Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Lưu Bị Đích Nhật Thường - Chương 22: Củi cháy lửa truyền

Một. Hai mươi hai củi cháy lửa truyền

Việc hoàn thành xây dựng Ly Thành và Đốc Kháng Thành trước khi mùa đông bắt đầu là gần như không thể. Tuy nhiên, nếu mọi người cùng cố gắng một chút, thì việc giúp người dân an toàn vượt qua mùa đông vẫn không thành vấn đề.

Người xưa có câu: trăm dặm không bóng tiều phu, ngàn dặm không bóng người. Ấy là chuyện thường tình. Thế nhưng, Lưu Bị vào lúc này, đã không thể dùng lẽ thường mà suy luận.

Ly Thành và Đốc Kháng Thành đều đã xây dựng được hơn một nửa. Mùa đông giá rét sắp đến, việc tích trữ đủ củi khô, củi cành và than củi để bình an qua mùa đông mới là điều quan trọng nhất.

May mắn thay, còn có mảnh rừng hoang này.

Củi củi, chính là củi lửa. Có củi lớn, có củi nhỏ.

Không lâu trước đây, Lưu Bị từng nghe kể về những gia đình dân thường thân thích bị chết cóng cả nhà. Lúc ấy, vừa thương cảm cho sự bất hạnh của họ, lại vừa giận họ sao không biết xoay sở. Bắc Địa mỗi năm chỉ có một vụ thu hoạch. Rừng hoang thì khắp nơi. Dành nhiều thời gian đốn củi, chặt củi. Nếu chịu khó như vậy, sao lại không đủ củi mà cả nhà phải chết cóng?

Về sau mới hay, ngoài việc nộp tô ruộng, dân chúng còn phải gánh chịu những khoản thuế má, lao dịch nặng nề khác. Khi nông nhàn, dân chúng thường bị điều động với số lượng lớn để sửa đường xây cầu, khơi thông mương máng, đắp đập, và nhiều công việc tương tự khác. Người lao động chính trong nhà bị trưng dụng làm phu dịch, trong nhà chỉ còn phụ nữ, trẻ em, nên không kịp chặt củi, đốn củi. Thậm chí có trường hợp cả nhà chết cóng. Nếu không muốn vậy, họ chỉ có thể bỏ ra hai nghìn tiền "thuế giẫm đạp cày" mỗi tháng để thuê người khác làm thay.

Hai nghìn tiền, người dân bình thường làm sao có thể bỏ ra được?

Sau khi hiểu rõ ngọn ngành, Lưu Bị đã trầm ngâm rất lâu.

Sở dĩ Thiếu Quân Hầu được ca tụng là nhân nghĩa, ngoài việc thu thuế thấp, còn vì ông chưa từng bắt dân làm không công. Việc khơi thông hai dòng mương, xây dựng hai tòa thành, mọi lao dịch đều được tính công sòng phẳng. Một tòa nhà hào nhoáng thông thường có giá cả trăm vạn tiền. Thế nhưng, những trạch viện được xây dựng bằng gỗ lớn, vật liệu nặng ở đây, dù đã định giá mười vạn – một mức cực thấp – vẫn chưa phải là tất cả. Thiếu Quân Hầu còn cho phép người dân nợ tiền mua trước, hoàn trả dần trong nhiều năm, lại không hề thu lợi tức.

Lao động nam khỏe mạnh một ngày công được hai trăm tiền. Phụ nữ khỏe mạnh một ngày công được một trăm năm mươi tiền. Ngay cả người già yếu cũng được tám mươi đến một trăm tiền. Một lao động nam khỏe mạnh một tháng đã có sáu nghìn tiền. Trừ đi hai tháng đông giá rét và nóng bức, một năm có thể kiếm được sáu vạn tiền. Một tòa trạch viện chỉ mất hai năm là có thể trả hết nợ. Hơn nữa, mỗi hộ còn được chia năm mươi mẫu ruộng tốt mà không cần tốn một xu nào.

Với đãi ngộ hậu hĩnh như vậy, người dân Hoài Tứ Sơn sao có thể không lũ lượt kéo đến an cư lạc nghiệp!

Việc chặt củi ở đây không phải là đốn hạ cả cây, mà là tỉa bớt những cành thừa. Việc này cũng giúp cây cối dễ dàng vượt qua mùa đông. Đợi đến sang năm, khi xuân về hoa nở, những cành bị tỉa sẽ tự động mọc lại. Cứ thế lặp đi lặp lại. Việc tỉa củi cần sức lực của nam giới khỏe mạnh. Phụ nữ và trẻ em chỉ có thể vào rừng hoang nhặt những cành khô làm củi. Bởi vậy mới có củi lớn, củi nhỏ.

