(Đã dịch) Kaze yo, Banri wo Kake yo (Phong Tường Vạn Lý) - Chương 1: Mộc Lan tòng quân (1)
Gió lạnh lướt qua người Hoa Mộc Lan đang khoác chiến giáp. Hơi thở nàng ngưng tụ thành sương trắng, dưới ánh bình minh mới hé, sương trắng ấy phản chiếu lên đôi gò má thanh tú của nàng.
Xung quanh, sương sớm cuộn trào như những dải bạc lướt đi. Ánh sáng ban mai chiếu rọi lên những bộ khôi giáp của các binh sĩ. Đao, thương, tên, kích lấp lánh rực rỡ. Khi ánh nắng ban mai lan rộng, những dải sương bạc cũng tan dần về bốn phía. Chân trời dần sáng rõ, màn đêm nhanh chóng rút lui về một phương trời khác, bình minh lặng lẽ tuyên bố chiến thắng. Khi bức màn đêm được vén đi, vẻ anh dũng của các tướng sĩ dần hiện rõ. Trong đoàn quân hùng hậu, có cả tướng soái cưỡi ngựa buộc cương lẫn binh lính tay cầm trường mâu. Họ rời xa cố hương, tập trung về nơi đây, ánh mắt tất cả đều đổ dồn vào tòa lầu đá phía trước. Sau tòa lầu là những vách đá đen kịt, và Vạn Lý Trường Thành sừng sững như một con cự long, uốn lượn vắt qua những ngọn núi. Không lâu sau, tiếng hô "Ngô hoàng vạn tuế" vang lên, dội vào tai Mộc Lan không dứt. Hoàng đế Trung Quốc bước lên đài duyệt binh, nơi được xây dựng dành riêng cho các "Thiên tử vĩ đại". Thoáng chốc, đao thương liền vung lên giữa không trung, tiếng "vạn tuế" nối tiếp nhau vang dội. Trên đài duyệt binh, bóng người di chuyển, hàng triệu ánh mắt đều đổ dồn về phía hoàng đế, tựa hồ tin rằng người đang ngự trị trên vị trí tối cao sẽ nghĩ ra được kế sách tuyệt diệu nào đó.
Mộc Lan trong tay nắm một đóa hoa nhỏ màu đỏ nhạt. Hạ Đình Ngọc, người cưỡi chiến mã bên trái nàng, cũng tò mò nhìn ngắm.
"Đóa hoa này đẹp thật đấy, Tử Anh..."
Tử Anh là tên tự của Mộc Lan. Việc Mộc Lan nữ giả nam trang tòng quân là một bí mật mà ngay cả Hạ Đình Ngọc cũng không hề hay biết. Không chỉ hắn, mà cả 1,13 triệu tướng sĩ tập kết gần Vạn Lý Trường Thành để xuất chinh Cao Ly, cũng hoàn toàn không hay biết gì về thân phận thật của nàng.
"Đúng vậy... Ở cố hương, ta chưa từng thấy loài hoa này."
Mộc Lan hơi sầu não đáp, ánh mắt xa xăm nhìn lên bầu trời xanh biếc. Bầu trời đã hoàn toàn thoát khỏi sự chi phối của màn đêm, không một gợn mây nào có thể trú ngụ, trong vắt đến khó hiểu, khiến cả bầu trời hóa thành một màu xanh thẳm.
Quê hương Mộc Lan là quận Chung Ly. Ở vùng đất ấy, không khí và nước hòa quyện vào nhau, gió nhẹ ve vuốt làn da trẻ thơ, ngay cả mùa đông cũng tràn ngập cảnh sắc tươi đẹp như mùa xuân. Nhưng nơi đây lại là gió lạnh thấu xương, thổi đến mức người ta run cầm cập. Trăng treo cao trên nền trời đêm, lạnh giá tựa vòng băng. Đất đai cằn cỗi, bụi vàng bay lượn khắp trời. Trên cánh đồng không một màu xanh, cây khô và đá sỏi lẫn vào nhau khó phân biệt. Cơn cuồng phong từ sa mạc phía Bắc thổi tới, vượt qua vạn dặm để đến nơi này. Người dân nơi đây, nếu tâm địa không cứng cỏi như đá tảng, e rằng sẽ chẳng thể sinh tồn được. Không lâu nữa, mọi người sẽ rời đi, bắt đầu hành trình chinh phạt đất khách.
"Trên mảnh đất hoang vu này hiếm lắm mới mọc được đóa hoa xinh đẹp như vậy, mà ta lại tiện tay hái mất rồi."
Mộc Lan không khỏi cảm thấy hối hận.
