(Đã dịch) Liên Xô 1991 (Tô Liên 1991) - Chương 429: Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển
Vì vậy, Yanaev không dám mắc sai lầm hay lùi bước trong bất kỳ cuộc đối đầu nào. Mỹ có thể sụp đổ rồi vực dậy, nhưng Liên Xô sụp đổ thì có lẽ sẽ chẳng còn cơ hội nào nữa.
Leon Panetta, Chánh Văn phòng Nhà Trắng, có phần không hài lòng với sự độc đoán của Tổng thống Mario trong các vấn đề quốc tế. Khi còn là Giám đốc Văn phòng Ngân sách, ông đã giúp xây dựng dự thảo ngân sách tài khóa năm 1993 và thành công giải quyết cuộc khủng hoảng ngân sách của chính phủ Mario ngay trong năm đó. Đúng vào cuối năm 1995, khi ông được bổ nhiệm làm Chánh Văn phòng Nhà Trắng, Thượng viện và Hạ viện do Đảng Cộng hòa kiểm soát đã tranh chấp gay gắt với Nhà Trắng cùng Đảng Dân chủ về việc cắt giảm ngân sách, dẫn đến việc chính phủ liên bang đóng cửa cho đến đầu năm 1996. Panetta, bấy giờ là Chánh Văn phòng của Tổng thống Mario, đã ra tay hỗ trợ thúc đẩy sự đồng thuận giữa hai đảng, giúp chính phủ liên bang vượt qua cuộc khủng hoảng này.
Công bằng mà nói, năng lực của Panetta đủ để hỗ trợ chính phủ Mario xử lý các vấn đề quốc tế, nhưng Tổng thống Mario lại không để ông ra tay. Không rõ là do không tin tưởng, hay ông chỉ muốn Chánh Văn phòng Panetta an phận thủ thường, làm tốt công việc của mình.
Tuy nhiên, một Panetta đầy tham vọng làm sao có thể bỏ lỡ cơ hội như vậy? Ngay khi Tổng thống Mario đang lo lắng vì không tìm được cơ hội làm Liên Xô bẽ mặt, Panetta đã mang kế hoạch của mình đến trình Tổng thống.
Kế hoạch về Công ước Luật Biển quốc tế.
Nhưng khi Tổng thống Mario cầm kế hoạch của Panetta, ông vẫn cảm thấy có chút băn khoăn. Với tư cách là quốc gia đã ký nhưng chưa phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, Tổng thống Mario có những cân nhắc riêng. Cho đến nay, giới kinh tế Mỹ có xu hướng cho rằng Công ước này coi tài nguyên biển là tài sản chung của nhân loại, thực chất là tài sản công. Quan niệm về loại tài sản này đã vi phạm nghiêm trọng chính sách kinh tế tự do của Mỹ. Hơn nữa, tiếng nói chủ đạo trong giới kinh tế còn cho rằng, tài sản công không thực sự đóng vai trò bảo vệ tài nguyên.
Yếu tố thứ hai đến từ phía chính phủ. Do Mỹ vẫn còn tranh chấp vùng biển với Canada và các nước khác, một số chính trị gia Mỹ cho rằng Công ước sẽ làm tổn hại chủ quyền của Mỹ. Một số người Mỹ khác lại cho rằng, Công ước thực tế đã giao phần lớn không gian của nhân loại – đại dương – cho các thành viên Liên Hợp Quốc vô trách nhiệm, độc tài, các quốc gia bất hảo và các quốc gia thất bại tha hồ lạm dụng.
Quan điểm phổ biến trong giới luật pháp Mỹ luôn cho rằng luật pháp quốc tế không nên ràng buộc Quốc hội và chính phủ Mỹ, đặc biệt là các tổ chức như Liên Hợp Quốc và các cơ quan trực thuộc, vốn không được hình thành theo phương thức dân chủ nghiêm ngặt. Việc tuân thủ các quy định liên quan của họ chỉ khiến một số quốc gia trục lợi, nhưng lại làm tổn hại đến chủ quyền của Mỹ. Do đó, Mỹ cũng không tham gia Công ước Rome về thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế. Chính phủ Mỹ còn có quan điểm rằng một điều khoản quan trọng của Công ước này là đảm bảo quyền tự do hàng hải trên biển cả, nhưng quyền này đã được đáp ứng trong hội nghị Công ước trước đó, không cần thiết phải ký kết một Công ước mới.
Cân nhắc đủ mọi yếu tố, việc Quốc hội Mỹ không phê chuẩn việc gia nhập Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển của Mỹ cũng là điều dễ hiểu. Nhưng lúc này, Tổng thống Mario vẫn muốn nghe ý kiến của Panetta, dù sao ông ấy cũng là Chánh Văn phòng Nhà Trắng, một nhân vật quyền lực chỉ sau Tổng thống Mỹ.
