(Đã dịch) Đại Thời Đại 1958 - Chương 1004: Đều là nước Mỹ bêu xấu
Khi cả thế giới đang dõi theo sự kiện trại lính Rhine và tự hỏi liệu nó có ảnh hưởng đến quan hệ Đức – Mỹ hay không, một tin tức chấn động khác từ Washington lại lan truyền. Theo đó, vụ thảm sát Katyn xảy ra cách đây hơn năm mươi năm là do Liên Xô thực hiện, và Mỹ đã nắm được bằng chứng ngay từ đầu. Tuy nhiên, Mỹ đã chọn cách che giấu sự thật này nhằm tận dụng sức mạnh quân sự của Liên Xô để đánh bại Đức Quốc xã.
Đúng vậy, Mỹ ban đầu cũng biết vụ thảm sát Katyn là do Liên Xô gây ra, chỉ vì thời điểm đó Liên Xô và Mỹ còn cần liên minh để chống lại Đức Quốc xã, cũng như để tránh việc sau này hai nước trở thành kẻ thù không thể hàn gắn, nên mới đành kìm nén không nói ra.
Không lâu sau khi Thế chiến II kết thúc, Quốc hội Mỹ đã thành lập một ủy ban đặc biệt để điều tra vụ Katyn. Trong báo cáo cuối cùng công bố năm 1952, ủy ban này đã tuyên bố rằng tội ác của Liên Xô là sự thật không thể chối cãi, đồng thời gọi cuộc thảm sát này là "tội ác dã man nhất trong lịch sử thế giới". Ủy ban cũng nhận định rằng chính quyền Roosevelt đã che giấu vụ thảm sát với công chúng, nhưng giải thích rằng đây là do nhu cầu quân sự. Báo cáo còn đề nghị chính phủ Mỹ đưa Liên Xô ra Tòa án Công lý Quốc tế vì hành vi này, nhưng chính phủ Mỹ đã không thực hiện, mặc dù ủy ban đặc biệt đã đưa ra kết luận mạnh mẽ như vậy.
Việc Serov phanh phui vụ trại lính Rhine lần này đã khơi dậy những cáo buộc về tội ác chiến tranh của Mỹ. Chỉ trong thời gian ngắn, lòng căm thù của người dân Đức đối với Mỹ tăng cao, toàn bộ Tây Đức từ trên xuống dưới đều tràn ngập sự hoài nghi về Mỹ. Mặc dù quân Mỹ không lo ngại việc mất đi sự ủng hộ của người Đức hay việc họ dám phản đối sự hiện diện quân sự, nhưng bảy trăm năm mươi ngàn quân đội quốc phòng Đức chỉ bằng mặt không bằng lòng sẽ khiến cán cân lực lượng vốn đã chênh lệch giữa NATO và Khối Warszawa càng trở nên xa vời.
Có thể nói, với việc vụ trại lính Rhine bị phanh phui, lực lượng hùng mạnh nhất của NATO (ngoài Mỹ), tức bảy trăm năm mươi ngàn quân đội quốc phòng Đức, có khả năng sẽ bỏ chạy mà không cần giao chiến khi chiến tranh nổ ra. Tổn thất này là chí mạng đối với NATO, vốn đã có lực lượng bộ binh không bằng Khối Warszawa. Khi mất đi quân đội quốc phòng Đức, NATO thậm chí sẽ không thể trấn an được người dân Tây Âu.
Trong mấy thập kỷ qua, vị thế của quân đội Mỹ tại Tây Đức chưa bao giờ yếu ớt đến thế. Thậm chí xung quanh các căn cứ của lính Mỹ đồn trú tại Đức, binh lính Mỹ đã có thể cảm nhận được sự mâu thuẫn dồn nén trong lòng người Đức. Thứ "bạo lực mềm" này khiến tất cả binh lính Mỹ đều cảm thấy không thoải mái.
Cú đả kích lớn hơn nữa nằm ở phương diện sĩ khí. Dù Serov từng chế giễu quân đội Mỹ chẳng qua là lính đánh thuê được vũ trang bằng tiền tài, nhưng quân đội của bất kỳ quốc gia nào cũng đều có nền tảng tinh thần riêng, nói cách khác, binh lính trước khi ra trận đều phải trải qua quá trình "tẩy não". Liên Xô đã sử dụng tư tưởng tập thể và tinh thần phục vụ nhân dân một cách toàn diện để đảm bảo sức chiến đấu của lực lượng vũ trang. Quân đội Mỹ tuy không thấm nhuần các giá trị này vào mọi khía cạnh của toàn quân như Liên Xô, nhưng họ cũng có một nền giáo dục yêu nước tương tự.
