(Đã dịch) Ngã Đích Đệ Tam Đế Quốc - Chương 165: Ba Lan
Ngày hôm sau, sau khi đạt được thỏa thuận hợp tác với Liên Xô, Merkel đã giao toàn bộ công việc còn lại cho các quan chức ngoại giao cấp dưới. Để giữ bí mật, ông đích thân lên máy bay trở về ngay trong ngày.
Năm 1937, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đức Merkel vừa về đến nước liền lập tức triệu tập đại sứ Ba Lan tại Đức. Lần triệu tập này khiến người Ba Lan tên là Lipsky như ngồi trên đống lửa. Đức đã từng triệu tập đại sứ Tiệp Khắc, và kết quả là Tiệp Khắc bị sáp nhập; Đức cũng từng triệu tập đại sứ Áo, và điều tương tự đã xảy ra với Áo; chưa đầy một thời gian trước, Đức mới triệu tập đại sứ Hungary, và giờ đây Hungary đã trở thành một tỉnh của Đức – dù Anh và Pháp vẫn chưa thừa nhận sự thật này.
Tuy nhiên, người Ba Lan vẫn tự tin rằng Đức không có lý do gì để đe dọa họ. Mối quan hệ với Đức chưa bao giờ tốt đẹp đến thế; hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau mười năm ký kết giữa hai nước vào năm 1929 còn hơn một năm nữa mới hết hạn. Hơn nữa, theo một hiệp định thương mại mới ký kết gần đây, Ba Lan vẫn là quốc gia được hưởng ưu đãi tối huệ quốc. Vì vậy, Lipsky vẫn tiếp nhận cuộc triệu tập của Merkel lần này.
Thế nhưng, người Ba Lan không hề hay biết rằng, họ đã lợi dụng tình hình hỗn loạn ở Tiệp Khắc để thừa nước đục thả câu, chiếm đoạt một vùng đất tên là Đặc Biệt Thanh. Điều này khiến Anh và Pháp vô cùng căm tức, lung lay quyết tâm ủng hộ Ba Lan của họ.
Mặc dù vậy, người Ba Lan vẫn cứ tin rằng mọi lợi thế đều nằm trong tay họ. Bởi lẽ, dù Anh và Pháp có dao động trong quyết tâm bảo vệ Ba Lan, họ vẫn tuyên bố ủng hộ lập trường cơ bản của nước này. Chính phủ Luân Đôn vừa đưa ra tuyên bố: "Khi bất kỳ hành động nào đe dọa rõ ràng nền độc lập của Ba Lan xảy ra, và khi chính phủ Ba Lan nhận thấy cần phải sử dụng sức mạnh quốc gia để kháng cự nhằm bảo vệ sự sống còn của mình, Anh và Pháp sẽ viện trợ Ba Lan, bảo vệ sự thống nhất và độc lập của nước này."
Tuy nhiên, tuyên bố của Anh rõ ràng đã chọc giận Liên Xô. Chiều hôm đó, Stalin liền đáp lại thái độ của chính phủ Anh: "Một quốc gia từng huy hoàng nhưng giờ đây vô cùng suy yếu ở Tây Âu xa xôi, lại muốn can thiệp vào khát vọng chủ nghĩa cộng sản của nhân dân thế giới, thật là một điều nực cười biết bao."
Cũng vào lúc này, nguyên thủ Đức Accardo có một thái độ rất đáng chú ý. Ông không hề đề cập đến bất kỳ vấn đề nào liên quan đến Ba Lan, nhưng tất cả mọi người đều biết ông thực sự muốn làm gì: "Không ai có thể đe dọa được nhân dân Đức vĩ đại. Quân đội Quốc phòng đã sẵn sàng mọi thứ. Nếu có kẻ nào muốn lựa chọn phương thức bạo lực, dùng sức mạnh của mình để cạnh tranh với Đức, nhân dân Đức sẽ sẵn sàng đón nhận thách thức này."
