Huyền Đức - Chương 602: Lưu Bị ở thái học
Lần mở rộng quy mô lớn gần nhất của Thái học là vào năm Vĩnh Kiến thứ sáu đời Hán Thuận Đế, từ vài chục gian phòng nay đã mở rộng thành hai trăm bốn mươi tòa nhà với tổng cộng một ngàn tám trăm năm mươi gian phòng.
Mà từ lần mở rộng ấy đến nay đã tròn sáu mươi năm. Rất nhiều kiến trúc trong Thái học vẫn giữ nguyên hiện trạng của sáu mươi năm về trước, những năm gần đây chỉ được tu sửa nhỏ lẻ nên nhiều nơi đã xuống cấp trầm trọng, cần được trùng tu.
Bởi vậy, nhiệm vụ đầu tiên mà Lưu Bị giao phó cho tân Thái học Tế tửu chính là toàn quyền chủ trì công tác mở rộng và trùng tu Thái học một cách toàn diện.
Kế hoạch đề ra là mở rộng quy mô lên bốn trăm tòa nhà với ba ngàn năm trăm gian phòng, nhằm dung nạp số lượng Thái Học Sinh đông đảo hơn, đồng thời cung cấp cho họ không gian hoạt động và nơi học tập rộng rãi hơn.
Tương tự, theo đề nghị của Lưu Bị, việc triều đình cấp kinh phí cho việc mở trường của Thái học đã trở thành quy định. Hơn nữa, ngân khoản chi hàng năm đều có định mức và đã được tăng lên đáng kể so với mức ban đầu.
Song song đó, Lưu Bị yêu cầu Thái học phải đưa vào cơ chế thi cử cạnh tranh đã được thực hiện tương đối thành công tại Châu học Lương Châu.
Trong bối cảnh gia tăng số lượng tuyển sinh, Thái học cần áp dụng chế độ thi hàng tháng, thi giữa kỳ và thi cuối kỳ.
M��i tháng đều phải tổ chức thi, cứ nửa năm lại có một kỳ đại khảo. Một năm học có ít nhất mười lần khảo hạch trở lên, phàm là học sinh nào không thể vượt qua ba kỳ khảo hạch sẽ bị buộc thôi học.
Thái học không dung phế vật, chỉ cần tinh anh.
Ngoài ra, khi mãn ba năm học và đến kỳ tốt nghiệp, còn phải tổ chức một kỳ khảo hạch chung cuộc – đó là kỳ thi tốt nghiệp kéo dài suốt ba ngày, trong đó mọi kiến thức mà thí sinh đã học sẽ được kiểm tra toàn diện.
Chỉ khi vượt qua kỳ thi tốt nghiệp, học sinh Thái học mới chính thức được công nhận là tốt nghiệp, nhận được bằng cấp do Thái học ban bố. Dựa vào tấm bằng này, người tốt nghiệp Thái học mới có thể tiếp tục tham gia kỳ khảo hạch tuyển chọn nhân tài do triều đình chủ trì.
Tóm lại, Lưu Bị yêu cầu cải biến phong khí hư hỏng đã tồn tại lâu đời ở Thái học – nơi mà học sinh đông nhưng việc học hành lỏng lẻo, không khí học thuật kém nồng đậm, trở thành chốn “mạ vàng” chuyên dành cho các hoàn khố tử đệ. Ông muốn biến Thái học thành học phủ tối cao, th���c sự có thể bồi dưỡng những nhân tài kiệt xuất mà Đại Hán đang cần.
Tại hội nghị trong Gia Đức điện, Lưu Bị đã có một bài diễn thuyết hùng hồn về vấn đề này.
“Thuở ban sơ khi Thái học mới thành lập, chỉ vỏn vẹn có ba vị tiến sĩ và năm mươi học sinh. Thế nhưng, chính với quy mô khiêm tốn ấy, nơi đây đã liên tục sản sinh ra vô số nhân tài kiệt xuất, lập nên những chiến công hiển hách, đưa thế nước Đại Hán lên đến đỉnh cao. Vậy mà, vì sao giờ đây Thái học với ba vạn học sinh lại không thể đào tạo nổi mấy người ưu tú có thể thành danh lập nghiệp?
Căn nguyên vấn đề nằm ở chỗ tư tưởng xây dựng Thái học đã lệch lạc nghiêm trọng. Thái học không thực sự là một trường học, mà đã biến thành nơi “tô vẽ” lý lịch cho những hoàn khố tử đệ nhà giàu. Chẳng ai thực sự coi trọng việc học ở đây, mà chỉ tìm cầu một hư danh mà thôi.
