(Đã dịch) Tân Hợi Đại Quân Phiệt - Chương 330: Buôn bán cùng tập đoàn
Hệ thống Quốc Dân Quân, hay nói cách khác, tập đoàn quân sự Mân Chiết, có sự khác biệt rõ rệt so với tập đoàn quân sự Bắc Dương. Cả hai đều sở hữu những lãnh đạo quân sự độc tài mạnh mẽ và lực lượng quân sự hùng hậu. Tuy nhiên, trong hai tập đoàn, Bắc Dương chú trọng hơn vào hệ thống quan liêu truyền thống, giới tư bản thương mại và thể chế thân sĩ. Sau loạn Phát Phỉ, các trọng thần người Hán, dựa vào tầng lớp địa chủ lớn và thân sĩ phổ biến, đã trỗi dậy trên chính trường cuối triều Thanh. Trương Chi Động, Lý Hồng Chương là những nhân vật nổi bật trong số đó, đồng thời là đại diện cho tập đoàn này. Còn Viên Thế Khải, với vai trò người kế nhiệm Lý Hồng Chương, xuất hiện trên chính trường cuối triều Thanh và trở thành đại diện trực tiếp cho một nhóm thể chế.
So với Bắc Dương truyền thống, sự quật khởi của Quốc Dân Quân ngắn hơn. Ngoài việc chú trọng quân đội như Bắc Dương, một trụ cột khác của Quốc Dân Quân chính là tầng lớp thương nhân ở khu vực Mân Chiết và Tô Nam. Dù là Phủ Đô đốc Phúc Kiến trước đây, Phủ Tuyên phủ sứ Đông Nam sau này, hay Phủ Đại Nguyên soái hiện tại, tất cả đều không tách rời sự ủng hộ của tầng lớp thương nhân tại Mân Chiết, Tô Nam, bao gồm cả khu vực Thượng Hải.
Trong các nguồn thu tài chính hiện tại của Quốc Dân Quân, ngoài thuế ruộng truyền thống, nguồn lớn nhất và tăng trưởng nhanh nhất chính là thuế thương nghiệp. Có thể nói, tầng lớp thương nhân đã đóng góp một phần lớn vào ngân sách của Quốc Dân Quân. Để đẩy nhanh phát triển công thương nghiệp, thu về nguồn tài chính lớn hơn, đồng thời thu hút các phú thương và tầng lớp thương nhân bình thường trong khu vực, Quốc Dân Quân đã dốc toàn lực hỗ trợ công thương. Ví dụ, việc ly kim – vấn đề mà các thương nhân đặc biệt quan tâm – đã bắt đầu được chấn chỉnh từ thời Phủ Đô đốc Phúc Kiến. Đương nhiên, việc bãi bỏ hoàn toàn ly kim là điều không thể. Nếu bãi bỏ ly kim lúc đó, tài chính của Phủ Đô đốc Phúc Kiến sẽ lập tức sụp đổ. Nhưng chính phủ cũng đã tiến hành chấn chỉnh ở phạm vi nhỏ, đặc biệt là sau khi kiểm soát Chiết Giang. Lúc bấy giờ, Trần Kính Vân đã dốc sức phổ biến và cải cách chế độ thuế ở Phúc Kiến, sau đó nhanh chóng mở rộng sang Chiết Giang. Các trạm thu ly kim ở mọi nơi đều do Bộ Tài chính trực tiếp quản lý, chứ không còn do chính quyền địa phương quản lý như thời nhà Thanh trước đây và các khu vực quân phiệt khác hiện tại.
Mặc dù chế độ ly kim có nhiều nhược điểm, nó đã khiến quyền lực tài chính thời nhà Thanh trước đây bị phân tán xuống địa phương, khiến chính quyền địa phương dần dần đối đầu với Trung ương. Có thể nói, vào cuối thời Minh, các đốc phủ địa phương có quyền cao chức trọng, thậm chí có thể trực tiếp đối đầu với Trung ương. Tất cả những điều này đều bắt nguồn từ việc thực hiện chế độ ly kim. Khi có ly kim, việc thu bao nhiêu và thu như thế nào hoàn toàn do các đốc phủ địa phương tự mình quyết định, Trung ương căn bản không thể quản lý. Việc áp dụng ly kim đã dẫn đến sự phân tán quyền lực tài chính của Trung ương, đây là tai hại lớn nhất của nó. Còn những ảnh hưởng như cản trở lưu thông hàng hóa, đẩy giá hàng lên cao, gây bất tiện cho đời sống nhân dân, đều là những vấn đề thứ yếu. Dù chế độ ly kim đã được thực hiện hàng chục năm qua, nhưng cũng không thấy vì ly kim mà hàng triệu người chết đói.
