(Đã dịch) Lưu Bị Đích Nhật Thường - Chương 15: Đốc Kháng tân thành
Một. Mười năm xây dựng Đốc Kháng
Trước tiên, xây xong cảng Đốc Kháng, đỗ đầy những con thuyền vận chuyển vật liệu lớn. Các cần trục tháp lần lượt cẩu những cây gỗ lớn lên, sau đó lắp đặt vào xe bò để chở đến công trường. Tại phần ruộng dốc gần cảng Đốc Kháng, con kênh Đốc Kháng đã đắp bờ được hơn một nửa. Phía đối diện, những con đê ly đình cùng bờ ruộng mới đắp để tích nước đã tạo thành hệ thống đập chắn ngang dọc, tạm thời chưa cần vội vàng xử lý. Vùng trạch nước rộng hàng trăm dặm bị kìm hãm giữa hai tuyến cống rãnh, có thể hình dung ra sự cuộn chảy xiết gào của dòng nước.
Chính nhờ tận dụng sức nước, kết hợp với cần trục tháp và cưa nước, năng suất lao động đã tăng lên gấp rưỡi.
Gỗ diêm tị chống cháy, chống nứt, chống mối mọt, quả thực là vật liệu tốt để xây dựng nhà cửa. Điền Thiều thậm chí đổi gỗ lớn lấy nệm ngủ, trở thành cự phú ở Liêu Đông. Hiện tại, Lưu Bị được tấn tước hương hầu, đất phong mở rộng trăm dặm. Hoàng thượng còn ban quyền "tùy cơ ứng biến". Việc mở rộng phong ấp lúc này quả là hợp thời.
Nghe nói Thiếu Quân hầu muốn xây thêm vài tòa thành mới, tất cả đều dùng gỗ diêm tị. Sao Điền Thiều có thể không hứng thú chứ? Thế là ông đích thân đến đây, gặp Thiếu Quân hầu để trao đổi quyền kinh doanh độc quyền bốn sản phẩm nổi tiếng của Lâu Tang.
Đầu tiên là quyên tiền giúp đỡ việc học, dâng tặng tì nữ xinh đẹp, sau đó lại tiến cử Từ Vinh cùng hàng trăm du hiệp. Điền Thiều đã có ân nghĩa lớn với Lâu Tang, Lưu Bị vui vẻ đồng ý. Chỉ có rượu tùng tuyền tuy đã được giao phần lớn cho thương đội họ Thôi kinh doanh, nên không thể hứa cho Điền Thiều. Nhưng có thể buôn bán ba sản phẩm nổi tiếng, Điền Thiều cũng xem như chuyến đi này không uổng công.
Lưu Bị dẫn Điền Thiều đi thăm công trường hai thành Ly Thành, Đốc Kháng, lại chèo thuyền du ngoạn đầm lầy, thưởng ngoạn phong cảnh trăm dặm. Ngày ngày tiệc tùng, khoản đãi thịnh soạn. Một tuần sau mới trở về thắng lợi.
Điền Thiều có Thủy Tạ ở Bạch Hồ. Ngày thường chỉ có vài người thân và gia nô quản lý. Lần này trở về Liêu Đông, ông đã đưa lão mẫu và thê thiếp đến Lâu Tang. Trên danh nghĩa là để hưởng thụ sự tiện nghi, phồn hoa của Lâu Tang, nhưng thực chất cũng có ý muốn quy thuận.
Lưu Bị nghe tin, đích thân đến tận nhà bái phỏng, giữ lễ của bậc hậu bối. Mẹ Điền rất mừng.
Lại nói về Điền Hoa thật đáng thương. Trước đây không ai trông coi, Điền Hoa cùng Công Tôn To���n kết thành một bọn. Giờ đây, phải rời xa trường học, vào ở Thủy Tạ. Người mẹ ngày ngày tận tâm chỉ bảo, đốc thúc hắn đọc sách tiến bộ. Bà thường xuyên thì thầm vào tai hắn: "Quản Ninh mười sáu tuổi đã hưởng bổng lộc bốn trăm thạch, quản lý một thành chủ với mấy vạn dân. Con với Thiếu Quân hầu có tình đồng môn, nếu con là người tài, Thiếu Quân hầu há có thể không dùng?"
Điền Hoa liền hồi tâm chuyển ý, ngày ngày khổ đọc không nhắc tới.
Thành Đốc Kháng được xây dựng theo pháp kiến trúc bốn cổng.
