(Đã dịch) Ngã Đích Đệ Tam Đế Quốc - Chương 451: Đông tuyến
Tại mặt trận phía Đông, chúng ta nhất định phải giữ vững thế phòng ngự. Tôi rất rõ về mức độ chuẩn bị chiến tranh của Liên Xô, nhưng mệnh lệnh của Nguyên thủ là chúng ta phải kiên trì phương châm tác chiến phòng ngự chiến lược. Tướng quân Liszt cầm điện thoại, ra lệnh cho một sư đoàn trưởng ở đầu dây bên kia.
Cúp điện thoại xong, ông liếc nhìn tướng quân Kluge đang ngồi bên cạnh, cười khổ rồi nhấp một ngụm trà: "Kluge, tôi thật không hiểu tại sao chúng ta lại phải bỏ lỡ một cơ hội ngàn năm có một tốt như vậy. Binh lính của chúng ta đã sẵn sàng đâu vào đấy, hai triệu ba trăm ngàn đại quân đã tập trung ở mặt trận phía Đông, vậy mà lại phải chờ Liên Xô ra tay trước."
"Nguyên thủ đã hạ lệnh chờ đợi, nên quân đội của tôi sẽ chỉ chờ đợi." Kluge cười đáp: "Dù Moscow có ở ngay trước mắt, chỉ cần tôi nhận được mệnh lệnh của Nguyên thủ, quân đội của tôi sẽ dừng bước và chờ đợi."
So với tướng quân Liszt, năng lực chỉ huy của Kluge không hề xuất chúng. Thẳng thắn mà nói, Kluge, giống như Raedel, được điều đến mặt trận phía Đông chủ yếu là vì lòng trung thành tuyệt đối đáng tin cậy của ông ta. Bởi vậy, Accardo sẵn lòng giao quân đội cho Kluge, thực chất là vì Kluge từ trước đến nay không bao giờ làm những chuyện vẽ rắn thêm chân.
Có những tướng lĩnh thường tự ý thay đổi mệnh lệnh tác chiến. Họ có thiên tư xuất chúng và khả năng nắm bắt thời cơ chiến đấu rất mạnh, lý do chống lệnh của họ chính là để giành chiến thắng. Đây là những "thiên tài" thực thụ, nên Accardo tạo không gian cho họ tự do phát huy, ví dụ như Donitz, Guderian, Rommel. Lại có những người lão luyện, trầm ổn như núi, là những tướng lĩnh quân sự Đức truyền thống. Những người này đáng tin cậy, kết quả luôn đúng quy trình, như Rundstedt, Liszt, Keitel. Còn một số người có năng lực nhưng lại không dễ sử dụng, vì nhiều lý do khác nhau nên chỉ có thể sử dụng một cách giới hạn, ví dụ như Brauchitsch, Bock. Dĩ nhiên, cũng có một loại người khác mà Accardo không mấy dễ chịu khi sử dụng, lòng trung thành của họ cũng có vấn đề và gần như đã bị Nguyên thủ loại bỏ hoàn toàn...
Cuối cùng, một loại tướng lĩnh quân Đức khác chính là Raedel và Kluge. Họ tuyệt đối trung thành với cá nhân Accardo, nhưng năng lực chỉ huy tác chiến còn cần được nâng cao. Accardo thích sử dụng những tướng lĩnh như vậy, vì họ trung thực thi hành mệnh lệnh của Accardo, và dưới sự "dự đoán" tinh chuẩn của Accardo, thường mang lại những chiến quả kinh người ngoài mong đợi.
Vì vậy, Accardo, với tư cách là chỉ huy tối cao mặt trận phía Đông, đã chọn Kluge một cách trung dung, thay vì Liszt hay Model, những người có khả năng chiến đấu tốt hơn. Còn Kluge thì hết lòng phối hợp cùng Liszt và các tướng quân khác, dốc sức gia cố hệ thống phòng ngự ở mặt trận phía Đông, chờ đợi Liên Xô phát động cuộc tấn công "bất ngờ" vào một buổi sáng nào đó.
Vào lúc này, các tập đoàn quân ở mặt trận phía Đông đang dốc sức hoàn thiện phòng tuyến trong khu vực phụ trách của mình. Nước Đức lần này đã hoàn tất mọi công tác chuẩn bị đầy đủ cho cuộc tấn công của Liên Xô. Để ứng phó với tình huống Liên Xô có thể ồ ạt tấn công, Accardo đã sớm triển khai lý thuyết phòng ngự chiều sâu, thiết lập sẵn 15 tuyến phòng ngự trải dài khắp vùng Ba Lan.