Mặc dù ly kim có những tai hại lớn như vậy, nhưng việc bãi bỏ nó không hề đơn giản. Trong thời đại đó, xét theo một góc độ khác, ly kim chính là một dạng thuế thương nghiệp. Từ sản xuất, lưu thông cho đến tiêu thụ, nó gần như tạo thành một hệ thống thu thuế thương nghiệp hoàn chỉnh. Nếu ai đó muốn bãi bỏ ly kim mà không đưa ra được một hệ thống thu thuế thương nghiệp thay thế hiệu quả và khả thi, thì ngoài việc gọi người đó là Hán gian bán nước, khó có thể tìm thấy lời lẽ nào khác để hình dung. Lập luận này cũng giống như việc ngày nay kêu gọi bãi bỏ thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế doanh thu và tất cả các loại thuế kinh doanh khác.
Nhưng khi chưa có phương pháp thay thế khả thi, Trần Kính Vân tuyệt đối sẽ không và không dám bãi bỏ ly kim. Tuy nhiên, do ly kim gây ra tai hại quá lớn, việc thực hiện cải cách là điều tất yếu đối với ông. Vì vậy, bước đầu tiên trong việc cải cách chế độ thuế là thu hồi quyền quản lý ly kim từ các chính quyền địa phương, thống nhất giao cho Bộ Tài chính Trung ương quản lý.
Bước thứ hai là tối ưu hóa các trạm thu ly kim, bãi bỏ những trạm không quan trọng và những trạm trùng lặp nghiêm trọng, nhằm giúp hàng hóa lưu thông dễ dàng hơn trong tỉnh và giảm một phần chi phí. Bước thứ ba là tiếp tục bãi bỏ nhiều trạm thu ly kim, chỉ duy trì một số ít tại các tuyến giao thông huyết mạch và các khu vực quan trọng. Đồng thời, chính phủ đẩy mạnh phổ biến khái niệm thuế doanh thu, tức là thu thuế doanh thu trực tiếp từ các nhà máy sản xuất (cái gọi là thu thuế tại nguồn), và sau đó thu thuế doanh thu từ các thương gia bán lẻ ở giai đoạn tiêu thụ cuối cùng. Cách làm này nhằm bù đắp cho việc bãi bỏ nhiều khoản ly kim trong các khâu lưu thông. Đồng thời, tại các tuyến giao thông huyết mạch nối liền các tỉnh nằm trong vùng kiểm soát của Quốc Dân Quân, vẫn duy trì nhiều trạm thu ly kim. Điều này tương tự với các trạm hải quan, bởi vì vùng kiểm soát của Quốc Dân Quân và các vùng kiểm soát của quân phiệt khác, dù không chính thức là biên giới, nhưng đã gần như một biên giới thực sự rồi. Việc thu thuế cao đối với hàng hóa từ bên ngoài vào là điều bình thường.
Bước thứ ba này chính là giai đoạn Trần Kính Vân đang nỗ lực thực hiện. Ông hy vọng giai đoạn cải cách thuế này sẽ giúp hàng hóa lưu thông thuận lợi hơn tại các khu vực nằm trong vùng kiểm soát, bao gồm Mân Chiết, Quảng Đông, Giang Tây, Tô Nam, Hoàn Nam, từ đó kích thích công thương nghiệp phát triển và mang lại nhiều nguồn thu hơn cho chính phủ. Còn những cải cách sâu rộng hơn về chế độ thuế và ly kim sau này, e rằng phải chờ đến khi Trần Kính Vân thống nhất Trung Quốc mới có thể thực hiện.