Ngày xưa, Thái Học Sinh là rường cột của quốc gia, được triều đình trọng vọng. Thế nhưng đến ngày nay, Thái Học Sinh còn chút vinh diệu nào đáng nhắc đến chăng? Tuyệt nhiên không! Chỉ còn lại vô số chuyện nực cười! Tình cảnh này khiến ta vô cùng đau lòng. Chẳng lẽ số tiền quốc gia chi cho Thái học mỗi năm lại chỉ đổi lấy một kết quả như vậy sao?
Cứ mãi như vậy, Đại Hán còn có thể tuyển chọn được nhân tài ưu tú nào nữa? Bỏ ra biết bao công quỹ để rồi lại bồi dưỡng ra một đám phế vật chỉ biết đến việc dùng đũa, cầm bát mà ăn cơm sao? Nếu quả thực như thế, ta thà rằng Thái học đừng tồn tại, hãy dùng số tiền đó để sửa cầu lát đường, như vậy còn có ý nghĩa hơn nhiều!
Thái học, tuyệt đối không thể trở thành nơi dung dưỡng phế vật! Thái học, nhất định phải là học phủ tối cao, chuyên đào tạo tinh anh cho Đại Hán! Ta muốn Thái học trở thành nơi mà học sinh khắp thiên hạ đều hướng về, đều ngưỡng mộ! Ta muốn mỗi khi thiên hạ nhắc đến Thái học, ai nấy đều phải cảm thấy khát khao! Thái học! Nhất định phải được chấn hưng!”
Dưới sự thúc đẩy của Lưu Bị, kế hoạch cải cách Thái học đã được đưa vào chương trình nghị sự và nhận được sự công nhận nhất trí từ triều đình.
Về nội dung giáo dục và phương thức giảng dạy tại Thái học, triều đình đã giao toàn bộ quyền hạn cho Lưu Bị phụ trách. Ông và vị Thái học Tế tửu sắp nhậm chức sẽ toàn quyền xử lý, bởi lẽ triều đình chỉ mong muốn nhìn thấy thành quả, không truy xét quá trình.
Do đó, kể từ ngày này, những ngày tháng yên bình của các Thái Học Sinh sẽ chính thức chấm dứt.
Lưu Bị đã quyết đoán áp dụng toàn bộ những kinh nghiệm tiên tiến có sẵn từ Châu học Lương Châu vào Thái học. Ông còn ban hành một phương án khảo hạch vô cùng nghiêm ngặt, chỉ có hơn chứ không kém, với mục tiêu biến Thái học thành học phủ “nội cuốn” hàng đầu của Đại Hán.
Chỉ kẻ nào là "vua nội cuốn" mới có thể nổi bật, chỉ có "nội cuốn" mới là con đường dẫn lối. Một học phủ như vậy mới là một học phủ chân chính tốt.
Triều đình cấp phát ngân sách không phải để các ngươi đến học cách dùng đũa, dùng bát mà ăn cơm, cũng không phải để các ngươi đến đây giao du, tạo dựng quan hệ. Mục đích chính là để các ngươi ra sức học tập! Kẻ nào không nỗ lực học hành sẽ không có tư cách ở lại Thái học. Lưu Bị muốn các Thái Học Sinh phải "nội cuốn" thật mạnh!
Chỉ cần không chết vì thi cử, thì cứ thi cho đến chết!
Hãy học cho ta! Hãy thi cho ta! Hãy chong đèn đọc sách thâu đêm! Hãy dấn thân vào học hành gian khổ!
Lưu Bị, với vẻ mặt đỏ gay, trút hết những cảm xúc kìm nén trong lòng lên đầu các Thái Học Sinh.
Bởi vậy, các Thái Học Sinh bắt đầu chuỗi ngày sống trong ác mộng địa ngục. Quy định “ba lần thi không đạt chuẩn sẽ bị loại bỏ” trở thành lưỡi dao sắc bén treo lơ lửng trên đầu họ, khiến ai nấy đều không thể không coi trọng những quy tắc mới sắp được áp dụng tại Thái học.
Vì nhiều người vốn xuất thân từ việc học cổ văn kinh điển, ít nhiều đều có chút hiểu biết về lĩnh vực này, nên họ cho rằng các kỳ thi vẫn có thể qua loa mà vượt qua.
Thế nhưng, điều họ không ngờ tới là Lưu Bị không chỉ thiết lập chương trình học cổ văn kinh điển cho Thái học, mà còn bổ sung thêm rất nhiều khóa trình khác.