Tổng thống Mario liền đặt ra nhiều nghi vấn: “Mỹ hiện là cường quốc biển, sở hữu tài nguyên biển phong phú và lực lượng hải quân hùng mạnh, nên triết lý thị trường tự do cạnh tranh mới là hướng đi chúng ta theo đuổi. Vì vậy, tôi không muốn Công ước quốc tế về biển hạn chế các hoạt động trên biển của chúng ta. Hơn nữa, khi Tổng thống Reagan bác bỏ Công ước năm 1982, ông đã chỉ ra một số khuyết điểm của nó, đặc biệt là chúng ta không thể chấp nhận việc Cơ quan Quản lý Biển quốc tế có quyền sửa đổi các điều khoản mà không cần sự đồng ý của Mỹ, và các đối thủ cạnh tranh nước ngoài còn có thể, dựa vào Công ước, đưa Mỹ hoặc các công ty hàng hải của Mỹ ra tòa.”
Ý của Tổng thống Mario là hiện tại Mỹ không tham gia thì vẫn có thể tự do hành động mà không bị ràng buộc bởi các công ước quốc tế.
Tuy nhiên, Panetta phản bác: “Thực tế Mỹ đã tuân thủ rồi. Mỹ đã phê chuẩn Công ước năm 1958, và chính quyền Reagan cũng đã ra lệnh hành pháp, theo đó về cơ bản Mỹ sẵn sàng tuân thủ Công ước này, ngoại trừ một số điều khoản nhất định. Cái gọi là làm tổn hại chủ quyền Mỹ, hay tạo tiền lệ mở rộng sự chuyên quyền quan liêu của các tổ chức quốc tế, những lý do ấy không đủ sức thuyết phục.”
“Nếu thực hiện Công ước, chắc chắn sẽ đảm bảo được quyền tự do hàng hải trên biển. Trong thực tế, có hơn một trăm vùng biển và eo biển quốc tế quan trọng, nơi các tranh chấp đang cản trở tàu thuyền và thương mại của Mỹ. Nếu có một hiệp định thống nhất để quy định, sẽ hiệu quả hơn nhiều so với việc Mỹ ký các hiệp định song phương với từng quốc gia liên quan. Công ước còn cung cấp các phương tiện hòa bình để giải quyết tranh chấp, có ích cho cả việc giải quyết các vấn đề vùng biển Mỹ-Canada. Trong trường hợp đa số các quốc gia thừa nhận Công ước, nếu một quốc gia không thân thiện với chúng ta như Iran muốn phong tỏa eo biển Hormuz, Mỹ viện dẫn Công ước sẽ có sức nặng thuyết phục hơn, thay vì trực tiếp đơn phương sử dụng vũ lực.”
Tổng thống Mario gật đầu, “danh chính ngôn thuận”, đây quả thực là một trong những ưu điểm.
“Công ước quy định về việc mở rộng vùng biển thuộc quyền tài phán của Mỹ, cụ thể là Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) ở Alaska, Hawaii và các khu vực khác. Điều này thực chất là mở rộng vùng biển mà Mỹ có thể quản lý, mang lại lợi ích nhiều hơn là bất lợi. Mặt khác, việc Công ước bảo đảm EEZ sẽ khiến các doanh nghiệp khoan dầu ngoài khơi lớn của Mỹ sẵn sàng đầu tư và phát triển hơn. Trước đây, do thiếu sự bảo đảm, sự phát triển của ngành này đã gặp phải bế tắc.”
“Và điểm quan trọng nhất, chúng ta có thể dựa vào các điều khoản của Công ước Luật Biển quốc tế để dễ dàng hơn trong việc tạo cớ gây xung đột với các quốc gia có tranh chấp chủ quyền biển.”
Lời nói của Panetta khiến Tổng thống Mario sửng sốt: “Liên Xô ư? Ông muốn nói đến vấn đề quần đảo Kuril của Nga, hay vấn đề eo biển Thổ Nhĩ Kỳ? Tuy nhiên, trong tình hình hiện tại, cả hai vấn đề này đều được Liên Xô kiểm soát rất chặt chẽ, Mỹ hoàn toàn không có cơ hội can thiệp.”
“Đó chỉ là một trong những mục tiêu của chúng ta thôi. Đại dương rộng lớn như vậy, vậy đâu là quốc gia vừa là kẻ thù bề ngoài vừa là kẻ thù tiềm ẩn của Mỹ trong các vấn đề hàng hải có tranh chấp?” Panetta hỏi với vẻ bí ẩn.
“Ông nói là Trung Quốc sao?” Tổng thống Mario sửng sốt.
“Vâng, Trung Quốc.” Chánh văn phòng Nhà Trắng nhếch mép. “Thêm vào đó, vấn đề Biển Đông của Trung Quốc lại phức tạp hơn vấn đề quần đảo Kuril của Nga, đó là lý do tại sao chúng ta tham gia Công ước Luật Biển quốc tế. Bởi vì, Liên Xô và Trung Quốc, hai quốc gia này, chính là những hòn đá ngáng đường cuối cùng cản trở Mỹ bá chủ toàn cầu.”
Bản chuyển ngữ này là tài sản trí tuệ của truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.