(Đã dịch) Pháp Lan Tây Chi Hồ - Chương 445: Tiến về Washington
Trong lúc quân đội Mỹ liên tiếp chịu tổn thất trên cả hai mặt trận hải quân và lục quân, tin tức tốt lành cuối cùng đã từ biển khơi vọng về. Sau hơn nửa tháng miệt mài tìm kiếm trên biển, hai chiếc tuần dương hạm mang tên “Tự do Mậu dịch” và “Thị trường Chung” cuối cùng đã phát hiện ra một phân hạm đội của Hải quân Anh, lập tức lao vào giao chiến. Chúng đã giáng một đòn nặng nề lên lực lượng địch – hai chiếc thiết giáp hạm cũ kỹ của Anh quốc đều bị đánh chìm. Tuy nhiên, dưới sự yểm trợ của hai chiến hạm này, một số tàu khác đã may mắn thoát thân. Dù vậy, những chiến hạm này cũng đều chịu hư hại ở nhiều mức độ khác nhau. Ước tính trong một thời gian ngắn, chúng sẽ không còn khả năng tác chiến.
Trận chiến này cũng đã chỉ ra một sự thật nghiệt ngã: những chiếc tàu chiến hơi nước được cải tạo từ tàu gỗ cũ kỹ, trước mặt tàu chiến vỏ thép hiện đại, hoàn toàn không còn chút khả năng kháng cự đáng kể nào. Trong cuộc giao tranh, đạn nổ mạnh từ pháo hạm cỡ nòng 120mm của quân Pháp – à, đúng hơn là của quân Mỹ – dễ dàng xé toạc vỏ tàu gỗ và gây ra thương vong với hiệu suất kinh ngạc.
Ngược lại, dù người Anh cũng đã thay thế pháo rãnh xoắn bằng thép cho chiến hạm của mình, song do hạn chế cố hữu của bản thân con tàu (những chiếc tàu gỗ cũ này thực sự không đáng để đầu tư cải tạo lớn), họ chỉ đơn thuần dùng pháo thép thay thế cho pháo sắt cũ. Những khẩu pháo thép này nhìn chung có cỡ nòng tương đối nhỏ, uy lực hữu hạn, căn bản không thể xuyên thủng lớp giáp của “Tự do Mậu dịch” và “Thị trường Chung”.
Thêm vào đó là sự chênh lệch về tốc độ, toàn bộ cuộc chiến gần như biến thành màn đơn phương của hai chiến hạm Pháp đang đấm đá tại Viện Dưỡng lão Nam Sơn. Nói về khía cạnh chiến đấu, trận này thực sự chẳng có gì đáng để bàn.
Tuy nhiên, các binh lính Pháp trên hai chiến hạm “Tự do Mậu dịch” và “Thị trường Chung” lại không nghĩ như vậy. Họ vô cùng đắc ý, bởi theo hợp đồng đã ký kết với người Mỹ, mỗi tấn tàu chiến hay tàu buôn của Anh bị họ đánh chìm hoặc bắt giữ đều sẽ mang lại phụ cấp tác chiến tương ứng, và khoản phụ cấp này khá cao, ít nhất gấp mười mấy lần so với các đồng nghiệp người Mỹ. Quan trọng hơn nữa, người Mỹ đã cam kết rằng lương bổng họ nhận được sẽ được thanh toán bằng tiền vàng. Dù trên lý thuyết, một tờ đô la giấy và một đồng đô la vàng có giá trị tương đương, nhưng trong bối cảnh quân đội Mỹ liên tục thất bại, đồng đô la vàng óng ánh vẫn mang lại cảm giác an tâm hơn đô la giấy.
Đáng tiếc thay, sau thời gian dài tìm kiếm và truy đuổi địch trên biển, hai chiến hạm “Tự do Mậu dịch” và “Thị trường Chung” gần như đã cạn kiệt mọi loại vật tư trên tàu. Bởi vậy, họ không còn cách nào để chặn đánh những chiến hạm Anh đã thoát thân, dù biết rằng chúng đều đã bị thương và phải lập tức quay về cảng Halifax để sửa chữa. Nếu “Tự do Mậu dịch” và “Thị trường Chung” còn đủ nước ngọt và than, họ đã có thể dựa vào ưu thế tốc độ để đến ngoài cảng Halifax trước, chốt chặn đường về của địch. Nhưng giờ đây, họ chỉ đành từ bỏ miếng mồi béo bở này, quay về tiếp tế than và nước ngọt để nhận phần thưởng xứng đáng.
Thế nhưng, chiến thắng trên biển của người Pháp chưa đủ để xoay chuyển cục diện chiến tranh. Trên đất liền, quân Mỹ vẫn bị quân Anh, với chiến thuật vượt trội cả một thời đại, liên tục áp chế. Sau khi thiêu rụi Detroit, quân Anh tiếp tục tiến xuống phía nam. Gần Cleveland, hơn một vạn quân Mỹ được gấp rút tập hợp đã triển khai một trận hội chiến với hơn bảy nghìn quân Anh (chủ yếu là dân quân Canada) dưới sự chỉ huy của Tướng Isaac Brock. Kết quả là quân Anh đã ban cho người Mỹ một bài học chiến thuật nhớ đời, khiến họ lần đầu tiên được lĩnh hội thế nào là chiến thuật lính rải rác, thế nào là sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ binh và pháo binh. Chỉ với một cái giá tổn thất nhỏ, quân Anh đã đánh tan tác quân Mỹ, áp sát thành phố Cleveland.