Năm Đại Nghiệp thứ tám của Tùy Dương Đế, tức năm 612 Công nguyên. Năm đó, vào ngày mùng 3 tháng Giêng, Dương Đế rời kinh đô Trường An phồn thịnh, thân chinh Cao Ly. Cuộc trường chinh này được gọi là "Chiến dịch Chinh Liêu", điều động 1,13 triệu 3.800 tướng sĩ, cộng thêm lực lượng hậu cần tiếp tế, tổng cộng lên đến 2,2 triệu người. Gần một phần tư tổng dân số nhà Tùy đã tham gia cuộc viễn chinh này, đúng như danh xưng "Bách Vạn Đại Quân", quả không h�� cường điệu.
Dương Đế họ Dương, tên Quảng. Danh xưng "Dương Đế" không phải là do ông tự xưng khi còn sống, mà là thụy hiệu mang ý nghĩa tiêu cực mà hậu thế đặt cho ông. Ý nghĩa của "Dương Đế" là: "Hoàng đế kiêu ngạo làm loạn lễ nghi, hành xử vô đạo, ức hiếp bá tánh". Một vị hoàng đế có thụy hiệu bất nhã như vậy quả thực hiếm thấy. Dương Đế là một trong những bạo quân nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc từ xưa đến nay. Đương nhiên, điều này cũng là vì sau khi nhà Đường thay thế nhà Tùy, họ đã tích cực tuyên truyền những ác danh của ông nhằm mục đích lưu truyền vạn thế.
Tuy nhiên, vào thời điểm đó, mọi người chưa hề xem Dương Đế là một bạo quân hay kẻ âm mưu. Ông được đánh giá là một người kiêu căng xa xỉ, dù có tật xấu thích khoe khoang bản thân, nhưng lại là một "Hoàng đế tiến bộ" với tính cách phóng khoáng, không keo kiệt. Dù háo sắc, nhưng trên thế giới này, những vị hoàng đế không bị nữ sắc lay động vốn đã rất hiếm hoi. Do đó, không thể xem đây là một khuyết điểm đặc biệt. Ông tuy thích cho x��y dựng những công trình vĩ đại như con kênh đào dài 2.200 dặm, nhưng điều đó cũng trở thành bằng chứng cho những đóng góp vượt trội của ông so với các đời hoàng đế trước.
Nhà Tùy có 190 quận, 55 huyện, 8,9 triệu hộ dân, với dân số 46 triệu người. Vào thời đó, trên thế giới, xét về dân số, năng suất nông nghiệp, cũng như mức độ hoàn thiện của thể chế quốc gia, nhà Tùy là một cường quốc mà bất kỳ quốc gia nào khác cũng không thể sánh bằng. Người đã khai sáng một đại quốc rộng lớn như vậy chính là Dương Kiên, thân phụ của Dương Đế, tức Văn Đế. Ông vốn là trọng thần của Bắc Chu, lên ngôi vào tháng Hai năm Khai Hoàng thứ nhất (năm 581 Công nguyên), thành lập nhà Tùy. Đến năm Khai Hoàng thứ chín (năm 5?? Công nguyên), ông tiêu diệt nước Trần ở phía Nam, thống nhất Trung Quốc. Như vậy, kỷ nguyên phân liệt kéo dài 273 năm của các triều đại Nam Bắc đã chính thức khép lại. Năm Nhân Thọ thứ tư (năm 604 Công nguyên), Văn Đế đột ngột tạ thế, để lại một đế quốc bá chủ cùng khối tài sản khổng lồ, hưởng thọ 64 tuổi. Sau đó, thứ t�� Dương Quảng kế thừa vương vị.
Ông chính là Dương Đế. Với thân phận là con thứ, ông đã chiếm đoạt ngôi hoàng đế của anh trai mình – quá trình này sẽ được kể chi tiết ở phần sau. Ông có thể nói là người thừa kế "được lợi" nhất trên thế giới.
Nhà Tùy đã chinh phục Trần, thống nhất Trung Quốc, rồi lại đào Đại Vận Hà, nối liền lưu vực sông Trường Giang và Hoàng Hà, hai khu vực kinh tế lớn ở phía Nam và phía Bắc, điều này có ý nghĩa vô cùng vĩ đại trong lịch sử kinh tế, thương mại và giao thông của Trung Quốc. Nhà Tùy, dù xét về chính trị, quân sự hay kinh tế, cũng đều đã thực hiện được sự thống nhất Trung Quốc. Trên cơ sở đó, nền văn hóa phát triển riêng biệt của phương Nam và phương Bắc cũng hòa nhập vào nhau, đặc biệt là việc truyền bá nền văn hóa Phật giáo rực rỡ đến khắp các nước Đông Á, đưa văn hóa của những quốc gia này vào vòng ảnh hưởng của cùng một nền văn hóa.
