(Đã dịch) Giám Bảo Cuồng Thiếu - Chương 882: Họa cây trúc tổ sư gia
Những bộ sưu tập bên ngoài của Lưu Kiến Hoa có chất lượng khá tốt.
Trước có bình mai men trắng khắc chìm thơ văn, sau có chén chiết yêu gốm Xu Phủ.
Giờ đây, chiếc tôn xuất kích men Quân Diêu màu tím hồng này càng là một bảo vật quý giá.
Lục Phi xem xét kỹ lưỡng chiếc tôn, sau đó giao lại cho Từ Mậu Thần. Anh cầm lấy một món đồ khác trên ảnh, một tuyệt phẩm khiến cảm xúc dâng trào.
Đó là một chiếc bình men đen Định Diêu.
Năm lò gốm danh tiếng thời Tống gồm: Quân, Ca, Nhữ, Quan, Định.
Đến nay, Lục Phi đã sưu tập đủ bốn loại trong số đó, thứ duy nhất còn thiếu chính là đồ sứ Định Diêu.
Định Diêu nổi tiếng nhờ sản xuất đồ sứ trắng.
Đồ sứ Định Diêu phần lớn là men trắng, ngoài ra còn có một số ít men đen, men tương, men nâu, men xanh lục và các loại khác.
Sứ trắng Định Diêu bắt đầu nổi danh từ thời Bắc Tống, còn kỹ thuật nung tạo sứ trắng Định Diêu thì đã có từ thời Đường.
Vào thời Đường, Định Diêu chuyên nung sứ men trắng và men vàng.
Đến thời Tống, nó phát triển nhanh chóng, danh tiếng vượt xa trước kia, sản xuất số lượng lớn sứ trắng, kế đến là các loại men đen, men tương, men xanh lục, sứ trắng khắc hoa chìm và nhiều loại khác.
Sứ trắng có xương gốm tinh xảo, chất gốm mỏng, bóng, men sứ trắng thuần khiết, dịu mắt, trên bề mặt có các vết chảy men (thường gọi là "nước mắt"). Men có chất như thủy tinh trắng, hơi ánh phấn, nên được gọi là Phấn Định, hay còn gọi là Bạch Định.
Các loại đồ sứ khác có xương gốm thô hơn, men màu hơi ngả vàng thì gọi là Thổ Định; màu tím gọi là Tử Định; màu đen như sơn thì gọi là Hắc Định.
Ngoại trừ đồ sứ men đen, đa số các sản phẩm Định Diêu đều có hoa văn trang trí.
Các kỹ thuật trang trí từ đầu Bắc Tống đến cuối thời kỳ này gồm nhiều loại như khắc chìm (hoạch hoa), chạm khắc nổi (khắc hoa) và in hoa văn (ấn hoa).
Ban đầu, kỹ thuật khắc chìm sử dụng các công cụ nhọn như que tre để tạo hình trên xương gốm.
Những đường nét khắc khá mảnh, độ sâu nông, hình ảnh toát lên vẻ tự nhiên và phóng khoáng.
Kỹ thuật chạm khắc nổi (khắc hoa) xuất hiện muộn hơn một chút.
Khắc hoa là dùng dao nhỏ chạm khắc trực tiếp lên xương gốm, thường áp dụng đao pháp "một mặt dốc", đường nét khắc rộng hơn, sâu hơn, tạo ra hình ảnh mạnh mẽ, dứt khoát.
Đôi khi, kỹ thuật khắc chìm và chạm khắc nổi cũng xuất hiện cùng trên một món đồ.
Hoa văn khắc chìm và chạm khắc ban đầu thường là cánh sen, cúc dây leo, lá tiêu, văn hồi... Sau đó xuất hiện thêm các họa tiết như hoa quả, vịt sen, cá và sóng nước, rồng mây. Ngoài ra, cạnh các họa tiết thường có những đường gân nhỏ để tạo cảm giác ba chiều, sống động.
Kỹ thuật in hoa văn (ấn hoa) là dùng khuôn mẫu in hình lên xương gốm, lần đầu xuất hiện vào giữa Bắc Tống và phát triển hoàn thiện vào giai đoạn cuối.
Các họa tiết in của Định Diêu đều có bố cục rõ ràng, đường nét dứt khoát, tinh xảo mà không rối mắt.
Chủ đề chính là hoa cỏ, trong đó nhiều nhất là mẫu đơn và hoa sen, sau đó là hoa cúc.
Có cả họa tiết dây leo và cành gãy, các đồ án đều chú trọng tính đối xứng.