Đông, Nam, Tây, Bắc mỗi hướng mở một cổng. Bốn cổng liên thông bởi con đường hình chữ thập chạy dọc và ngang. Vì là địa hình đồi núi, bốn phía trũng ở giữa lồi, nên con đường hình chữ thập cũng không nằm trên cùng một mặt bằng mà có dạng giống như hình mũi khoan dẹt. Bốn mặt của hình nón đều là mặt sườn núi hình tam giác. Từ trên đỉnh dốc, mỗi mặt sườn núi có sáu con phố nhỏ chạy xuống. Hai bên phố nhỏ là những tòa trọng lâu được xây dựng san sát nhau, liên tiếp. Cứ thế giăng khắp nơi, tựa như bố cục quân trận trên bàn cờ.
Mặt sườn núi phía trước tạm thời chưa vội quản lý. Việc xây xong các tòa nhà, để dân sơn man Cửu Giang có chỗ ở mới là điều cốt yếu.
Để chống lại việc đóng cọc trụ, Lưu Bị còn thiết kế máy đóng cọc vận hành bằng sức người.
Nguyên lý không phức tạp, kết cấu tương tự cần múc nước, là sự vận dụng nguyên lý đòn bẩy đơn giản nhất. Tại một cái khung dựng đứng, đặt một cây gỗ ngang, ở giữa làm điểm tựa, phần cuối được dẫn dắt bằng dây thừng, phía trước treo tảng đá lớn. Nhiều người hợp sức kéo dây, nâng tảng đá lên cao. Sau khi buông tay, tảng đá rơi xuống đập mạnh vào cọc trụ. Cách này giúp làm việc ít mà hiệu quả lớn.
Người sơn man vốn mặc áo giáp da hổ, nay đều đổi thành áo ngắn làm từ vải thô sợi đay. Trường bào không thích hợp khi lao động, các tráng sĩ man tộc đều cất giữ ở nhà. Một bộ áo ngắn vải thô vừa vặn để làm việc. Số da thú thu được, Lưu Bị cho thợ giỏi phân loại. Da hổ tốt nhất dùng để chế tạo nệm ngủ cực phẩm trong truyền thuyết. Da chồn, da sói lo��i kém dùng để may áo khoác. Các loại da thuộc trung đẳng được cất giữ để dùng sau. Da nát đều được dùng để tân trang các loại giáp trụ, võ cụ chuyên dành cho Vô Đương Phi Quân. Hoặc dùng để may mũ trụ oai vệ, hoặc để quấn thắt lưng, hộ cổ tay. Nhấn mạnh phong thái đặc trưng của tộc Man.
Tòa trọng lâu kiểu cột đầu tiên đã được xây xong. Có hình dáng tựa chữ "Công" nằm ngang, ở giữa là tháp chính, hai bên là tháp phụ. Tổng cộng cao năm tầng. Các cọc trụ đều đứng trên ruộng dốc, toàn bộ trọng lâu được nối kết bằng các thanh gỗ xuyên ngang. Từ một góc nhìn, tòa nhà năm tầng cao vút như bay lơ lửng đỡ lấy sườn đồi, tựa như một lầu gác trên không. Tầng trệt dùng để nuôi nhốt súc vật, gia cầm, chất đống củi khô, nông cụ và các vật dụng khác. Tầng hai, ba, bốn là nơi sinh hoạt hàng ngày. Tầng năm dùng để cảnh giới, quan sát. Năm tầng lầu gác lần lượt được đặt tên là: Hạ Lầu, Trung Lầu, Thượng Lầu, Cực Lầu, và Thiên Lầu.
Các tiện nghi của Lâu Tang cũng được thể hiện ở đây.
Mỗi tầng của trọng lâu kiểu cột đ��u có xây phòng vệ sinh, phòng tắm. Hạ Lầu bố trí hố rác dạng hai chum, liền thông với hệ thống ống thoát nước thải ngầm dưới đất. Phòng chính của Trung Lầu là sảnh đường, chính giữa vách tường đặt bàn thờ, bài vị, cung phụng liệt tổ liệt tông. Hai bên là phòng của chủ nhân. Các hoành phòng hai bên là phòng ngủ, phòng vệ sinh, cũng có thể bố trí làm phòng khách. Thượng Lầu được bố trí tương tự như Trung Lầu, phần lớn là nơi sinh hoạt hàng ngày của con cháu đời sau. Thượng Lầu còn có thư phòng, thêu các, dùng để dệt vải thêu hoa, đọc sách học tập. Bên ngoài thiết kế ban công, bao quanh bằng lan can. Có thể tựa lan can nhìn ra xa, ngắm cảnh đẹp của những cánh đồng.
Tầng năm là Thiên Lầu, bình thường dùng để phơi quần áo, phơi cá muối, thịt khô. Thời chiến có thể dùng để cảnh giới, quan sát.
Tòa lầu gác kiểu cột, cả năm tầng trên dưới đều có hành lang. Dưới hiên đặt những chiếc giường ghế ngang, dùng để người nhà nghỉ ngơi hóng mát, hoặc tiếp khách ngắm cảnh trò chuyện.