Dương Đế lên ngôi vào năm Nhân Thọ thứ tư (năm 604 Công nguyên), khi đó ông 36 tuổi. Ông có vóc người khôi ngô, râu tóc đen rậm, đôi mắt to sáng ngời đầy thần thái, toát lên khí chất nam tử hiên ngang và uy nghiêm của bậc thiên tử. Ngay từ thời làm Thái tử, ông đã tham gia quốc chính như một "vị hoàng đế thứ hai", giờ đây càng xứng đáng là người thống trị cả vùng đất Trung Hoa rộng lớn. Ông cũng là vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc công khai khởi công xây dựng những công trình bằng gỗ chưa từng có, thể hiện một cuộc đời xa hoa đến cực độ mà không hề kiêng dè.
Dương Đế ra lệnh Vũ Văn Khải xây dựng điện Hiển Nhân Nghi tại ngoại ô phía nam Đông Đô Lạc Dương. Từ phương Nam, một lượng lớn vật liệu đá quý hiếm được vận chuyển về, cùng với gỗ đàn hương dùng để trang trí nội thất, và hàng triệu cây hoa cỏ quý hiếm để tô điểm sân vườn. Ông còn cho vận chuyển chim muông quý hiếm từ phương Nam về nuôi thả tại đây. Dương Đế say mê phong thổ văn hóa Giang Nam, đặc biệt tin sùng Phật giáo thịnh hành ở Nam triều. Ông dự định tái hiện phong cảnh Giang Nam tại thành Lạc Dương. Vì thế, không tiếc dồn vào lượng lớn vật lực để khởi công xây dựng điện Hiển Nhân Nghi. Vào đầu xuân năm Đại Nghiệp thứ nhất (năm 605 Công nguyên), điện nghi lộng lẫy và xa hoa này đã hoàn thành.
Sau đó, ông lại hạ lệnh xây dựng tại Trường An một hành cung rộng lớn không mấy công dụng, có phạm vi 200 dặm – Tây Uyển. Ông còn cho đào hồ nhân tạo ở khu vực trung tâm, xây ba hòn đảo nhân tạo, lần lượt đặt tên là Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu. Trên các đảo lại kiến tạo cung điện, mỗi nơi một kiểu, với những hành lang uốn khúc thông suốt lẫn nhau. Đồng thời, ông cho đào một con kênh nhân tạo mang tên kênh Vảy Rồng, dẫn nước sông vào, và dọc bờ kênh nhân tạo này, xây dựng mười sáu tòa cung điện. Mỗi tòa cung điện đều có mỹ nữ vào ở. Tây Uyển không chỉ sở hữu kiến trúc lộng lẫy, xa hoa, mà còn quy tụ đủ mọi kỳ hoa dị thảo trên đời. Ngay cả khi cây cỏ khô héo vào ngày đông giá rét, người ta vẫn dùng lụa làm hàng vạn bông hoa giả để trang điểm hành cung, nhằm giữ cho cảnh sắc rực rỡ, muôn màu muôn vẻ ấy luôn hiện hữu suốt bốn mùa.
Vũ Văn Khải, người được ủy nhiệm xây dựng những kiến trúc này, là một trong những thiên tài kỹ thuật hiếm thấy trong lịch sử Trung Quốc. Ông từng nổi danh nhờ việc quy hoạch, kiến thiết nên đô thành Trường An đồ sộ và mỹ lệ trước đó. Xét về cái tên, ông dường như không phải người Hán, có thể xuất thân từ một quốc gia nào đó thuộc khu vực Tây Vực. Từ đó, ông đã chủ trì thiết kế và xây dựng không ít thành thị lớn lao cùng đủ loại kiểu dáng cung điện, cầu cống, thậm chí còn phát minh ra cánh cửa tự động đóng lại.
Dương Đế đã tận hưởng cuộc sống xa hoa bên hơn ba nghìn mỹ nhân trong những hành cung này, tự mình tấu nhạc, ngâm thơ làm phú. Ông cũng có thể được xem là thi nhân "có địa vị" nhất thời Tùy. Ông còn mời sứ giả nước ngoài đến thăm, thịnh tình thiết đãi bằng yến tiệc linh đình, và mời các ảo thuật gia Ấn Độ, Ba Tư biểu diễn ma thuật. Sự phồn hoa thịnh trị mà ông tạo ra là rõ như ban ngày, và cũng chính vào thời điểm đỉnh cao của sự thịnh thế này, ông bắt đầu cuộc viễn chinh Cao Ly.
Bản chuyển ngữ này là sản phẩm độc quyền được biên tập bởi truyen.free.