(Đã dịch) Lưu Bị Đích Nhật Thường - Chương 21: Binh phù tướng lệnh
Hai mươi mốt binh phù tướng lệnh
Hai thành Ly Thành và Đốc Kháng, các công trình lâu đài và cung điện được đốc thúc xây dựng và hoàn tất trước tiên. Các quan lại lớn nhỏ đều được học viện bổ nhiệm. Gian tế, đạo tặc, trinh sát, mật thám ồ ạt kéo đến. Điều này giúp giảm bớt áp lực cho Chu Thái và Tưởng Khâm, để họ có thể rảnh tay chuyên tâm luyện binh.
M��y năm liên tục đại hạn. Nước trên sông Cự Mã cạn kiệt, các đầm lầy cũng khô cạn.
Triều đình lại cử hành lễ "Đại Vu".
Lễ này còn được gọi là "Vu lễ", hay gọi tắt là "Vu". Đây là một loại lễ cầu phúc cổ xưa. Trong thời cổ đại, lễ cầu mưa hay vu tế chính là lễ cầu mưa. Vu lễ phân thành hai loại: Loại thứ nhất là "Đại Vu Đế", được thiên tử cử hành vào tháng Tư đầu hạ, là một nghi lễ long trọng với đội ngũ ca múa hùng tráng, tế tự Thiên Đế cùng thần linh núi rừng, sông suối, cầu mong mưa thuận gió hòa, ngũ cốc phong đăng, mang không khí của ngày hội. Loại thứ hai là "Vu hạn", được cử hành khi trời hạn hán, không có thời gian cố định, chỉ dùng vũ điệu cầu mưa chứ không có ca hát vui vẻ, không khí trang nghiêm, lời cầu nguyện khẩn thiết.
Thêm vào đó, việc xây dựng hai con mương Ly Đình và Đốc Kháng đã phân dòng nước sông Cự Mã. Mực nước các đầm lầy ở Đốc Kháng hạ xuống rõ rệt. Ngay cả thành Lâm Hương vốn bị bỏ hoang đã lâu cũng ngày càng lộ rõ mặt nước.
Thuyền có bánh xe qua lại vận chuyển lồng trúc và đá vụn. Tiến độ đắp bờ cực nhanh. Hàng ngàn nhân công một ngày có thể đắp vài trăm mét bờ đê.
Thời cổ, kênh mương rộng bốn thước, sâu sáu thước thì gọi là "câu".
Khi Lưu Bị xây dựng mương Ly Đình và mương Đốc Kháng, đều cho mở rộng. Mỗi mương rộng tám trượng, sâu hơn ba trượng.
Việc đắp bờ và thông mương cũng không phải là sáng tạo của Lưu Bị.
Tây Hán trải qua "Văn Cảnh chi trị", quốc gia của cải phong phú, kinh tế giàu có. Sách chép rằng: "Tài vật kinh thành chất đống ngất trời, thối rữa mà không thể dùng. Lương thực ở thái thương (kho lớn) chất chồng lớp lớp, trào ra ngoài đến mức mục nát không thể ăn." Ý muốn nói: Lương thực trong kho của nhà nước năm nào cũng tăng thêm, lớp gạo cũ bị lớp gạo mới đè lên, chất đầy đến mức tràn ra ngoài kho, mục nát không cách nào dùng được. Mặc dù Trường An có sông Vị chảy qua, thông với sông Lớn, rồi ra Đông Hải, nhưng vận tải đường thủy vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế. Đại Tư Nông đương nhiệm Trịnh lúc ấy liền tâu lên Hoàng đế đề xuất "D���n Vị khai mương".
«Hán Thư – Địa Lý Chí» chép rằng: "Khi Trịnh lúc ấy làm Đại Tư Nông, ông tâu rằng: 'Việc vận chuyển lương thực Quan Đông từ sông Vị phải mất sáu tháng. Mà sông Vị chảy qua hơn chín trăm dặm, thường gặp khó khăn. Nếu dẫn nước sông Vị khai mương lên Trường An, chạy dọc chân núi Nam Sơn, đến sông (Lạc) chỉ hơn ba trăm dặm, đoạn đường an toàn, dễ đi, chỉ mất khoảng ba tháng; hơn nữa, ruộng đồng dưới mương hơn vạn khoảnh còn có thể được tưới tiêu, điều này không làm tổn hại đến lương thực vận chuyển mà còn làm cho vùng Quan Trung màu mỡ, thu hoạch được nhiều thóc gạo.'"
Hoàng đế chấp thuận, sai người nước Tề là công trình thủy lợi Từ Bá Biểu, huy động mấy vạn người đào mương Tào, ba năm thì hoàn thành. Việc vận chuyển lương thực nhờ đó mà vô cùng thuận lợi. Về sau, lương thực vận chuyển ngày càng nhiều, mà dân cư vùng hạ mương cũng rất được lợi từ việc tưới tiêu.