Hai bên tháp phụ, bên trong có cầu thang, tích hợp cửa sổ mũi tên. Vừa công vừa thủ đều thuận lợi.
Trên thực tế, trọng lâu kiểu cột kiên cố nhất là loại bốn hợp lâu hình chữ "Hồi". Loại này gồm tháp chính phía trước, tháp chính phía sau cùng hai tháp phụ trái phải tạo thành một khối kiến trúc vững chắc. Tuy nhiên, kiểu kiến trúc này không thích hợp với địa hình ruộng dốc. Bởi vì hai tòa tháp trước và sau không hoàn toàn nằm trên cùng một mặt bằng. Do đó, hai tòa tháp phụ trái phải sẽ rất khó để lát sàn gác. Còn loại ba hợp lâu hình chữ "Khảm", xét về kết cấu cũng không lợi cho sự vững chắc. Vì thế, người ta đã xây dựng phần giữa của hai tháp phụ trái phải trong loại ba hợp lâu hình chữ "Khảm", biến nó thành hình chữ "Công" nằm ngang. Bằng cách này, vừa có lợi cho việc xây dựng trên ruộng dốc, lại vừa vô cùng vững chắc.
Trọng lâu kiểu cột không cần sân vườn. Vì tầng trệt đã phát huy tác dụng như một khoảng sân. Là cách tận dụng không gian hiệu quả nhất.
Tất cả các trọng lâu trong thành Đốc Kháng đều được xây dựng theo cách này. Vì áp dụng kỹ thuật của các bộ lạc sơn man, nhiều tráng niên của Thiên Sơn đều là những thợ lành nghề. Các công cụ thủy lợi do thợ giỏi của Lâu Tang chế tạo, dân sơn man cũng chỉ cần hướng dẫn một lần là biết cách dùng. Dồn sức toàn tộc, tiến độ diễn ra nhanh chóng. Mấy ngàn người còn lại, mang theo già yếu trong nhà, xuống vùng trạch đập để khai hoang ruộng đất. Mỗi nhà được năm mươi mẫu. Một mẫu ruộng đẹp của Lâu Tang trị giá mười vạn tiền. Năm mươi mẫu ruộng định giá năm trăm vạn tiền. Một tài sản khổng lồ như vậy, dân sơn man chưa từng nghe thấy bao giờ.
Xung quanh chân núi, họ đắp đập, dẫn nước. Vài ngày nữa sẽ lộ ra vùng đất bùn lầy. Lúa mùa đã không kịp gieo trồng. Tuy nhiên, lúa tiên phương Nam lại không trái vụ. Lúa tiên thích hợp sinh trưởng ở những vùng có nhiệt độ cao, ánh sáng mạnh và nhiều đất ngập nước. Nghe nói đây là giống lúa được thuần hóa sớm nhất từ lúa hoang dại để trở thành cây lúa trồng trọt. Thời gian sinh trưởng ngắn, từ cấy mạ đến thu hoạch chỉ mất ba tháng. Gạo từ lúa sớm được gọi là "gạo tẻ sớm" hoặc "gạo sớm", có chất lượng kém hơn một chút, thường dùng làm lương thực sản xuất hoặc dự trữ.
Ăn no là chuyện lớn. Lúc này cũng chẳng lo được đến chất lượng.
Đàn ông xây nhà, phụ nữ trồng lúa. Cả vùng Đốc Kháng là một cảnh tượng bận rộn, hăng say.
Người ta vẫn nói dân sơn man hiếu chiến tàn nhẫn, ăn lông ở lỗ. Theo những gì Lưu Bị thấy, không phải vậy. Có lẽ tại rất nhiều phương diện không bằng Trung Nguyên. Tuy nhiên họ rất có năng khiếu. Chẳng hạn như việc trồng lúa, hay đóng thuyền. Người Bách Việt cổ là những bậc tiên dân trồng lúa, sở hữu kỹ thuật đúc kiếm, đóng thuyền và làm gốm vô cùng siêu việt.
Chỉ riêng việc ươm mạ, cấy mạ và quản lý đồng ruộng hàng ngày, họ đã hơn hẳn dân các ấp lớn.
Cừ soái của tộc sơn man nói rằng, đất hoang như ngựa hoang, cũng cần phải thuần hóa. Năm nay trồng lúa tiên vụ sớm, không cần để ý năng suất. Chỉ để thuần hóa ruộng hoang. Đợi sang năm gieo lại, chắc chắn sẽ bội thu.
Lưu Bị lần đầu tiên nghe nói về việc "thuần hóa đồng ruộng". Suy nghĩ kỹ lại, có lẽ cũng có lý.
Quả đúng như lời Cừ soái này nói.
Một tháng sau, lại có thêm một chi sơn man cả tộc dời đến.
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu trí tuệ của truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.