Chẳng hạn như môn số học, Lưu Bị đã đưa các tác phẩm như 《 Chu Bễ Toán Kinh 》 và 《 Cửu Chương Toán Thuật 》 vào Thái học, đồng thời định nghĩa toán học là môn bắt buộc phải thi, yêu cầu toàn thể Thái Học Sinh phải chuyên tâm nghiên cứu.
Kế đến là chuyên ngành nông học, tiêu biểu với tác phẩm 《 Phạm Thắng Chi Thư 》. Lưu Bị đã nhiều lần nhấn mạnh đạo lý “nông nghiệp là gốc rễ của quốc gia”, do đó ông yêu cầu Thái học, với tư cách là học phủ t���i cao, phải coi nông học là môn bắt buộc phải thi. Ông khẳng định rằng những tinh anh quốc gia được đào tạo tuyệt đối không thể là kẻ phế vật “tay chân vụng về, đến năm loại ngũ cốc còn không phân biệt nổi”.
Ngoài 《 Phạm Thắng Chi Thư 》, Lưu Bị còn cho tổng hợp và biên soạn các tài liệu giảng dạy nông học được sử dụng tại Châu học Lương Châu thành một bộ 《 Nông Vụ Toàn Thư 》 phiên bản Đông Hán. Ông cũng chỉ định đây là tài liệu giảng dạy chính thức, yêu cầu đưa vào giảng dạy và thi cử tại Thái học.
Bên cạnh nông học và toán học, còn có Thiên văn học và Địa lý học.
Lưu Bị đã cho sưu tầm các chuyên luận về lịch pháp và địa lý thời Đông Hán từ những ngóc ngách của tàng thư quán, rồi tổng hợp cùng với tài liệu giảng dạy đang được sử dụng ở Châu học Lương Châu. Từ đó, ông biên soạn thành hai bộ tài liệu chuyên sâu: 《 Thiên Văn Toàn Thư 》 và 《 Địa Lý Toàn Thư 》, dùng để giảng dạy và thi cử tại Thái học.
Như vậy, ngoài việc học tập các tác phẩm cổ văn kinh điển đại diện cho học thuật Nho gia, học sinh Thái học còn phải nghiên cứu toán học, nông học, thiên văn học và địa lý học. Các kỳ thi văn hóa cũng sẽ bao gồm năm hạng mục này, với toàn bộ đề mục được lựa chọn từ chính năm nội dung trên.
Bên cạnh đó, nhằm tăng cường thể phách cho học sinh, Lưu Bị còn quy định một chương trình thể dục bắt buộc, gán cho nó số điểm không hề thấp. Môn này cũng sẽ có hai kỳ thi giữa kỳ và cuối kỳ, mục đích là để nâng cao sự coi trọng của học sinh đối với việc rèn luyện thân thể.
Mỗi kỳ khảo hạch đều yêu cầu đánh giá trên cả hai phương diện văn hóa và thể phách. Bất kỳ học sinh nào yếu kém ở một trong hai phương diện đều không thể thuận lợi vượt qua kỳ khảo hạch.
Độ khó rất lớn, nhưng những ai có thể vượt qua khảo hạch ở cả hai phương diện này đều là người có nền tảng năng lực vững chắc. Cho dù chưa đạt đến trình độ tinh anh chân chính, họ cũng tuyệt đối không phải kẻ vô dụng.
Trước một loạt thay đổi mà Lưu Bị áp dụng tại Thái học, không ít người đã tỏ thái độ hoài nghi và phủ nhận.
Không ít lão học giả của Cổ văn học phái cho rằng việc công khai truyền thụ những môn học đó trong Thái học là không phù hợp. Họ lập luận rằng Thái học chỉ cần truyền thụ các kinh điển Nho gia là đủ, còn những kiến thức khác tự nhiên học sinh sẽ tự học được trong quá trình làm việc sau này.
Song, Lưu Bị lại kiên trì với quan điểm của mình, yêu cầu Thái học phải theo đuổi sự phát triển toàn diện cho học sinh, mong muốn họ nắm vững đầy đủ học thức ở mức tối đa.
Họ không chỉ đơn thuần là môn đồ của Cổ văn học phái, mà hơn hết, còn là đội ngũ quan viên dự bị cho quốc gia.
Lưu Bị nhận thức rõ tư tưởng của bộ phận thành viên Cổ văn học phái này. Giống như Kim văn học phái, họ chẳng qua chỉ mong Thái học trở thành nơi truyền bá tư tưởng, giáo lý của mình, củng cố vị thế chấp chính của Cổ văn học phái. Bản thân họ hoàn toàn không quan tâm học sinh có thể học được những gì bên trong đó.