Ngày hôm sau, để Đức thận trọng xem xét vấn đề Ba Lan, chính phủ Pháp cũng lên tiếng thể hiện thái độ của mình. Phía Pháp đã tiếp xúc với Ba Lan, và bảo đảm rõ ràng với người Ba Lan rằng: Khi chiến tranh giữa Đức và Ba Lan bùng nổ, Pháp sẽ ngay lập tức tiến hành không kích Đức, ba ngày sau sẽ thực hiện các cuộc tấn công kiềm chế trên bộ, và trong vòng mười lăm ngày kể từ khi chiến tranh nổ ra, sẽ phát động một cuộc chiến tranh tổng lực nhằm vào lãnh thổ Đức.
Đồng thời, Anh cũng cam kết với đồng minh Ba Lan rằng Không quân Hoàng gia sẽ tấn công Đức, oanh tạc các mục tiêu quan trọng trên lãnh thổ Đức, và lực lượng bộ binh Anh sẽ triển khai kế hoạch viện trợ Ba Lan từ Biển Đen.
Có được sự bảo đảm từ hai quốc gia, Ba Lan lại một lần nữa rà soát lại lực lượng tác chiến của mình. Các tướng lĩnh Ba Lan vô cùng lạc quan cho rằng họ có thể đánh bại cả Đức và Liên Xô, bởi vì họ từng đánh bại quân xâm lược Liên Xô vào năm 1920. Lực lượng bộ binh dũng cảm, được huấn luyện nghiêm chỉnh của họ sẽ kìm chân địch, lợi dụng các công sự phòng thủ kiên cố đã được xây dựng dọc biên giới để gây tổn thất lớn cho quân địch, cho đến khi kỵ binh Ba Lan hùng mạnh thọc sâu vào phía sau lưng địch, cắt đứt đường tiếp tế và hệ thống chỉ huy của đối phương – tất cả những điều này gần như là một phiên bản tái hiện của cuộc chiến Xô-Ba Lan năm 1920.
Để thực hiện mục tiêu này, Ba Lan đã tiến hành tổng động viên chiến tranh trên toàn quốc. Quân đội chính quy đã vượt mốc 1.950.000 người, lực lượng dự bị cũng lên tới 700.000 người. Tình hình binh lực của Đức lại khá phức tạp. Sau một năm mở rộng và huấn luyện, Đức có 1.440.000 quân chính quy. Con số này chưa bao gồm 4 sư đoàn Đảng vệ quân gồm 70.000 người, và 690.000 quân tuyến hai không dùng cho tấn công.
Thực tế, với cách tính toán như vậy, Ba Lan khi tác chiến trên hai mặt trận dường như không có lợi thế gì. Tuy nhiên, trong kế hoạch tác chiến của Đức, tổng binh lực tấn công Ba Lan bị giới hạn ở 900.000 quân, trong khi số quân còn lại được bố trí ở trong nước và dọc biên giới Đức-Pháp.
Cứ như vậy, ở mặt trận phía Tây, Ba Lan có 1.200.000 quân và 400.000 quân dự bị, đối đầu với 900.000 quân Đức và 190.000 quân dự bị của họ. Ba Lan có lợi thế về quân số gần 500.000 người.
Đằng sau lợi thế quân số khổng lồ ấy là những thiếu sót đáng kinh ngạc. Quân đội Ba Lan không coi trọng vai trò của sĩ quan tham mưu, kết quả là trong số 20 tư lệnh quân đoàn lục quân, không một ai được huấn luyện về chiến tranh hiện đại. Về thông tin liên lạc, quân đội Ba Lan phụ thuộc vào một số ít đường dây điện thoại dân dụng và mạng điện báo, vốn vô cùng cũ kỹ và lạc hậu.
Về trang bị, tuy Ba Lan có 800 xe tăng, tưởng như hùng mạnh, nhưng tất cả đều là các mẫu cũ kỹ của Pháp, hoặc là xe tăng "nhái" do Ba Lan sản xuất theo mẫu của Anh. Hơn nữa, những chiếc xe tăng này còn không được tổ chức thành các đơn vị thiết giáp độc lập, mà lại phân tán trong các đơn vị bộ binh.
Trang bị pháo binh dã chiến của Ba Lan được coi là hoàn chỉnh nhất, bao gồm các bản sao của pháo 75mm của Pháp với tính năng tốt. Nhưng các loại pháo hạng nặng khác thì đáng tiếc đã lỗi thời từ lâu. Các loại lựu pháo hiện đại 105mm và 155mm vận chuyển rất chậm chạp, khó theo kịp nhịp độ hành quân của bộ đội. Bi kịch hơn nữa là không một lữ đoàn pháo binh nào có đủ hệ thống vận chuyển.