Hàng triệu quân lính đang nhàn rỗi, việc huấn luyện và nghỉ phép thì ít, thời gian còn lại chủ yếu là phối hợp cùng công nhân Ba Lan từ các trại tập trung để đào chiến hào. 15 tuyến phòng ngự này tuy không phải là những công sự vĩnh cửu khổng lồ, nhưng để đối phó với H���ng quân Liên Xô vốn không chiếm ưu thế về hỏa lực và tính cơ động thì lại quá dư thừa.
Những công sự phòng ngự này được bố trí theo hình răng cưa, hoặc giống như các lỗ châu mai trên Vạn Lý Trường Thành. Một số tuyến phòng ngự kiên cố được đặt ở phía trước, các mặt bên cũng được cấu trúc tỉ mỉ tương tự. Một khi Liên Xô bắt đầu tấn công, họ sẽ nhận ra có những khu vực dễ đột phá, nhưng cũng có những khu vực không thể tiến thêm dù chỉ nửa bước.
Phía sau những trận địa phòng ngự kiên cố này là nơi bố trí bộ binh và các đơn vị thiết giáp tinh nhuệ của Đức. Một khi Liên Xô tiến vào những khu vực lõm hình răng cưa của trận địa, cũng đồng nghĩa với việc lọt vào một cái túi được quân Đức bố trí tỉ mỉ. Quân Đức, với sự phối hợp của các đơn vị thiết giáp và không quân, sẽ đóng kín những cái túi này, vây giết "những kẻ xâm lược" Liên Xô bên trong.
Bộ Tổng chỉ huy tối cao của Quân đội Đức đã tiến hành vô số lần diễn tập và đánh giá về trận địa phòng ngự chiều sâu này. Các tướng lĩnh bảo thủ nh�� Brauchitsch ước tính rằng, Liên Xô có thể sẽ phải dùng một triệu rưỡi quân lính để lấp đầy 10 tuyến phòng ngự đầu tiên. Trong khi đó, một số tướng lĩnh lạc quan hơn thì cho rằng, tuyến phòng ngự này có thể "nuốt chửng" hai triệu quân Liên Xô mà không gặp vấn đề gì. Còn về cái giá mà Đức phải trả, mọi người dự đoán khá nhất quán, chỉ khoảng hai trăm đến ba trăm ngàn người thiệt hại.
Tuy nhiên, một khi chiến tranh Xô-Đức toàn diện bùng nổ, phía sau hai triệu ba trăm ngàn quân chính quy của Đức đang đóng ở biên giới, còn có khoảng bảy trăm ngàn quân dự bị. Thực tế, so sánh binh lực hai bên không chỉ đơn giản là ba triệu đối đầu năm triệu, mà là tổng cộng năm triệu quân của Đức, Romania, Ý và Pháp sẽ đối đầu với năm triệu quân Liên Xô – trong đó, Đức nắm giữ ưu thế tuyệt đối về lực lượng thiết giáp và không quân.
Nếu tính cả việc Thổ Nhĩ Kỳ, đồng minh tiềm năng, có thể đưa ít nhất bảy trăm ngàn quân chính quy vào cuộc, cũng như binh lực mà Phần Lan, Ireland và các quốc gia khác có thể cung cấp, phe Trục thậm chí sẽ có ưu thế về binh lực. Ưu thế lớn đến mức nào, còn tùy thuộc vào khả năng tấn công của quân Đức trên chiến trường.
Thực tế, trong những ngày này, Liên Xô cũng không hề nhàn rỗi. Họ đang tích cực điều binh khiển tướng chuẩn bị "đốt cháy châu Âu bằng ngọn lửa đỏ". Hàng triệu tín đồ của Stalin đã cầm vũ khí, được vũ trang thành Hồng quân Liên Xô, chuẩn bị cùng Đức Quốc, nguồn cơn tội ác, mở một trận đại chiến khốc liệt chưa từng có. Vì cuộc chiến này, Liên Xô đã chuẩn bị năm triệu quân chính quy. Lực lượng này không còn là "quả hồng mềm" như thời Liên Xô tấn công Ba Lan năm xưa, mà là Hồng quân Liên Xô thực sự đã được tăng cường sức mạnh. Về lực lượng thiết giáp, họ thậm chí không hề kém cạnh so với Đức quốc đầy kiêu căng, thậm chí ở một số cục bộ còn có ưu thế hơn.
Rút kinh nghiệm từ những bài học của các quốc gia khác trong hai năm qua, lãnh đạo Liên Xô, Stalin, còn chú trọng hơn cả Mỹ vào việc xây dựng và phát triển lực lượng thiết giáp. Các kỹ sư Liên Xô đã cải tiến xe tăng T-26, tăng cường lớp giáp phía trước. Dĩ nhiên, ngoài những chiếc T-26 vốn đã chịu thiệt hại trước quân Đức, con át chủ bài thực sự của Liên Xô là 2500 chiếc xe tăng hạng nặng KV-1.