Tuy nhiên, chỉ với những thay đổi đến mức này cũng đã khiến đông đảo thương nhân tăng thêm thiện cảm với Trần Kính Vân. Từ đó, sự ủng hộ của họ dành cho Quốc Dân Quân cũng ngày càng mạnh mẽ. Đặc biệt, sau khi Trần Kính Vân tuyên bố kế hoạch Bắc Phạt, chính phủ lâm thời đã khẩn cấp phát hành 50 triệu phiếu công trái Quang Phục, do Ngân hàng Trung Quốc bảo lãnh tiêu thụ, và chúng đã được bán rất chạy. Phần lớn người mua là tầng lớp thương nhân tin tưởng và ủng hộ Quốc Dân Quân. Dù sao, mệnh giá nhỏ nhất của những phiếu công trái này là một trăm đồng, dân chúng bình thường không thể nào mua nổi những phiếu công trái này.
Mối liên hệ giữa Quốc Dân Quân và tầng lớp thương nhân đã chặt chẽ như vậy, nhưng Trần Kính Vân vẫn cho là chưa đủ. Để tiếp tục thu hút các phú thương từ Mân Chiết, Tô Nam và cả các tập đoàn tài chính khác trong nước, ông đã nhiều lần kêu gọi các phú thương trong nước góp vốn. Ông định từng bước chuyển nhượng một phần cổ phần quốc hữu của Xưởng binh khí Phúc Châu thành một khoản tiền mặt khổng lồ, dùng làm quân phí và chi phí hành chính của chính phủ. Việc này cũng nhằm khuyến khích nhiều tập đoàn phú thương tham gia vào Xưởng binh khí Phúc Châu. Góp cổ phần vào Xưởng binh khí Phúc Châu cũng đồng nghĩa với việc bước lên con thuyền Quốc Dân Quân, về sau nếu thuyền lật, họ sẽ cùng Trần Kính Vân mất tất cả.
Tuy nhiên, hành động này đã không được nhiều tập đoàn phú thương hoan nghênh. Không phải vì họ không tin tưởng Trần Kính Vân, mà là họ có phần lo ngại về tình hình kinh doanh của chính Xưởng binh khí Phúc Châu. Mặc dù Xưởng binh khí Phúc Châu có tài sản cố định khổng lồ, nhưng mức độ nợ nần của nó không hề nhỏ. Ngoài các khoản vay dành cho quân phí, Trần Kính Vân đã nhiều lần ký kết các khoản vay khác mà phần lớn đều được đổ vào các nhà máy trực thuộc hoặc công ty con của Xưởng binh khí Phúc Châu. Hình thức vay vốn này là Trần Kính Vân sử dụng chính phủ để vay từ Mỹ; sau khi nhận được khoản vay, chính phủ sẽ không lãi suất cho Ngân hàng Trung Quốc vay, và cuối cùng Ngân hàng Trung Quốc sẽ cho tất cả các doanh nghiệp vay. Các doanh nghiệp sau khi nhận được tiền sẽ lại mua sắm thiết bị từ Mỹ. Sau một vòng như vậy, chính phủ lâm thời mắc nợ Mỹ, Ngân hàng Trung Quốc mắc nợ chính phủ, và Xưởng binh khí Phúc Châu cùng tất cả các doanh nghiệp khác mắc nợ Ngân hàng Trung Quốc. Tổng cộng các khoản vay này lên đến 60-70 triệu, và sẽ còn tăng thêm khi kế hoạch viện trợ đợt hai được thực hiện.
Nếu thống kê tài sản và các khoản nợ của Ngân hàng Trung Quốc cùng tất cả các doanh nghiệp công nghiệp quân sự khác thuộc hệ thống Quốc Dân Quân, người ta sẽ nhận thấy: Hiện tại, mọi doanh nghiệp công nghiệp quân sự trong hệ thống Quốc Dân Quân đều hoạt động trong tình trạng nợ nần. Tổng giá trị thiết bị, thậm chí cả đất đai nhà xưởng của họ cộng lại cũng không đủ để trả nợ.
Có thể nói, nếu các tập đoàn phú thương muốn mua lại những doanh nghiệp của Xưởng binh khí Phúc Châu từ chính phủ, điều đó chẳng khác nào dùng vàng bạc ròng để gánh một khoản nợ khổng lồ trên vai chính phủ. Xưởng binh khí Phúc Châu không phải là một doanh nghiệp bình thường; nó còn liên quan đến những trách nhiệm khác. Nếu công ty cổ phần thua lỗ, họ còn phải bỏ thêm tiền để bù đắp, chứ không phải nói không muốn là có thể rút vốn ra được.
