉ có thể tìm mọi cách để hạn chế mức địa tô cắt cổ nhất.
Điểm quan trọng nhất của pháp lệnh đất đai chính là: Mức địa tô không được vượt quá 4/10 sản lượng cây nông nghiệp hàng năm, và sản lượng cây nông nghiệp hàng năm sẽ do chuyên viên chính phủ cử đến định mức. Đương nhiên, hạn mức này chắc chắn là điều mà nhiều địa chủ không thể chấp nhận được, có thể họ sẽ "giấu trên lừa dưới", ví dụ như báo cáo sai sản lượng cây trồng, hoặc lén lút ký kết các hợp đồng thuê mướn với mức địa tô cắt cổ hơn nữa với nông dân.
Vì vậy, điều thứ hai được quy định trong pháp l���nh đất đai là: Bất kỳ cá nhân nào có ruộng đất dư thừa dùng để cho thuê thì chỉ có thể cho chính phủ thuê. Bất kỳ hành vi tự mình cho thuê hoặc nhận thuê đất đai nào cũng sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc, không chút do dự. Vì chính phủ ký kết hợp đồng thuê đất với địa chủ, khi đối mặt với chính phủ, địa chủ đã trở thành bên yếu thế, việc trá hình nâng cao địa tô sẽ không còn khả năng.
Sau đó, nông dân sẽ thuê lại đất từ chính phủ với giá gốc. Nói cách khác, địa chủ và nông dân không có đất sẽ không tiếp xúc trực tiếp với nhau. Làm như vậy là để đảm bảo việc áp dụng lệnh hạn chế thuê đất.
Ban đầu, pháp lệnh đất đai còn có vài điều khoản khác, nhưng hiện tại thời cơ thực hiện chưa chín muồi. Chẳng hạn như lệnh mua sắm đất đai: chính phủ sẽ mua lại đất từ địa chủ, trả tiền trong nhiều năm, đồng thời bán lại đất đó cho nông dân không có đất, cũng trả tiền trong nhiều năm. Hoặc ví dụ khác, chính phủ sẽ thuê lại đất từ địa chủ rồi cho nông dân thuê lại. Sau khi nông dân canh tác đủ một số năm nh���t định, họ có thể nộp đơn xin mua lại đất từ chính phủ, và địa chủ không thể từ chối vì bất kỳ lý do gì.
Kể từ đó, ruộng đất vốn thuộc về địa chủ sẽ bị phân tán trên quy mô lớn, và số tiền thu được từ việc chuyển nhượng đất đai của địa chủ cũng sẽ được chính phủ hướng dẫn đầu tư vào lĩnh vực công thương. Chỉ là những chính sách này được xem là khá cấp tiến, hiện tại Quốc Dân Quân không muốn gây ra quá nhiều xáo động nội bộ, nên chỉ thử nghiệm trước ở một vài khu vực thuộc Phúc Kiến, sau đó sẽ xem xét kết quả để mở rộng quy mô.
Mặc dù không thể tránh khỏi tình trạng quan lại mục nát cấu kết với địa chủ, nhưng Quốc Xã Đảng đã phái các tổ công tác xuống các hương trấn để tuyên truyền và áp dụng chính sách của đảng. Đồng thời, để chính phủ có thể tiếp cận sâu hơn vào xã hội nông thôn, dưới cấp trấn, họ tái thiết lập cơ cấu hành chính cấp hương và thôn, với ý đồ phá vỡ cấu trúc rộng lớn của nông thôn truyền thống Trung Quốc vốn bị các dòng họ và thân sĩ thống trị.
Và pháp lệnh đất đai này của Quốc Xã Đảng lại nhận được sự ủng hộ của đông đảo nông dân ở tầng lớp dưới đáy xã hội. Ở một vài khu vực thiểu số như Duyên Bình, thậm chí xuất hiện tình trạng con em nông dân nô nức ghi danh tòng quân. Ngoài mức quân lương hậu hĩnh và tiền đồ sáng lạn của Quốc Dân Quân, điều này không thể tách rời khỏi pháp lệnh đất đai.
Trần Kính Vân dùng giấc mộng phục hưng Trung Quốc để thu hút đông đảo thanh niên yêu nước nhiệt huyết, dùng sự phát triển công thương rầm rộ để lôi kéo giới thân sĩ công thương, và dùng pháp lệnh đất đai để giành được tầng lớp nông dân đông đảo. Sự quật khởi của người này chẳng khó để lý giải, thế nhưng Lâm Văn Anh lại không cam lòng.
Cũng là một nhà cách mạng, trước kia khi khởi nghĩa Phúc Châu, sự hào sảng của Lâm Văn Anh không hề thua kém Trần Kính Vân. Thế nhưng chỉ trong vỏn vẹn hơn một năm, Trần Kính Vân đã trở thành một cự đầu đủ sức ảnh hưởng đến cục diện chính trị Trung Quốc, dẫn dắt Quốc Dân Quân cùng Quốc Xã Đảng đặt nền móng vững chắc cho cuộc tranh giành Cửu Đỉnh. Còn Lâm Văn Anh thì sao? Mặc dù được bổ nhiệm làm Tổng trưởng Bộ Quân vụ quân đội chính phủ Phúc Kiến, nhưng suốt một năm qua anh ta chẳng làm được việc gì nên hồn.
Vì sao không phải ta lãnh đạo Trung Quốc quật khởi? Câu hỏi tương tự này đã có rất nhiều người tự hỏi. Tái Phong với hùng tâm tráng chí xây dựng Tân Chính, sau khi bị phế truất vào năm Tân Hợi cũng từng nghĩ như vậy. Viên Thế Khải tức giận đến thổ huyết mà chết trong uất ức, liệu cuối cùng ông ta có nghĩ như vậy không? Sau đó, các quân phiệt hỗn chiến trong Nội Địa như Đoàn Kỳ Thụy, Phùng Quốc Chương, Tào Côn và những người khác cũng đã tự hỏi mình những câu hỏi tương tự. Về sau, khi "đầu trọc" (Tưởng Giới Thạch) hô hào phản công đại lục, ông ta cũng đã từng tự hỏi mình: "Tại sao không phải là ta!"
Tất cả bọn họ đều không cam lòng, và Lâm Văn Anh cũng vậy!
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu của truyen.free, và nó được tạo ra với sự tinh tế của người Việt.