Thêm vào đó là chế độ đãi ngộ hậu hĩnh, nên dù tinh thần của quân đội Mỹ không mạnh mẽ bằng quân đội Liên Xô với khẩu hiệu "thà chết chứ không đầu hàng", họ vẫn giữ vững được niềm tin đối đầu. Về tư tưởng quân đội, hai nước vẫn có những điểm khác biệt nhất định. Liên Xô nhấn mạnh tính tập thể, sự an nguy cá nhân bị vô tình hay cố ý xem nhẹ, và cũng có thể dung thứ một số tội ác chiến tranh. Tuy nhiên, KGB cuối cùng sẽ tiến hành "tính sổ" và thu thập những "tội ác" của Hồng quân để xoa dịu sự phẫn nộ của dân chúng.
Quân đội Mỹ từ trong tư tưởng không hề tin rằng Mỹ từng thực hiện những hành vi ngược đãi tù binh quy mô lớn một cách cố ý như vậy. Người Mỹ có thể chấp nhận vụ trại lính Rhine xảy ra với Liên Xô, nhưng họ hoàn toàn không có sự chuẩn bị tinh thần cho việc nó lại diễn ra trong chính quân đội của mình.
Mỹ đã đề cao giá trị nhân quyền quá mức, đến nỗi ngay cả những binh lính Mỹ bình thường cũng tin tưởng vào điều đó. Trong khi đó, Liên Xô vẫn có một lực lượng Bộ Nội vụ hoàn toàn không tin vào những điều này. Việc Reagan công khai thừa nhận sự tồn tại của trại lính Rhine đã khiến binh lính Mỹ đồn trú tại Đức vô cùng đau đầu và khó xử.
Sự khó xử này không kéo dài lâu. Chỉ một ngày sau, Cục Tình báo Trung ương Mỹ đã công bố báo cáo điều tra về vụ thảm sát Katyn từ những năm 1950, tuyên bố Liên Xô là thủ phạm gây ra vụ án. Vụ thảm sát Katyn một lần nữa được nhắc đến, đẩy vụ trại lính Rhine vào giai đoạn gay cấn hơn. Các tờ báo có ảnh hưởng của Mỹ đồng loạt đăng lại, một cuộc chiến truyền thông quy mô lớn với thanh thế rầm rộ đã bắt đầu.
Tại Warsaw (Ba Lan), hàng trăm ngàn người biểu tình đã đổ xuống đường, yêu cầu Tổng Bí thư Jaruzelski buộc Liên Xô công bố chi tiết vụ thảm sát Katyn. Họ muốn biết liệu Liên Xô có thực sự là thủ phạm hay đây chỉ là âm mưu bôi nhọ từ phía Mỹ.
Làn sóng phản đối dữ dội đã đẩy Ba Lan vào tình thế căng thẳng, đồng thời khiến Tổng Bí thư Jaruzelski của Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan vô cùng đau đầu. Ba Lan luôn là "đứa trẻ có vấn đề" trong mắt khối xã hội chủ nghĩa. Vụ thảm sát Katyn quả thực hết sức nghiêm trọng, và ông còn phải cân nhắc đến thái độ của Liên Xô.
Vụ trại lính Rhine và vụ thảm sát Katyn đan xen vào nhau, trở thành công cụ để Mỹ và Liên Xô công kích, chỉ trích lẫn nhau. Sau khi bị một cú "đánh úp", Reagan cũng không quên "trả đũa" Serov.
"Thưa Tổng Bí thư, tại Warsaw (Ba Lan) đang bùng nổ làn sóng phản đối. Liệu chúng ta có nên gây áp lực để Tổng Bí thư Jaruzelski nhanh chóng vãn hồi trật tự tại Ba Lan không?" Đại tướng Chebrikov lo lắng hỏi.