Mương Tào dẫn nước sông Vị từ Trường An vào mương, theo chân núi Tần Lĩnh phía nam đi về phía đông, sau đó nhập vào sông Lớn. Thuyền chở lương thực (thuyền Tào) có thể đi từ sông Lớn vào thẳng mương Tào đến Trường An. Điều này giúp rút ngắn tuyến đường sông Vị từ Đồng Quan đến Trường An, vốn dài chín trăm dặm, xuống còn hơn ba trăm dặm. Thời gian vận chuyển thủy lộ hàng năm cũng giảm từ nửa năm xuống còn ba tháng. Năng lực vận chuyển thủy lộ tăng từ v��i chục vạn thạch lên sáu trăm vạn thạch mỗi năm, đồng thời ruộng đồng ở hạ lưu con mương cũng được hưởng lợi rất nhiều từ việc tưới tiêu.
Dẫn Vị khai mương, một công trình vĩ đại như vậy, cũng chỉ mất vỏn vẹn ba năm để hoàn thành.
Một con mương Đốc Kháng dài hơn trăm dặm, chỉ cần nửa năm là đủ.
Sau một mùa xuân và mùa hạ, đến cuối thu công việc đắp bờ đã hoàn thành.
Đê dài chín mươi chín dặm ba trăm bảy mươi lăm bước. Bề mặt đê rộng hơn một trượng, lớp đáy rộng hơn mười một trượng, thực tế rộng năm trượng. Dân núi Hoài Tứ được di dời, thành được xây dựng trên đất hoang.
Lâu Tang, Ly Thành, Đốc Kháng, ruộng lúa ngát hương, cảnh tượng thật sự quen thuộc.
Đê mương Ly Đình cũng có hơn bảy mươi dặm. Hai con đê Ly Đình và Đốc Kháng, bề mặt đê và sườn dốc đều trồng đủ loại cỏ linh lăng. Đợi cỏ linh lăng trưởng thành, dân chăn nuôi vùng Tây Lâm liền trả giá cao, kéo xe đến cắt cỏ. Lưu Bị cũng phái quân sĩ ven đường bảo hộ. Số cỏ cắt được để nuôi gia súc đều được chất thành đống ở trong ấp Tây Lâm.
Lâu Tang cùng Ly Thành, Đốc Kháng, đường thủy thông suốt. Dù đi xe hay đi thuyền đều khá thuận tiện. Chỉ có điều người Hồ sợ nước và kỵ thuyền, nên họ thích đi xe cao.
Đắp bờ hoàn tất, thợ thủ công được chia làm hai nhóm, tiến vào Ly Thành và Đốc Kháng để trợ giúp việc xây dựng lâu đài. Tiến độ nhờ thế mà nhanh gấp bội.
Nhất là thành Đốc Kháng. Các tòa tháp canh và lâu đài kiên cố đã mọc khắp các đồi núi. Xa xa nhìn lại, các dãy lâu đài và phòng ốc nối tiếp nhau, san sát liên tiếp. Đường sá được nâng cấp, các bậc thang dành cho người đi bộ được xây dựng rộng rãi, tạo nên một cảnh tượng hùng vĩ. Nhất là vào đêm, đèn hoa sáng chói, trùng điệp mọc lên. Ánh sáng rực rỡ như ban ngày.
Các giếng nước được đào rất sâu. Mỗi hộ gia đình đều xây tháp nước. Trong tháp có guồng nước hình xương rồng dựng thẳng, dẫn nước lên các tầng lầu, đảm bảo nước uống không thiếu thốn.
Mọi tiện ích đều đồng bộ với Lâu Tang. Hệ thống đường ống ngầm cũng chia thành hai đường. Nước mưa và nước thải được phân tách dòng chảy. Nước mưa chảy vào cống rãnh Đốc Kháng. Nước phù sa chảy vào các đầm lầy và ruộng hoang.
Ấp Tây Lâm cũng nằm bên bờ Thanh Khê. Đi từ bìa rừng hoang bên trái vào cống mương Ly Đình là có thể đến Ly Thành. Xuôi theo Thanh Khê mà xuống, đi qua Bạch Hồ Thủy Tạ rồi rẽ phải vào cống mương Đốc Kháng, có thể đạt tới thành Đốc Kháng. Tiện lợi như vậy, nếu không xây bến cảng thì chẳng phải là phí hoài của trời sao?
Phân công một nhóm thợ giỏi đốc thúc xây dựng cảng Tây Lâm, chỉ hơn một tháng là hoàn thành.
Cảng Tây Lâm tương tự như một thành lũy. Phía sau nối thẳng vào trong ấp, chỉ cần đóng cổng ấp, cảng sẽ được ngăn cách hoàn toàn với bên ngoài. Cảng được trấn giữ bởi Diêm Nhu và những xạ thủ người Hồ mới được chiêu mộ. Trong số đó không thiếu các Xạ Điêu Thủ (Thợ bắn chim ưng). Người Hồ thiện xạ. Nghĩa phụ Hoàng Trung thống soái xạ thủ, đã tăng lên ngàn người. Những người thiện xạ trong số Sơn Man và người Hồ đều được tuyển chọn.