Ngoài ra, các họa tiết cá và sóng nước, rồng phượng cùng các loại chim chóc cũng xuất hiện không ít. Hoa văn hoa cỏ thường được kết hợp với hoa văn động vật.
Đồ giả dĩ nhiên cũng có thể mô phỏng các đồ án khắc trên, nhưng thường thấy nét chạm khắc ngập ngừng, đường nét cứng nhắc, hình ảnh kém tinh xảo.
Còn kỹ thuật in hoa văn thì cho ra hình ảnh mờ nhạt, bố cục lộn xộn.
Đồ thật được chạm khắc với sự tự nhiên và thần thái sống động, hình ảnh có vẻ đẹp mượt mà, chỉ cần xem xét kỹ lưỡng là không khó để nhận ra.
Những dòng chữ này đều được khắc lên chân đế trước khi đưa vào lò nung, thường dùng thể khải thư. Tuy không quá chú trọng tính thẩm mỹ, nhưng lại thể hiện sự tự nhiên và mạnh mẽ.
Ngoài ra, còn có một số niên hiệu/dòng chữ liên quan đến kiến trúc cung đình, được các thợ ngọc trong cung khắc lên sau khi đồ vật được đưa vào. Ví dụ, dòng chữ "Phụng Hóa Cung Phụng Hóa" là một trong số đó.
Trong số các màu men của đồ sứ Định Diêu, men trắng được nung nhiều nhất, còn men đen thì ít nhất.
Đồ sứ Định Diêu men trắng có số lượng còn lại trên đời không ít, giá trị ở mức bình thường.
Ngược lại, đồ sứ Định Diêu men đen với số lượng hiếm hoi thì có giá cả cực kỳ đắt đỏ.
Món đồ trước mắt Lục Phi chính là một kiệt tác nổi bật trong dòng Định Diêu, một cực phẩm trong số các tinh phẩm: chiếc bình men đen Định Diêu.
Chiếc bình men đen này cao hai mươi centimet, đường kính miệng mười centimet, đường kính chân ��ế mười lăm centimet, kích thước tương đối lớn.
Miệng hình đĩa, cổ nhỏ, vai gập, thân thuôn dần xuống, chân đế hình vành khăn.
Toàn thân phủ men đen, bóng loáng đến mức có thể soi rõ hình bóng.
Mặt đáy chân đế lộ xương gốm, không có niên hiệu hay ký tự.
Đây thực sự là một món đồ quý giá.
Đến đây, Lục Phi đã sưu tập đủ cả năm lò gốm danh tiếng thời Tống.
Hơn nữa, tất cả đều là những tinh phẩm hàng đầu.
Lúc này, lòng Lục Phi tràn ngập cảm giác thành tựu.
Còn lại những món khác có thể lọt vào mắt xanh của Lục Phi, như vài món gốm Long Tuyền Diêu và tượng Tam Thái thời Đường, anh cũng không đích thân xem xét từng món.
Sau khi xem xong khu trưng bày đồ sứ, Lục Phi chuyển trọng tâm sang khu thơ họa.
Lưu Kiến Hoa không sưu tập nhiều tác phẩm thơ họa, nhưng mỗi bức đều là tinh phẩm.
Các tác phẩm của những đại sư cận đại như Trương Đại Thiên, Từ Bi Hồng, Tề Bạch Thạch… đều có mặt ở đây.
Danh họa cổ đại cũng có vài bức.
Đáng chú ý nhất trong số đó là tác phẩm "Song Câu Trúc Đồ" của họa sĩ nổi tiếng thời Nguyên Lý Diễn.
Bức họa này là tranh lụa vẽ màu, dài một mét sáu, rộng hơn một mét một chút.
Trong tranh tổng cộng có bốn cây trúc đan xen, cành lá sum suê.
Phía dưới là vài cây trúc nhỏ, cùng những gò đá cổ kính.
Lá trúc được chấm phá bằng mực đen, thể hiện rõ mặt sáng mặt tối.
Đá được vờn mực đậm nhạt, trông sinh động và nhiều sắc thái.
Bố cục hình ảnh cân đối, bút pháp tròn trịa, tinh tế, màu sắc trang nhã.
Tác giả còn thông qua việc miêu tả các cảnh vật xung quanh như đá nhỏ, cành khô, càng làm nổi bật phẩm cách "thanh cao thoát tục" của cây trúc.
Không có lạc khoản, nhưng ở giữa tranh có đóng hai con dấu thưởng thức là "Lý Diễn Trọng Hiền" và "Tức Tề".