"Không thể làm như vậy, chẳng lẽ đó không phải là tự thừa nhận Liên Xô chột dạ sao?" Serov tuy có chút choáng váng vì cú "đánh úp" của Reagan, nhưng ông lập tức trấn tĩnh lại và nói: "Ngay lập tức yêu cầu báo Sự Thật của Đoàn Thanh niên Cộng sản phản bác, chỉ trích Mỹ đã làm giả chứng cứ. Nếu loại bằng chứng này thực sự tồn tại, tại sao suốt mấy chục năm qua họ không công bố? Rõ ràng đây chỉ là nhằm chuyển hướng sự chú ý khỏi vụ trại lính Rhine."
"Tôi đã rõ. Đồng chí Ligachyov cũng đã để ý đến việc này rồi." Chebrikov cũng nhận thấy rằng việc trấn áp sẽ chỉ gây ra phản tác dụng.
"Chebrikov, kỳ thực chúng ta đã thắng. Bây giờ, Mỹ đang tự bôi nhọ mình cùng với chúng ta, họ đã không còn quan tâm đến những nguyên tắc nhân quyền mà chính họ đề xướng. Đây đã là một chiến thắng." Serov hoàn toàn tỉnh táo lại, lạnh nhạt nói: "Mỹ nghĩ rằng việc đưa ra bằng chứng cáo buộc chúng ta gây ra vụ thảm sát Katyn có thể làm giảm nhiệt vụ trại lính Rhine sao? Tôi nói cho ông biết, tôi đã sớm có sự chuẩn bị rồi."
Việc Mỹ tự bôi nhọ mình cùng Liên Xô chẳng đáng sợ chút nào. Huống hồ, Serov đã để ý đến vụ thảm sát Katyn từ rất nhiều năm trước. Ban đầu, ông không chỉ đốt trụi toàn bộ hồ sơ gốc mà còn ngụy tạo một bản hồ sơ chi tiết và cất giữ tại Stasi. Thậm chí, ông còn phái sát thủ đến Mỹ để "xử lý" những nhân chứng biết chuyện về vụ thảm sát Katyn được điều tra vào những năm 1950. Nếu Reagan thực sự quan tâm đến vụ thảm sát Katyn, ông ta sẽ biết rằng tất cả "nhân chứng" được đề cập trong báo cáo điều tra của Mỹ hiện tại đều đã chết vì bệnh tật hoặc tai nạn trong những năm 1960 và 1970.
Về hồ sơ vụ thảm sát Katyn của Liên Xô, ngoài Brezhnev và Khrushchev đã qua đời, hiện tại trên thế giới chỉ còn hai người biết: Serov và Shelepin – người từng đề nghị Khrushchev tiêu hủy hồ sơ.
Báo cáo của Mỹ nhằm công kích Liên Xô về vụ thảm sát Katyn cũng khiến mọi người "mở ra" một đoạn ký ức bị lãng quên. Giống như vụ trại lính Rhine, vụ thảm sát Katyn cũng là một vụ án bí ẩn trong Thế chiến II. Các quốc gia vội vã đứng về phe Mỹ hoặc Liên Xô, chỉ trích những "vết đen" của đối phương. Tuy nhiên, về lâu dài, cuộc chiến dư luận này vẫn gây tổn thất lớn nhất cho Mỹ.
Là một đặc vụ cấp cao không muốn chịu bất kỳ tổn thất nào, Serov cũng không định "gánh" vết nhơ này. Vụ thảm sát Katyn tuyệt đối không thể để Liên Xô thừa nhận. Thứ lương tâm ít ỏi đó thà để chó ăn, huống hồ, giết chết một nhóm kẻ thù giai cấp từ góc độ của giai cấp vô sản thì không có gì sai. Còn về việc Ba Lan và Liên Xô có thù oán, hay chuyện ngược đãi tù binh Hồng quân, tất cả đều có thể tạm gác lại.
Báo Sự Thật của Đoàn Thanh niên Cộng sản đã đăng bài chuyên đề, chỉ ra những điểm nghi vấn trong cái gọi là "sự thật" về vụ thảm sát Katyn mà Mỹ vừa công bố. Bài báo khẳng định Mỹ đang ở thế yếu vì che giấu vụ trại lính Rhine, nên mới bôi nhọ Liên Xô nhằm đạt được mục đích thầm kín của mình.
