(Đã dịch) Đại Thời Đại 1958 - Chương 1010: Định kế hoạch tác chiến
Serov tin rằng Liên Xô biết rõ tầm quan trọng của Trung Đông đến mức nào, vậy nên chắc chắn Mỹ cũng sẽ biết. Điều này dựa trên cơ sở Mỹ và Liên Xô là đối thủ ngang tầm. Nếu kênh đào Suez nằm trong tay Liên Xô, tuyến đường điều động quân lực của Mỹ sẽ gặp khó khăn. Liệu điều kiện bất lợi này có khiến Mỹ phải thỏa hiệp và không can thiệp vào cuối cùng không? Chắc chắn là không thể.
Chỉ cần Iraq và Iran quyết định chiến tranh để chuyển hướng mâu thuẫn và đẩy giá dầu lên cao, bất kể giao thông có bất tiện đến đâu, địa hình có hiểm trở thế nào, Mỹ vẫn sẽ điều động đại quân từ châu Mỹ đến. Đây không phải là điều Liên Xô có thể ngăn cản bằng lời kháng nghị. Không ai có thể dùng lời nói suông để ngăn cản Mỹ. Triều Tiên, Việt Nam vốn không có lợi ích trọng yếu gì mà Mỹ còn có thể vượt Thái Bình Dương để tác chiến. Huống chi là Trung Đông?
Cho rằng Mỹ không dám gây chiến, sợ thương vong, là một cách nhìn hết sức ngây thơ. Việc Mỹ có được vị thế như ngày nay không phải nhờ hai cuộc đại chiến đem lại tài sản, mà là tài sản được đánh đổi bằng xương máu, tích tụ từ sinh mạng con người. Để viện trợ Trung Quốc, tuyến đường vận tải The Hump đã chứng kiến vô số máy bay rơi rụng, đến mức trên dãy Himalaya, mảnh vỡ máy bay nhôm dưới ánh nắng trông như những điểm sáng lấp lánh; chiếc Memphis Belle lừng danh, chỉ vì hoàn thành 25 nhiệm vụ ném bom mà được đưa lên màn ảnh, cho thấy số lượng phi hành đoàn được cử đi ném bom nước Đức có thể sống sót qua hai mươi tư nhiệm vụ là rất ít ỏi.
Tin rằng Mỹ sẽ không ra mặt vì một vài nước nhỏ, đó chỉ là những suy nghĩ một chiều. Có những việc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại liên quan đến uy tín và quyền bá chủ của Mỹ. Đối với Liên Xô cũng vậy, chỉ cần Serov hiện tại lên tiếng ủng hộ việc Iran-Iraq xuất binh, khi Mỹ đến can thiệp, Liên Xô nhất định sẽ phải ra tay đối đầu trực diện với Mỹ.
Khi đứng trước những quyết sách thực sự quan trọng, Liên Xô không thể trông chờ Mỹ sẽ không dám hành động. Tất nhiên, sự quyết tâm này cũng là hai chiều: sau khi Mỹ ra quyết định, liệu Liên Xô có quyết định tương tự không? Đó là vấn đề của Serov, và lựa chọn của ông là ứng chiến.
“Hoặc là chiến tranh thế giới, hoặc là đại chiến Trung Đông, tôi tin rằng khả năng xảy ra vế sau lớn hơn rất nhiều.” Serov lúc này vẫn giữ đầu óc tỉnh táo để suy nghĩ, ông nhận thấy cần phải tham khảo tư duy của Reagan. Chiến tranh Lạnh là gì? Chúng ta thắng, họ thua – đó chính là Chiến tranh Lạnh...
Theo cách suy nghĩ đơn giản hóa này, chiến tranh thế giới hay đại chiến Trung Đông, cái nào có khả năng xảy ra cao hơn? Hẳn là đại chiến Trung Đông. Vì vậy, khi lên kế hoạch ứng phó chi tiết cho đại chiến Trung Đông, tốt nhất là chuẩn bị cho kịch bản xấu nhất: chiến tranh thế giới.
“Bởi vì chiến tranh Iran-Iraq chưa bùng nổ, quân lực của Iraq và Iran trong thời điểm này không mạnh mẽ như trong lịch sử, nhưng vẫn không phải là vấn đề!” Serov khoa tay múa chân trên giấy, vạch ra lực lượng của hai phe ở Trung Đông.