Từ xưa đến nay, những bậc cao thủ vẽ trúc thần tình sống động nhiều không kể xiết.
Họa sĩ Văn Đồng thời Tống giỏi vẽ trúc thủy mặc, khai sáng "Hồ Châu Trúc Phái" và được hậu nhân tôn xưng là thủy tổ của hội họa trúc thủy mặc.
Ngoài Văn Đồng ra, Tô Đông Pha, Đường Bá Hổ, Trịnh Bản Kiều, Ngô Quan Đăng, cùng với họa sĩ nổi tiếng cận đại Ngô Xương Thạc, đều là những bậc thầy vẽ trúc.
Nhưng so với Lý Diễn, những người này còn kém xa.
Lý Diễn tinh thông vẽ cây khô, trúc, đá, giỏi vẽ trúc thủy mặc, đặc biệt xuất sắc ở song câu trúc. Ông cùng Triệu Mạnh Phủ, Cao Khắc Cung được mệnh danh là ba bậc thầy vẽ trúc lớn nhất đầu thời Nguyên.
Ông còn có cuốn "Trúc Phổ Tường Lục" ghi chép và phân tích tỉ mỉ về hình thái, đặc tính và các phương pháp vẽ trúc.
Về trúc thủy mặc, ban đầu ông theo học Vương Đạm Du, sau đó học Văn Đồng (Hồ Châu). Về vẽ màu, ông học Lý Pha, nổi tiếng khắp thời bấy giờ.
Sau này, Bá Kỷ từng khuyên ông dùng màu thay mực để vẽ trúc. Sau đó, ông học phương pháp vẽ song câu trúc bằng màu sắc từ cha con Lý Pha và Hoàng Thuyên.
Ông từng đi khắp các vùng núi non, sông ngòi, ao đầm ở Đông Nam, sau đó sang Giao Chỉ, thâm nhập những vùng đất có nhiều tre trúc. Ông đã phân tích kỹ lưỡng về hình dáng, đặc điểm của cây trúc; là một họa sĩ vừa có công lực thâm hậu về kỹ thuật truyền thống, vừa chú trọng học hỏi từ thiên nhiên.
Thời Nguyên, phong trào vẽ trúc rất thịnh hành, nhưng trong các thể loại vẽ trúc cũng có nhiều điểm nhấn nhỏ: ví dụ có người chuyên vẽ song câu trúc bằng màu xanh đậm và chấm phá bằng bút nhỏ.
Cũng có người chuyên vẽ trúc thủy mặc, chấm phá bằng những nét bút dứt khoát, mang phong thái thư pháp.
Lý Diễn là nhân vật tiêu biểu của hội họa trúc thủy mặc, ông đã sáng lập phong cách độc đáo trong vẽ trúc, thể hiện sự hòa quyện giữa hình và thần, theo đuổi vẻ đẹp u tịch, tự nhiên, tượng trưng cho vẻ đẹp nội tại và phẩm đức cao khiết của con người.
Lý Diễn còn có cuốn sách "Trúc Phổ", tổng kết kinh nghiệm vẽ trúc cả đời ông. Sách ghi chép tỉ mỉ về hình dáng, đặc điểm các loại trúc ở những vùng khác nhau, đồng thời trình bày và phân tích tường tận các phương pháp vẽ từng loại trúc.
Ông không chỉ đơn thuần vẽ cây trúc, mà còn nghiên cứu cực kỳ thấu đáo mọi thứ liên quan đến chúng.
Chỉ với nền tảng vững chắc như vậy, ông mới có thể vẽ nên những tác phẩm trúc thần tình sống động.
Đừng nghĩ Văn Đồng được coi là người khai sáng dòng tranh trúc thủy mặc.
Bởi vì Lý Diễn có biệt danh là "ông tổ vẽ trúc".
So sánh hai người, Văn Đồng hoàn toàn không thể sánh bằng Lý Diễn.
Có được tác phẩm của Lý Diễn, Lục Phi vô cùng phấn khích.
Đối với những món văn vật phụ lặt vặt còn lại, Lục Phi không muốn đích thân xem xét.
Anh cùng Từ Mậu Thần đóng gói riêng vài món báu vật quý giá và đặt chúng sang một bên.
Còn lại, anh gọi người của đội ngũ chuyên nghiệp Ngân hàng Bách Hoa đến để đóng gói thống nhất và tạm thời cất giữ trong kho bảo hiểm của Ngân hàng Bách Hoa tại Đài Loan.
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu trí tuệ của truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.