"Vụ thảm sát Katyn từ lâu đã có công luận, đó là tội ác chiến tranh do Đế chế thứ ba gây ra năm xưa. Mỹ đang sử dụng thủ đoạn "gắp lửa bỏ tay người" để vu khống Liên Xô, đây là một kiểu tấn công dư luận không có giới hạn, cung cấp những bằng chứng đầy rẫy sơ hở, không đáng tin cậy chút nào."
Báo Sự Thật của Đoàn Thanh niên Cộng sản đã nhanh chóng phản bác báo cáo điều tra của Mỹ, đồng thời tuyên bố Liên Xô đã sớm có kết quả điều tra riêng.
"Bây giờ, chính là lúc Đông Đức cần xuất hiện!" Serov vừa vuốt chuỗi hạt ngọc phỉ thúy trên tay vừa cười lớn. Ông tin rằng việc dùng vụ thảm sát Katyn để "làm bài" đã không còn hiệu quả từ hai mươi năm trước rồi.
Vài ngày sau khi Mỹ và Liên Xô liên tục công kích lẫn nhau, Tổng Bí thư Trung ương Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Đông Đức, Honecker, đã lên tiếng về vụ thảm sát Katyn đang gây xôn xao dư luận. Xuất hiện trước công chúng, Honecker với vẻ mặt nặng nề, mang theo lời xin lỗi chân thành nói: "Trên thực tế, bộ phận lưu trữ hồ sơ của chúng tôi đang giữ báo cáo điều tra liên quan đến vụ thảm sát Katyn. Sau khi có kết quả điều tra ban đầu, chúng tôi đã thông báo cho Moscow, và các đồng chí Liên Xô đã khuyên chúng tôi nên giữ bí mật, bởi vì Đông Đức không hề liên quan đến Đế chế thứ ba trước đây, và nhân dân Đông Đức cũng là nạn nhân của sự bành trướng từ Đế chế thứ ba."
Sau đó, Đông Đức đã công bố một báo cáo dài hơn mười ngàn trang. Một số cựu chiến binh Thế chiến II, được Stasi sắp xếp, đã đứng ra thừa nhận rằng chính đơn vị của họ đã thực hiện vụ thảm sát Katyn.
Ngay sau đó, Tổng Bí thư Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan Jaruzelski đã bay gấp đến Berlin để gặp Honecker. Ông yêu cầu được xem xét các hồ sơ về vụ thảm sát Katyn do Đông Đức lưu trữ và đã được Honecker đồng ý. Giữa Đông Đức và Ba Lan, sự chú ý ngay lập tức chuyển hoàn toàn sang vụ thảm sát Katyn. Báo cáo về Katyn đã hoàn toàn lu mờ báo cáo về trại lính Rhine.
"Việc cứ mãi ôm giữ thù hận trong quá khứ là vô nghĩa. Tôi hy vọng Đông Đức và Ba Lan hãy xem trọng sự đoàn kết của khối xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là lý do ban đầu tôi đề nghị Đông Đức không công bố hồ sơ vụ thảm sát Katyn. Tất cả chúng ta đều hiểu rằng Đông Đức và Đế chế thứ ba hoàn toàn khác nhau, và những tội ác chiến tranh từ bốn mươi năm trước không nên đổ lên vai người dân Đông Đức hiện tại."
Trong tuyên bố của mình về vụ thảm sát Katyn, Serov đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đoàn kết trong khối xã hội chủ nghĩa theo quan điểm của Moscow. Tuyên bố này không hề che giấu khía cạnh đế quốc chủ nghĩa của Liên Xô. Tuy nhiên, chính thái độ này lại khắc họa Liên Xô là một cường quốc bá đạo trong nhận thức của nhiều quốc gia. Và cũng chính thái độ mang tính đe dọa này lại càng tăng thêm độ tin cậy.
Vậy thì sao? Chuyện này chắc chắn là do Mỹ bôi nhọ Liên Xô để chuyển hướng sự chú ý khỏi vụ trại lính Rhine. Điện Kremlin đã yêu cầu Mỹ tìm ra những nhân chứng được cung cấp trong hồ sơ. Tất cả mọi người đều đổ dồn ánh mắt về phía Mỹ.
"Sau vụ này, uy tín của Mỹ sẽ sụp đổ hoàn toàn." Serov không hề lo lắng một chút nào, chẳng lẽ Reagan có thể khiến người chết "mở miệng" ư?
Mọi nỗ lực biên tập và chuyển ngữ cho văn bản này đều thuộc về truyen.free.