Một khi đã bỏ vốn vào, nếu Quốc Dân Quân thắng được nội chiến, cổ phần của các doanh nghiệp công nghiệp quân sự này sẽ trở thành tài sản chất lượng cao. Chờ khi Xưởng binh khí Phúc Châu phát triển thêm vài năm nữa và trả hết khoản nợ khổng lồ kia, lúc đó họ sẽ thực sự sở hữu những tài sản giá trị. Tuy nhiên, rủi ro cũng rất lớn. Nếu một khoản tiền khổng lồ như vậy được đầu tư vào mà Quốc Dân Quân thất bại, thì coi như tiền mất tật mang. Không phải ai cũng có niềm tin lớn lao vào Trần Kính Vân và Quốc Dân Quân như vậy. Ngay cả khi Quốc Dân Quân giành chiến thắng, nếu sau khi chiến tranh kết thúc, chính phủ quyết định giải giáp bớt quân đội để phát triển kinh tế, thì đơn đặt hàng của Xưởng binh khí Phúc Châu chắc chắn sẽ giảm. Khi đó, đừng nói đến lợi nhuận, không bị thua lỗ đã là may mắn lắm rồi. Vì vậy, kế hoạch chào bán cổ phần Xưởng binh khí Phúc Châu của Trần Kính Vân đã gặp thất bại nặng nề.
Ngay cả khi Trần Kính Vân muốn dùng Ngân hàng Trung Quốc góp vốn để tự mình mua lại những cổ phiếu này cũng khó khả thi. Hiện tại, Ngân hàng Trung Quốc cũng là một cái thùng rỗng, phần lớn tiền đều đã được đầu tư vào các doanh nghiệp công nghiệp quân sự này. Nếu yêu cầu họ tiếp tục bỏ tiền ra, thì chỉ có thể in tiền giấy cho Trần Kính Vân mà thôi. Nếu in quá nhiều tiền giấy, hệ thống tiền giấy mà Ngân hàng Trung Quốc đã mất hai năm xây dựng sẽ sụp đổ hoàn toàn.
Trong hai năm qua, Ngân hàng Trung Quốc đã trải qua quá trình mở rộng quy mô lớn. Hơn nữa, để mở rộng ảnh hưởng chính trị cũng như tăng cường vốn của Ngân hàng Trung Quốc nhằm phát triển nhiều doanh nghiệp trực thuộc, Trần Kính Vân đã chủ động mời một số đại phú hào rót vốn. Sau khi rót vốn, quyền cổ phần của Ngân hàng Trung Quốc cũng đã được phân tán đáng kể. Cá nhân Trần Kính Vân vẫn nắm giữ tới 70% cổ phần, nhưng 30% còn lại đã được các phú hào lớn ở Mân Chiết phân chia chiếm giữ.
Một tập đoàn lấy Ngân hàng Trung Quốc làm trung tâm đã hình thành, tập đoàn này gần như kiểm soát tất cả các doanh nghiệp công nghiệp nặng lớn trong hệ thống Quốc Dân Quân, bao gồm Xưởng binh khí Phúc Châu cùng nhiều công ty con trực thuộc của nó như Xưởng binh khí Quảng Châu, Xưởng binh khí Thượng Hải, Nhà máy chế tạo máy bay Phúc Châu, Xưởng đóng tàu Giang Nam, Xưởng đóng tàu Mã Vĩ, v.v. Ngoài ra, hầu hết các doanh nghiệp công nghiệp nặng mới xuất hiện trong hai năm qua đều do Trần Kính Vân khởi nghiệp bằng vốn gia đình trước đây. Trong quá trình mở rộng sau này, mặc dù đã có nhiều khoản đầu tư và liên doanh với vốn nước ngoài, nhưng quyền cổ phần chính yếu vẫn nằm trong tay Ngân hàng Trung Quốc. Điển hình là các doanh nghiệp như Phúc Nhạc Điện Khí, Công ty Thép Đông Nam, Xi măng Tháp Bài, Ba Hóa Đá Công, Công ty Vận tải Thái Bình Dương, Công ty Điện lực Thượng Hải, Dệt Phúc Đỉnh, Thuốc lá Hạ Môn, và nhiều doanh nghiệp khác.
Nội dung này được biên tập và xuất bản độc quyền bởi truyen.free.