Vào những năm 1930, Không quân Ba Lan từng sở hữu một trong những loại máy bay chiến đấu hùng mạnh nhất thế giới. Những chiếc máy bay này từng khiến người Đức phải lo lắng. Nhưng giờ đây chúng đã hoàn toàn lạc hậu. Máy bay chiến đấu PZL-P11 có tốc độ tối đa chỉ vỏn vẹn 400 km/h, chỉ bằng hơn một nửa tốc độ của máy bay chiến đấu FW-190D của Đức. Vì vậy, 1.000 chiếc máy bay chiến đấu của Không quân Ba Lan thực sự không phải đối thủ của Không quân Đức.
Về số lượng, Không quân Ba Lan dường như cũng đã tụt hậu đáng kể: Không quân Đức có tới 813 chiếc FW-190D và 411 chiếc máy bay chiến đấu Me 109A; 702 chiếc máy bay ném bom bổ nhào Stuka; ngoài ra còn có hơn 500 chiếc máy bay ném bom Do 217 – trong số 2.400 chiếc máy bay của Không quân Đức, hai phần ba sẽ được điều động đến mặt trận phía Đông để tham gia chiến dịch Ba Lan lần này.
Kế hoạch phòng thủ của quân đội Ba Lan cũng không hoàn hảo. Các tướng lĩnh hy vọng ngăn chặn mọi hướng tấn công của cả Đức và Liên Xô, dùng quân đội của họ để phong tỏa mọi con đường tấn công khả dĩ. Họ dự trữ một lượng lớn kỵ binh, chuẩn bị cho cuộc phản công khi quân Đức phải rút lui dưới áp lực của quân Anh và Pháp.
Vì vậy, người Ba Lan đã phân tán lực lượng gồm 7 tập đoàn quân dọc biên giới Đức-Ba Lan, ngoài ra 5 tập đoàn quân khác được bố trí dọc biên giới Liên Xô-Ba Lan. Phương án phòng thủ này không để lại bất kỳ ấn tượng tốt nào cho Tổng tham mưu trưởng Pháp, Tướng Maurice Gamelin. Ông đã cố gắng thuyết phục Ba Lan từ bỏ một số khu vực để tập trung tăng cường phòng thủ các vùng trọng yếu, tuy nhiên, nỗ lực này cuối cùng đã thất bại hoàn toàn do sự cố chấp của người Ba Lan.
Người Ba Lan không muốn để mất các vùng nông nghiệp và thành phố công nghiệp đông dân cư ở phía Tây chỉ trong vài giờ đầu giao tranh, họ lo sợ rằng làm như vậy sẽ làm suy yếu ý chí kháng cự của cả nước. Trong khi đó, Anh cũng ưu ái quyết tâm chiến đấu không nhượng bộ của Ba Lan.
Đêm ngày 18 tháng 7 năm 1937, "Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau Xô-Đức" chính thức được ký kết. Liên Xô cuối cùng đã nhượng bộ, theo đề nghị của Đức: trong vòng một tháng sau khi Liên Xô tấn công Ba Lan, Đức sẽ không tấn công Ba Lan. Có được sự bảo đảm này, Liên Xô quyết định dẫn đầu phát động chiến tranh, phục thù cho thất bại năm 1920 của mình. Hai nước nghiêm ngặt giữ bí mật về nội dung điều ước, cam kết sẽ không công khai thừa nhận sự tồn tại của hiệp ước này trước năm 1938.
Ngày 20 tháng 7 năm 1937, có sự bảo đảm từ Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau Xô-Đức, Hồng quân Liên Xô, sau mười tháng chuẩn bị, đã bắt đầu một cuộc tấn công toàn diện vào biên giới phía đông Ba Lan. Hành động này khiến Anh và Pháp trở tay không kịp; nỗi lo ban đầu về việc Đức "chó cùng rứt giậu" ngay lập tức bị thay thế bởi sự sợ hãi khi Hồng quân Liên Xô tiến sâu vào châu Âu.