Với tư cách là quốc gia chịu trách nhiệm trực tiếp, hiện tại Iraq có nửa triệu binh lính, hơn sáu ngàn xe tăng, hơn hai ngàn xe bọc thép. Lực lượng quân sự của Kuwait không phải là không có, nhưng hoàn toàn không thể sánh bằng Iraq. Có thể nói, ngay cả khi quân lực Iraq chỉ ở mức trung bình khá, họ vẫn có thể tiêu diệt Kuwait chỉ trong một ngày đêm.
Hiện tại, Kuwait là một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới, với dự trữ ngoại hối ước tính 80 tỷ USD và tài sản ở nước ngoài lên đến 100 tỷ USD. Thu nhập từ dầu mỏ hàng năm đạt hơn 10 tỷ USD. Kuwait là một trong số ít quốc gia Trung Đông giỏi về đầu tư, và họ đã sớm lường trước rằng dầu mỏ không thể tự mình mang lại sự bình yên vô lo. Thậm chí, thu nhập từ các khoản đầu tư ở nước ngoài của họ đã vượt qua thu nhập từ dầu mỏ trong nước. Trong tình huống này, Kuwait đương nhiên không muốn thống nhất với Iraq – đây là cách nhìn vấn đề từ góc độ của Kuwait.
Iraq là một quốc gia khai thác và xuất khẩu dầu mỏ, do đó đường bờ biển có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đường bờ biển của Iraq chỉ dài hơn 50km, và cửa biển duy nhất còn bị hai hòn đảo của Kuwait đe dọa. Về vấn đề cửa biển này, Liên Xô là quốc gia có quyền lên tiếng nhất; hãy thử nghĩ về lịch sử của Liên Xô và cả Nga, đã có bao nhiêu cuộc chiến tranh nổ ra vì vấn đề cửa biển.
Iran có dân số và diện tích lớn hơn Iraq, hiện tại có 650.000 quân nhân, sở hữu không quân mạnh nhất Trung Đông, cùng với lực lượng hải quân mạnh nhất Trung Đông nhưng hiện đang được phối thuộc cùng Liên Xô. Sở dĩ gọi là 'phối thuộc' với Liên Xô là bởi vì các chiến hạm cỡ lớn của hải quân Iran, do Liên Xô và Iran đã ký kết hiệp ước hỗ trợ, được sắp xếp để phối hợp với Hạm đội Địa Trung Hải của Liên Xô.
Nếu hải quân Iran vẫn đóng tại các cảng của nước mình, Hạm đội 5 của Mỹ chắc chắn sẽ không rời Bahrain, và mục tiêu của Iran cũng sẽ không đạt được. Qua sự so sánh giữa Iran với Bahrain, và Iraq với Kuwait, có thể thấy Liên Xô đang chiếm ưu thế tuyệt đối.
Ở vòng ngoài, đồng minh của Mỹ còn có Saudi Arabia, Qatar. Trong khi đó, Liên Xô có Nam Yemen và Syria. Mỹ có Thổ Nhĩ Kỳ, Liên Xô có người Kurd. Nếu tính thêm Oman, quốc gia thân Anh, thì phía Liên Xô còn có Ai Cập. Tuy nhiên, việc Anh có ảnh hưởng đến Oman và liệu Jordan có được coi là một phần của vòng tròn đồng minh Mỹ hay không, lại là một vấn đề khác.
Cân nhắc đến việc bà Thatcher vẫn kiên trì giữ vững vị trí Thủ tướng, Serov vẫn tính Oman và Jordan vào danh sách này. Thoạt nhìn là một cuộc đối đầu một chọi một, nhưng trên thực tế, bên dưới bề mặt còn là sự hợp tung liên hoành của chính các quốc gia Trung Đông, điều không thể nói rõ chỉ bằng một vài câu chữ.
Nếu xét về viện trợ từ bên ngoài, Khối Warszawa gần Trung Đông hơn về mặt địa lý. Sau khi đánh bại Thổ Nhĩ Kỳ và thành lập Sovietgrad, tuyến vận chuyển qua Địa Trung Hải cũng sẽ mang lại ưu thế cho Liên Xô. Nhìn chung, nếu chiến tranh nổ ra, các nước đồng minh của Liên X�� sẽ chiếm ưu thế.