Tại Lâu Tang, Tây Lâm, Đốc Kháng, nơi tập trung hàng vạn dân cư, việc chỉ dựa vào việc nhặt củi thì còn lâu mới đủ. Củi từ các châu huyện lân cận được vận chuyển không ngừng về Lâu Tang bằng cả đường thủy lẫn đường bộ. Thậm chí có rất nhiều tiều phu đẩy những xe củi đầy ắp, hối hả đến Lâu Tang để bán.

Theo «Tứ Dân Nguyệt Lệnh»: "Tháng hai, thu hoạch than củi. Than tụ dưới mảnh vụn, chớ để bỏ phí. Đảo đều, sàng lọc, nấu cùng nước vo gạo cho đến khi sệt lại, tiếp tục đảo cho quen tay. Vo thành hình quả trứng gà, rồi hun khô. Dùng cho các loại lò hun, lò nung, sẽ cháy suốt đêm, kiên cố bền bỉ, tốt hơn than gấp mười lần."

Lửa lồng lò ở đây chính là lửa dùng để hun (làm than) và lửa mồi trong lò.

Loại "than" được nhắc đến ở đây chính là than củi. Người ta chặt củi, đốt than ngay tại Nam Sơn. Việc biến gỗ thành than củi cực kỳ quan trọng đối với Lâu Tang – một vùng đất với nhà cửa, lầu các dày đặc. Than củi được tạo ra từ gỗ chưng khô, khi đốt không khói, không mùi lạ, không lửa lớn, không bắn than hoa, lượng tro thấp, tỏa nhiệt lượng cao, cháy lâu, sạch sẽ và an toàn.

Ở Lâu Tang, củi và than đều được thu mua. Củi gỗ chủ yếu được dùng trong các lò nấu rượu, cung cấp hơi ấm và nhiệt độ cao. Than củi thì dùng để hầm cách thủy, nấu rượu và hun áo quần.

Ngoài củi và than củi, thời bấy giờ cũng đã có than đá.

Vào thời bấy giờ, than đá còn được gọi là than đá, ô củi, hắc kim, đốt thạch. «Sơn Hải Kinh» là bộ sách sớm nhất ghi chép về sự tồn tại của than đá, gọi n�� là "Thạch niết".

Than đá là một trong những nguồn năng lượng được người xưa tận dụng sớm nhất. Ngay từ thời Chiến Quốc, đã có ghi chép về việc sử dụng than đá trong quân sự. «Mặc Tử – Bị Huyệt» chép rằng: "Một trăm bó than đá, nặng bốn mươi cân, nhưng khi đốt than đỗ trong lò, phải lấp đầy lò và bịt kín, không cho khí thoát ra."

Vào thời Tây Hán, Trung Nguyên đã khai thác và sử dụng than đá. Sau này, tại các di tích giường sưởi của dân cư thời Lưỡng Hán và các di tích lò luyện sắt, người ta đều tìm thấy than đá đã cháy và cả những bánh than đá chưa cháy.

Điều đó cho thấy, vào thời đại của Lưu Bị, than đá đã được sử dụng rộng rãi ở Trung Nguyên như một nguồn năng lượng chính để sưởi ấm và luyện sắt.

Việc luyện sắt thông thường đều phải đặt gần nơi sản xuất nhiên liệu. «Diêm Thiết Luận» chép rằng: "Các nơi làm muối, đều phải dựa vào núi sông, gần sắt và than." "Than" ở đây chính là than đá.

Vào thời bấy giờ, kỹ thuật khai thác than đá ngày càng hoàn thiện, kỹ thuật đốt dùng cũng dần trở nên thành thục. Việc khai thác và sử dụng than đá nhờ vậy mà đạt được bước phát triển mới.

Tào Tháo, vào khoảng năm Kiến An thứ mười lăm, đã lấy thành quách làm cơ sở, xây dựng ba đài: Đồng Tước, Kim Hổ và Băng Tỉnh. Một trong số đó là Đài Băng Tỉnh, nơi ông đã cất giữ một lượng lớn than đá. Khoảng trăm năm sau, văn học gia Trần Vân thời Tây Tấn đã đến thăm ba đài này, nhìn thấy "thạch mặc" (than đá) mà Tào Tháo cất giữ bên trong, ông lấy làm lạ, liền viết thư cho Lục Cơ.

Trong thư có đoạn: "Một ngày lên ba đài, Tào Công giấu mấy chục vạn cân thạch mặc. Dùng đốt thì tốt, có thể dùng để sưởi ấm, nhưng khói bên trong thì người không biết rõ. Huynh có từng thấy chăng?" "Thạch mặc" được nhắc đến ở đây, có thể đốt được, chính là than đá.