Tuy nhiên, điều đáng kinh ngạc là cuộc tấn công toàn diện đầu tiên đã bị người Ba Lan dễ dàng đánh lui. Khi Hồng quân Liên Xô tiến sâu vào lãnh thổ Ba Lan 7 km, họ đã vấp phải sự kháng cự ngoan cường của quân đồn trú. Quân đội Ba Lan dũng cảm thậm chí đã tiến hành các cuộc phản công cục bộ. 400.000 quân thuộc đội hình tiên phong của Hồng quân Liên Xô đã phải vứt bỏ vũ khí, giáp trụ, chịu tổn thất nặng nề.
Quân đội Liên Xô chưa từng phải chịu tổn thất lớn đến như vậy, ước tính 40.000 người chết trận, hơn 70.000 người bị thương, hơn một nửa số vũ khí bị mất. Một nửa trong số 200 chiếc xe tăng tham gia tấn công đã bị phá hủy. Phần lớn xe tăng KV-1 kiểu mới, vốn tưởng chừng rất mạnh mẽ, lại buộc phải bỏ lại do hỏng hóc cơ khí.
Không quân Liên Xô, thiếu kinh nghiệm tác chiến, đã lao vào cuộc tranh giành quyền kiểm soát bầu trời ở tầm thấp với Không quân Ba Lan trong một trận chiến đẫm máu. Trong vòng 3 ngày, hai bên đã xảy ra 7 cuộc không chiến quy mô lớn với hàng chục máy bay mỗi bên. Không quân Ba Lan chịu tổn thất nặng nề do máy bay cũ kỹ, nhưng Không quân Liên Xô cũng không giành được nhiều lợi thế, tỷ lệ tổn thất của cả hai bên duy trì ở mức một chọi một.
Sau đó, Stalin tức giận và x���u hổ đã điều động lực lượng dự bị của Hồng quân Liên Xô. 700.000 quân hùng hậu đã ồ ạt tiến vào lãnh thổ Ba Lan, khiến chiến tranh leo thang toàn diện. Dưới sự hỗ trợ của Anh và Pháp, quân đồn trú Ba Lan đã tái hiện chiến thuật thời chiến tranh Xô-Ba Lan năm 1920, với các cuộc tấn công vu hồi, thọc sườn, đã một lần nữa đánh tan cuộc tấn công thứ hai của Hồng quân Liên Xô.
Trong khi Ba Lan đang tràn đầy tự tin và Hồng quân Liên Xô đang nếm mùi thất bại nặng nề, một sự kiện khiến Anh và Pháp phẫn nộ đã xảy ra. Nguyên thủ Đức Accardo Rudolf đã phát biểu công khai trên đài phát thanh, bày tỏ hy vọng Ba Lan sẽ từ bỏ khu vực Hành lang Danzig, để Đức hoàn thành việc thống nhất toàn bộ lãnh thổ trên danh nghĩa.
"Nước Đức không nên để người khác muốn làm gì thì làm trên lãnh thổ của mình! Chúng ta dù đã trải qua sỉ nhục, nhưng sẽ không bao giờ để nỗi nhục ấy đeo đẳng mãi! Mỗi người dân Đức đều có nghĩa vụ thiêng liêng là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc! Hành lang Danzig là một phần lãnh thổ thiêng liêng và không thể chia cắt c��a Đức," Accardo hùng hồn tuyên bố trong bài diễn thuyết trên đài phát thanh.
Hồi đáp lại ông là tiếng hô vang đều đặn của 300.000 người dân Berlin xuống đường diễu hành: "Đức Quốc vĩ đại muôn năm! Nguyên thủ vĩ đại Accardo Rudolf muôn năm!"
Ngày hôm sau, có lẽ vì chiến tranh ở mặt trận phía Đông diễn ra thuận lợi một cách kỳ lạ, hoặc do ảnh hưởng từ viện trợ quy mô lớn sắp tới của Anh và Pháp, hay cũng có thể do niềm tin mù quáng vào cam kết bảo vệ Ba Lan của Anh và Pháp, chính phủ Ba Lan đã ngay lập tức từ chối thẳng thừng yêu cầu vô lý của nguyên thủ Đức, tuyên bố vấn đề Hành lang Danzig không cần phải đàm phán.
Mọi bản quyền đối với phần nội dung này thuộc về truyen.free, nguồn cảm hứng không ngừng cho người đọc.