Lo sợ phải chịu chung số phận với Detroit, quân Mỹ dứt khoát không kháng cự tại Cleveland, mà trực tiếp rút quân. Sau khi quân Anh tiến vào, họ đã tịch thu vài chiếc pháo hạm nội địa mà người Mỹ kịp chế tạo tại xưởng đóng tàu Cleveland – quân Mỹ rút lui quá vội vã, đến mức không kịp hủy hoại chúng. Quân Anh đã dừng chân ở Cleveland một thời gian, bởi lẽ trong các trận chiến trước đó, họ đã tiêu hao một lượng lớn vật tư. Giờ đây, họ cần dừng lại để chỉnh đốn đội ngũ, chờ đợi tiếp tế được gửi đến từ phía sau qua hồ Erie, cùng với nhiều viện binh hơn.
Trong khi đó, người Mỹ cũng vội vã điều động quân đội từ các khu vực khác, với ý đồ đẩy lùi quân Anh khỏi Cleveland. Cũng trong khoảng thời gian này, Mỹ và Cộng hòa Saint-Domingue đã đạt được thỏa thuận cho thuê, nhờ đó hai chiếc tuần dương hạm từ Saint-Domingue đã gia nhập hạm đội. Chúng cùng với “Tự do Mậu dịch” và “Thị trường Chung�� quay trở lại cảng Halifax. Tuy nhiên, hạm đội này, dù treo cờ Mỹ nhưng gần như toàn bộ thủy thủ đoàn đều là người Pháp, lại không phát hiện ra bất kỳ tàu chiến Anh nào ở Halifax. Có vẻ như người Anh cũng nhận thấy Halifax khá nguy hiểm, nên đã trực tiếp rút vào vịnh Saint Lawrence. Vịnh Saint Lawrence nổi tiếng với nhiều bãi cạn và đá ngầm. Bởi vậy, người Pháp căn bản không dám tiến vào vùng nước xa lạ này. Thế là, họ một lần nữa chốt chặn eo biển Cabot và eo biển Belle Isle, hòng ngăn chặn tàu thuyền Anh tiến vào Canada.
Tuy nhiên, vào thời điểm này, phía Anh đã nhận được tin tức về việc người Mỹ tuyên chiến với họ. Bởi vậy, số lượng tàu Anh ngây thơ tiến vào mà không có hộ tống đã giảm đi đáng kể. Điều này khiến các sĩ quan và binh lính hải quân Pháp, những người vẫn mơ ước kiếm được một khoản tiền lớn, vô cùng thất vọng.
Mặt khác, ngay khi Tướng Isaac Brock đang chờ đợi tiếp tế tại Cleveland, người Mỹ cũng bắt đầu tập trung thêm quân đội đến Pittsburgh, một thành phố cách Cleveland khoảng hai trăm cây số. Đồng thời, các ��tàu buôn lậu” khởi hành từ New Orleans, công khai treo cờ Pháp, liên tục cập cảng New York. Tại đó, chúng dỡ xuống các loại vũ khí và đạn dược dân sự buôn lậu. Những thứ này nhanh chóng được chất lên xe lửa, vận chuyển đến Pittsburgh, nhằm chuẩn bị đối phó với khả năng quân Anh bất cứ lúc nào cũng có thể rời Cleveland và tiếp tục tiến xuống phía nam để tấn công Washington. Cùng lúc đó, một nhóm “cố vấn Pháp” được chiêu mộ với giá cao đã tạm thời xuất hiện trong quân đội Mỹ. Đương nhiên, chính phủ Pháp không thừa nhận có cố vấn Pháp nào trong quân đội Mỹ. Họ chỉ là những “tình nguyện viên” sẵn lòng hỗ trợ người Mỹ mà thôi.
Sự gia nhập của các “tình nguyện viên” Pháp, cùng với các loại thông tin mà họ cung cấp, đã khiến các sĩ quan Mỹ cảm thấy mở mang tầm mắt. Tuy nhiên, điều này đồng thời cũng khiến họ càng thêm lo lắng về viễn cảnh của cuộc chiến. Bởi lẽ, họ nhận ra rằng khoảng cách giữa quân đội Mỹ so với quân đội trên lục địa châu Âu thực sự quá lớn, mà họ lại không có đủ thời gian để hoàn thành vi��c huấn luyện các chiến thuật mới cho binh lính, thậm chí là cho cả các sĩ quan.
Tướng Isaac Brock rất nhanh đã nhận được viện quân mà ông mong đợi. Giờ đây, số lượng binh lính dưới quyền ông đã tăng lên hai vạn rưỡi người, đồng thời lực lượng pháo binh và kỵ binh cũng đã được tăng cường đáng kể. Cấp trên hy vọng ông có thể tiến thẳng về Washington, nhằm buộc quân Mỹ phải tiến hành một cuộc quyết chiến với mình. Trong thời gian ngắn, do sự kìm hãm từ Pháp, trong nước khó lòng điều động một lượng lớn quân đội đến để viện trợ. Điều này có nghĩa là, nếu chiến tranh kéo dài, Canada – với dân số ít hơn và nền công nghiệp kém phát triển hơn – chắc chắn sẽ không thể chống đỡ nổi. Bởi vậy, cấp trên hy vọng Tướng Isaac Brock có thể nhanh chóng đánh bại quân Mỹ, buộc Mỹ phải chấp nhận cầu hòa.
Đây là một phần của hành trình truyện được trau chuốt từng câu chữ bởi truyen.free.