Tất cả những ưu thế này đều chỉ tồn tại khi Mỹ không trực tiếp ra tay. Nếu Mỹ tham chiến, tất cả những ưu thế đó về cơ bản sẽ bị Mỹ hóa giải. Việc khai chiến theo đường vòng có thể khiến Mỹ tốn thêm một chút chi phí vận chuyển, nhưng không thể thay đổi được sự thật rằng quân lực của Mỹ vượt trội hơn hẳn so với tất cả các quốc gia khác, ngoại trừ Liên Xô.
Chỉ có Liên Xô mới có thể đối chọi được với quân đội Mỹ, và chỉ có quân đội Mỹ mới là đối thủ của Hồng quân Liên Xô. Những loại binh đoàn như của Mỹ không thể bị đánh bại chỉ bằng việc chồng chất số lượng. Có lẽ Iran có thể lợi dụng lãnh thổ sâu rộng của mình để cầm chân quân đội Mỹ. Các quốc gia Trung Đông còn lại, phần lớn là những quốc gia sa mạc tương tự Libya, Mỹ đánh họ cũng không khó khăn hơn đánh Libya là bao.
“Điểm mấu chốt vẫn nằm ở Ai Cập. Hạm đội Địa Trung Hải cần năm ngày để vượt kênh đào Suez và đến Vịnh Ba Tư. Nếu kênh đào Suez mở cửa cho Mỹ, thời gian cũng xấp xỉ như vậy!” Serov phác thảo kế hoạch chiến tranh, cuối cùng vỗ bàn lẩm bẩm: “Cứ làm theo cách này! Nếu họ đủ can đảm đến, tôi sẽ thử xem năng lực tác chiến đường bộ của quân đội Mỹ.”
Vài ngày sau, Nguyên soái Akhromeev lại trình lên một kế hoạch khác, lấy danh nghĩa quân Mỹ trợ giúp Kuwait và Bahrain để tấn công Iraq và Iran. Kế hoạch này bao gồm toàn bộ vấn đề chọn phe của các quốc gia Trung Đông, số lượng căn cứ quân sự Mỹ có thể sử dụng, tốc độ điều động quân lực nhanh nhất từ chính quốc Mỹ, thậm chí vai trò của Australia...
“Australia?” Serov không biểu lộ thái độ rõ ràng về quốc gia này. Điều kiện để phát động chiến tranh Trung Đông là lấy Indonesia làm khởi điểm: khi Australia xuất hiện nguy hiểm, Hạm đội 5 của Mỹ và Hạm đội 7 đang đóng ở Nhật Bản sẽ được điều đi bảo vệ, đồng thời đe dọa Indonesia. Tất nhiên, trong kịch bản này còn có vai trò của Hạm đội Thái Bình Dương Liên Xô.
Một khi Hạm đội 5 của Mỹ rời khỏi Vịnh Ba Tư, đó chính là thời điểm bắt đầu cuộc tấn công chớp nhoáng ở Trung Đông. Serov lần này đã phê chuẩn kế hoạch của Bộ Quốc phòng: Hạm đội Địa Trung Hải của Liên Xô sẽ chặn Hạm đội 6 của Mỹ. Mặc dù sức mạnh của Hải quân Liên Xô có phần kém hơn một chút, nhưng với sự hỗ trợ từ các quốc gia ven biển như Hy Lạp, Syria và Ai Cập (đang trấn giữ kênh đào Suez), việc ngăn chặn Hạm đội 6 sẽ không thành vấn đề.
Đối với một vùng biển rộng lớn như Địa Trung Hải, ưu thế hải quân của Mỹ sẽ không thể phát huy hết. Liên Xô có thể tận dụng nhiều quốc gia trên đất liền như Libya, Ai Cập, Albania, Nam Tư, Hy Lạp v.v... và các máy bay tiêm kích lục địa dọc bờ biển có thể bù đắp cho lực lượng không quân yếu hơn của Hải quân Liên Xô.
Việc ngăn chặn viện trợ của Hạm đội 6 chỉ là một biện pháp ứng phó linh hoạt. Chỉ cần Mỹ có quyết tâm, họ sẽ biết rằng, như Serov đã dự đoán, không có bất kỳ văn kiện nào có thể trở thành lý do để tầng lớp hoạch định chính sách của Mỹ rút lui.