Tất cả đều đóng quân và thao luyện thống nhất tại diễn võ trường. Đợi luyện thành, sẽ phân phối đi các nơi, bảo vệ thành thị. Xạ thủ cũng được chia thành các đơn vị như ngũ, thập, đồn, khúc. Việc ra vào đều có hiệu lệnh rõ ràng. Bình thường đóng quân tại các nơi, khi có chiến tranh thì điều động bằng binh phù lệnh. Binh phù và tướng lệnh đều do Lưu Bị nắm giữ.
Ý nghĩa của diễn võ trường nằm ở chỗ đó. Không chỉ huấn luyện chiến kỹ, làm quen với binh khí, mà còn truyền thụ cách hành quân, bày trận, cùng quân quy quân kỷ. Bất kể là Sơn Man hay người Hồ, tất cả đều phải ghi nhớ. Quân pháp vô tình, đó không chỉ là lời nói suông.
Những lưu dân đến Lâu Tang để đăng ký, không thiếu những thanh niên trai tráng khỏe mạnh, hùng dũng. Họ cũng được chiêu mộ nhập ngũ.
Đà Long Kỵ binh đã tăng lên năm trăm người. Do Vinh Điền Cương và các tướng khác chỉ huy, ngày ngày thao luyện. Ngựa đều do Tô Song và Trương Thế Bình vận chuyển từ quận Hữu Bắc Bình đến. Lúc này, những con ngựa béo tốt đang được đưa lên phía bắc để đến bãi cỏ.
Lưu Bị cùng các tướng tiễn biệt hai ngư���i tại Bạch Hồ Thủy Trại, nơi những cỗ xe nỏ cơ giới đã được chất lên các thuyền có bánh xe mới đóng.
Ô Hoàn ở Hữu Bắc Bình, từ khi cùng Lưu Bị giao thương, tài sản của họ đã tăng lên đáng kể. Thực lực không những không bị tổn hại mà còn tăng cường trở lại. Họ còn có tiền dư để chiêu mộ người Hồ từ ngoài quan đi về phía nam, gia nhập bộ lạc. Dựa theo lời của Ô Liên, chỉ vài năm nữa là có đủ thực lực để giao chiến với người Tiên Ti đang di cư xuống phía nam.
Người Tiên Ti thế mạnh.
Thủ lĩnh Đàn Thạch Hòe, không chỉ có dũng mà còn có mưu lược, đã được suy tôn làm thủ lĩnh bộ lạc. Ông thiết lập vương đình ở núi Đàn Hãn phía bắc Cao Liễu, hướng nam cướp bóc các quận biên giới, phía bắc chống trả Đinh Linh, phía đông đánh lui Phù Dư, phía tây tấn công Ô Tôn, toàn bộ lãnh thổ cũ của Hung Nô, chiếm được đất đai rộng lớn, từ đông sang tây hơn mười bốn ngàn dặm, từ bắc xuống nam hơn bảy ngàn dặm.
Hoàn Đế rất kiêng kị. Muốn phong Đàn Thạch Hòe là vua, và muốn hòa thân với hắn. Đàn Thạch Hòe không những không nhận, ngược lại càng ráo riết cướp bóc các vùng biên giới. Ông cũng chia lãnh địa thành ba bộ, mỗi bộ do một đại nhân thống lĩnh.
Người Tiên Ti liên tục quấy nhiễu biên giới trong nhiều năm. Khiến phương Bắc "biên thùy tiêu điều, không còn người sống sót, các cửa ải hoang tàn, đình đài đổ nát, tan hoang tận diệt."
Dân chúng các quận biên giới đua nhau di cư về phương nam.
Lữ Bố cũng theo cha đi về phía nam. Quy thuận dưới trướng Thứ sử Tịnh Châu Đinh Nguyên, từ đây rời đi huyện Ngũ Nguyên.
Sau tiết Hàn Lộ, tin tức từ các quận huyện truyền về.
Cho biết, lại có một nhóm lưu dân Hoài Tứ, đã qua sông Lớn, đang hướng về U Châu. Mục đích lớn nhất có lẽ là thực ấp Lâm Hương của Thiếu Quân Hầu.
Các quận huyện nơi họ đi qua đều như đối mặt với đại địch. Nơm nớp lo sợ, phải cử cung tiễn ra tiễn họ rời khỏi địa phận. Mùa đông giá rét sắp đến, e rằng sẽ kích động dân biến, biến những lưu dân vốn hiền lành thành đám giặc cướp đói rét trong mùa đông lạnh giá.
Nhưng không sao cả.
Mọi việc đều nằm trong dự tính của Lưu Bị.
Đoạn văn này được tinh chỉnh bởi đội ngũ biên tập của truyen.free, hy vọng mang lại trải nghiệm đọc mượt mà và sâu sắc hơn.