Trong «Ngụy Đô Phú» của Tả Tư thời Tây Tấn có viết: "Mực hầm muối ao, huyền tư làm dịch." Theo chú thích của Lý Thiện thời Đường trong cùng tác phẩm, thì: "Phía tây Nghiệp Thành, phía tây Cao Lăng, phía tây Bá Dương Thành có giếng thạch mặc, giếng sâu tám trượng".

Vào thời bấy giờ, than đá được gọi là "thạch mặc", giếng mực chính là giếng thạch mặc, tức giếng than đá. Giếng sâu tám trượng ở đây chỉ chiều sâu của ống giếng, chứ không bao gồm toàn bộ chiều sâu của đường hầm khai thác. Việc dùng giếng đứng sâu tám trượng để khai thác than cho thấy quy mô sản xuất lúc ấy đã đáng kể.

Vào thời điểm này, khu vực sản xuất than đá gần Trác Huyện nhất là Đại quận, tiếp đến là Ngụy quận.

Huyện Vũ An, nơi nổi tiếng với "kỹ thuật luyện sắt Vũ An", nằm ở Ngụy quận. Sắt hoa dùng ở Lâu Tang đều được vận chuyển từ Vũ An về.

Trong «Thủy Kinh Chú» có viết: "Nước Vàng chảy về phía đông, đổ vào sông Võ Châu, rồi tiếp tục chảy về phía đông qua đình Bắc của Thành Lịch, nơi hợp lưu với suối nước Hỏa Sơn Tây. Dòng nước bắt nguồn từ Hỏa Sơn Tây, chảy về phía bắc. Trên núi có giếng khí đốt, dài khoảng sáu bảy mươi bước từ nam đến bắc, rộng hơn một thước, sâu thăm thẳm không thấy đáy. Khí bốc lên cao thường phát ra tiếng vang như sấm sét nhỏ. Khi dùng cỏ khô mồi lửa, khói sẽ bốc lên và lửa sẽ bùng phát." Ngọn núi lửa được ghi lại trong văn này chính là khu mỏ than Đại Đồng sau này.

Vùng này lúc bấy giờ thuộc Đại quận. Hiện tại, quân Tiên Ti vẫn thường xuyên quấy phá, cướp bóc ở biên giới, khiến bách tính Đại quận mười phần chết mất đến chín, trăm nghề đều tiêu điều, hoang phế. Muốn có than đá, chỉ có thể đến Vũ An.

Hiện tại thì chưa cần vội. Củi và than củi vẫn còn đầy đủ. Tuy nhiên, nếu dân trong ấp ngày càng đông đúc, việc chỉ dựa vào một mảnh rừng hoang trong phạm vi trăm dặm rõ ràng là không đủ. Lưu Bị đề phòng chu đáo, đã chuẩn bị tích trữ than đá. Việc này cũng giống như Tào Tháo cất giấu mấy vạn cân thạch mặc trong Đài Băng Tỉnh, đều có dụng ý sâu xa.

Bản đồ địa hình toàn bộ đất phong, dù hơi thu nhỏ, cũng được Tô Bá vẽ ra. Nó được ghép liền mạch với bản đồ địa hình ấp Lâu Tang, đặt giữa thư phòng trên lầu năm. Rừng hoang, Bạch Trạch, đồi núi, sông ngòi, thành thị… tất cả đều hiện ra rõ ràng trong nháy mắt. Cảnh tượng thật hùng vĩ. Với khoảng cách cả trăm d��m, dù đứng trên cao cũng không thể nhìn thấy toàn cảnh. Thế nên, mấy ngày liền, Lưu Bị đều phải cưỡi xe, đi thuyền đến tận nơi xem xét Ly Thành và Đốc Kháng. Hai công trường xây dựng này, mỗi lần đến đều thấy có sự thay đổi rõ rệt. Những tòa lầu cao, tường tròn sừng sững mọc lên. Những cây gỗ lớn được khai thác từ rừng hoang, trồng thành hàng hai bên đường trong thành, tạo nên những đại lộ rợp bóng cây xanh mát. Cùng với đó là những đàn dê, bò, gà, chó của các hộ dân di cư từ phía bắc, tản mát khắp nơi. Tất cả đã khiến thành thị mới xây dựng càng thêm tấp nập, tràn đầy sức sống.

Chỉ mới nhậm chức hơn trăm ngày, Quách Chi và Quản Ninh đã phần nào tinh thông chính sự. Nếu làm quan nghìn ngày, chắc chắn sẽ thành đại tài.

Thực tiễn sinh chân lý. Chuyện thiên hạ, người nghe không bằng người thấy mà biết tường tận, người thấy không bằng người ở tại đó mà biết rõ. Lời này đặt ở đâu cũng hợp lý.

Bản chuyển ngữ này thuộc về truyen.free, hãy đón đọc những chương mới nhất nhé.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free