Trong mắt họ, chính trị luôn quan trọng hơn giáo dục. Việc bồi dưỡng người ủng hộ Cổ văn học phái, thanh trừ dấu ấn c��a Kim văn học phái mới là điều tối quan trọng, hơn bất cứ điều gì khác.
Thế nhưng, Lưu Bị lại thực sự coi Thái học là một trường học đích thực, chuyên tâm vào giáo dục, thậm chí còn bổ sung thêm nhiều kỹ năng thực dụng. Điều này, một cách khách quan, đã làm suy yếu đi ý nghĩa chính trị của Thái học.
Đây chính là điểm khiến một bộ phận thuộc Cổ văn học phái cảm thấy bất mãn.
Và còn một điều nữa ——
Lưu Bị đã đường đường chính chính truyền thụ kiến thức cai trị cho những người này thông qua con đường công khai tại Thái học. Trong khi đó, ở quá khứ, những kiến thức cai trị dành cho quan chức cấp cao chỉ có con cháu của các gia tộc quyền quý và các đệ tử thân cận mới có thể thực sự học được. Ngay cả các môn sinh bình thường cũng không thể tiếp cận.
Theo quy tắc thông thường, các môn sinh bình thường chỉ có thể học được kiến thức cai trị dành cho chức tiểu lại, cao nhất là cấp bậc huyện lệnh. Muốn tiến xa hơn, họ không còn cách nào học được, bởi lẽ các chức vụ 【quan viên】 chân chính trong toàn bộ đế qu���c Đông Hán chỉ có chưa đến tám ngàn người, còn lại hàng trăm ngàn đều là tiểu lại.
Do đó, để độc quyền nắm giữ danh ngạch quan viên cao cấp, những kiến thức cai trị này chỉ có thể được lưu truyền hạn chế trong một bộ phận nhỏ người nội bộ. Họ tuân thủ nguyên tắc "chỉ truyền nam không truyền nữ, chỉ truyền nội bộ không truyền ra ngoài" – những điều tốt đẹp, chúng ta phải giữ riêng cho mình.
Thế nhưng, Lưu Bị lại trực tiếp mở rộng phạm vi này ra toàn thể Thái Học Sinh.
Thậm chí, ông còn áp dụng phương thức này tại cả Châu học Lương Châu và học phủ Tư Lệ.
Dù cho kiến thức cai trị mà ông truyền thụ chưa thực sự chạm đến phạm vi ứng dụng của quan chức cấp cao, nhưng việc phổ cập những kiến thức cai trị ở cấp bậc tiểu lại, huyện lệnh thông thường đến mức khiến người học có thể nâng cao năng lực vượt bậc như vậy, liệu có phải là một điều tốt?
Nếu có quá nhiều người được tiếp cận kiến thức cai trị như vậy, chưa nói đến việc liệu có đủ chức vị để bổ nhiệm hay không, chỉ riêng việc những người này trưởng thành rồi sẽ tạo ra tác động lớn đến thế nào đối với con cháu các gia đình quyền quý và các đệ tử thân tín?
Đây rõ ràng là một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến lợi ích của các đại gia tộc.
Tuy nhiên, Lưu Bị lại vô cùng cương quyết ở điểm này, kiên trì giữ vững lập trường của mình.
Ông nhất quyết phải biến Thái học thành một học phủ tối cao đường đường chính chính, chuyên đào tạo lớp lớp nhân tài ưu tú, chứ không phải là nơi dung dưỡng một đám kẻ ủng hộ Cổ văn học phái ngu dốt.
“Kim văn học phái chỉ lo tranh giành quyền khống chế Thái học, rồi sau đó lại dung dưỡng một đám phế vật "nói như rồng leo, làm như mèo mửa", khiến Thái học hoàn toàn trở thành trò cười thiên hạ. Trong các cuộc đấu tranh, họ chẳng những không mang lại chút trợ lực nào cho Kim văn học phái, mà ngược lại còn gián tiếp tạo cơ hội cho chúng ta.
Giờ đây chúng ta đang nắm giữ quyền thế. Nếu vẫn đi theo lối mòn của quá khứ, học theo cách làm việc của Kim văn học phái, thì chẳng bao lâu nữa, sẽ lại xuất hiện một đám người tương tự, thay thế chúng ta, khiến chúng ta chết không có đất chôn thân. Chẳng lẽ chư vị muốn nhìn thấy cảnh tượng đó sao?”
Tất cả bản quyền nội dung của bản dịch này đều thuộc về truyen.free.