“Hải quân của chúng ta không phù hợp cho các trận hải chiến lớn trên đại dương, nhưng xét tình hình khu vực Biển Ả Rập, chúng ta hoàn toàn có thể đ���i đầu với hải quân Mỹ!” Trong toàn bộ căn phòng làm việc, chỉ có Nguyên soái Akhromeev và Serov. Đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã giới thiệu chi tiết phương án ứng phó của phe Liên Xô nếu chiến tranh diễn ra từ Biển Ả Rập.
Thời kỳ Liên Xô có thanh thế lớn nhất là những năm 70, nhưng quân lực hùng mạnh nhất lại không phải vào thập niên đó. Đầu những năm 80, Lục quân đã đạt được ưu thế tuyệt đối so với NATO. Còn về Hải quân Liên Xô thì sao? Điều này còn tùy thuộc vào thời gian. Nếu chiến tranh bắt đầu trong năm nay, Hải quân sẽ hùng mạnh nhất trong năm nay; nếu bắt đầu từ sang năm, thì sẽ là sang năm.
Bởi vì Hải quân Liên Xô vẫn đang liên tục xây dựng các chiến hạm mới, tương tự như hải quân Mỹ. So sánh hải quân hai nước hiện tại, Hải quân Liên Xô vẫn ở thế yếu hơn.
“Ý của đồng chí là dùng tàu ngầm hạt nhân để uy hiếp hải quân Mỹ?” Serov cảm thấy điều này dường như không đáng tin cậy.
“Hạm đội tàu ngầm 42 của Hạm đội Địa Trung Hải không thể hành động đơn độc. Bài học chúng ta rút ra từ Khủng hoảng tên lửa Cuba là phải có lực lượng mặt nước phối hợp với các đơn vị tàu ngầm!” Nguyên soái Akhromeev bày tỏ rằng mình không có ý đó, và giải thích rằng 'tàu ngầm sư' (sư đoàn tàu ngầm) chính là nghĩa đen của từ đó. Đó là một loại biên chế của Hải quân Liên Xô, lấy tàu ngầm hạt nhân làm trung tâm cho các tập đoàn tác chiến. Thậm chí còn có các sư đoàn chuyên chống ngầm, qua đó có thể thấy truyền thống lục quân sâu sắc của Liên Xô.
“Tổng Bí thư, nếu chúng ta điều động tám trung đội máy bay ném bom Backfire, phối hợp với ưu thế địa lý của chúng ta ở Vịnh Ba Tư và lực lượng hải quân của chúng ta, chúng ta có thể đồng thời đối phó với tám tàu sân bay.” Nguyên soái Akhromeev bảo đảm nói.
“Các cụm tác chiến tàu sân bay của Mỹ là mười lăm chiếc... Không đúng, còn phải tính đến không ít chiếc đang niêm cất.” “Liệu Hạm đội Địa Trung Hải cùng với các máy bay tiêm kích lục địa và phi đoàn ném bom Backfire có thể đối phó với tám tàu sân bay được không?” Serov suy nghĩ một lúc. Trong Chiến tranh Vùng Vịnh, dường như ba nước Mỹ, Anh, Pháp đã sử dụng tổng cộng chín tàu sân bay.
Saudi Arabia, Bahrain, Qatar, Oman, UAE, Thổ Nhĩ Kỳ và Diego Garcia có căn cứ không quân của Mỹ. Trong khi đó, Iran, Ai Cập, Nam Yemen, Syria, Iraq và người Kurd đều có căn cứ không quân của Liên Xô.
“Cảm ơn, đồng chí Akhromeev.” Serov lấy lại tinh thần. Ông vẫn luôn cho rằng Liên Xô đã vượt xa Mỹ, nhưng thực tế, sau khi phân tích kỹ lưỡng, Mỹ vẫn rất mạnh mẽ. Ông đã lưu lại phần kế hoạch này. Trên thực tế, nó đã có thể coi là một kế hoạch tác chiến hoàn chỉnh, và việc bố trí binh lực lục quân cũng không cần đối phương phải giải thích thêm.
Toàn bộ nội dung chuyển ngữ này được thực hiện bởi truyen.free, nghiêm cấm mọi hành vi sao chép và phân phối dưới bất kỳ hình thức nào.