Với 5000 xe tăng ở biên giới Xô-Đức, Liên Xô có lý do để tin rằng quân đội của họ sẽ dễ dàng đột phá phòng tuyến của Đức. Stalin và Khrushchev cũng tràn đầy tự tin vào cuộc chiến ��ánh úp nước Đức, họ cảm thấy nắm chắc phần thắng trong tay. Stalin thậm chí đã bổ nhiệm thị trưởng và bí thư cho Warsaw lẫn Berlin.
Hơn nữa, một số tướng lĩnh Liên Xô quen thuộc quân đội Đức cũng rất coi trọng chiến dịch lần này. Chẳng hạn như Zhukov, người hiện đang là Phó Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô tại Viễn Đông, hoàn toàn tự tin vào cuộc tấn công Đức. Sau khi nghiên cứu phương thức chiến đấu của quân đội Đức, ông đã đưa ra quan điểm về việc quân đội Đức thiếu hụt pháo binh.
Zhukov đã chỉ ra chính xác khuyết điểm về số lượng pháo binh không đủ của Đức, đồng thời trình bày quan điểm của riêng mình về chiến tranh: Quân Đức trong quá trình tấn công, họ không ngừng tiến công, di chuyển nhanh chóng, do đó ưa chuộng các loại pháo nòng nhỏ, cơ động. Vì vậy, họ không quen với lối tác chiến phòng ngự. Trong phòng ngự, họ thiếu hụt pháo yểm trợ, có thể sụp đổ nhanh hơn các đối thủ khác.
Đây không chỉ là quan điểm riêng của ông, mà còn là nhận định của nhiều tướng lĩnh Liên Xô. Vì vậy, quan điểm của giới lãnh đạo cấp cao Liên Xô là: "Thay vì chờ Đức tấn công, chúng ta nên tập trung lực lượng đánh phủ đầu. Như vậy, Đức sẽ buộc phải phòng thủ, và chúng ta sẽ có lợi thế."
Nói tới đây, cần phải sơ lược giới thiệu những điểm khác biệt chi tiết giữa quân đội Liên Xô và quân đội các quốc gia khác.
Liên Xô có thói quen niêm phong vũ khí bị loại bỏ, niêm phong và bảo quản các trang bị vũ khí không còn cần thiết, với sự bảo dưỡng của các chuyên gia. Những vũ khí này, dù ở một mức độ nào đó đã lỗi thời, nhưng vẫn hoàn toàn có thể sử dụng được.
Trong thời bình, mỗi sư đoàn chủ lực của quân đội Liên Xô đều có một sư đoàn trưởng và hai phó sư đoàn trưởng. Tương tự, mỗi trung đoàn có hai phó trung đoàn trưởng, mỗi tiểu đoàn có hai tiểu đoàn phó, mỗi đại đội có hai đại đội phó, và mỗi trung đội có hai trung đội phó...
Một khi Liên Xô bước vào trạng thái chiến tranh, khi sư đoàn chủ lực này phụng mệnh ra tiền tuyến, họ sẽ chỉ để lại một phó sư đoàn trưởng, hai hoặc ba phó trung đoàn trưởng, bốn hoặc sáu tiểu đoàn phó, hàng chục đại đội phó, và hàng trăm phó ban trung đội trưởng. Giờ thì mọi người đã hiểu, đây gần như là một sư đoàn khung xương.
Dĩ nhiên, xét về sức chiến đấu, cái "sư đoàn bóng ma" bị bỏ lại này dĩ nhiên không thể sánh bằng sư đoàn chủ lực đã rời đi. Tuy nhiên, sau khi bổ sung binh lực, đây đích xác là một sư đoàn mới, một đơn vị có thể tác chiến.
Sư đoàn mới này được hình thành từ quân dự bị và binh lính giải ngũ, được trang bị các loại vũ khí cũ, lỗi thời. Tuy nhiên, những trang bị cũ này lại chính là những loại vũ khí mà quân dự bị và binh lính giải ngũ từng sử dụng, nên rất quen thuộc. Vì thế, những quân nhân từng hoạt động cách đây 5, thậm chí 10 năm, có thể ngay lập tức hình thành sức chiến đấu và nhanh chóng được đưa vào chiến đấu ở tiền tuyến.
Đây chính là lý do vì sao trong một dòng thời gian khác, khi Đức "trẻ trâu" tiêu diệt gọn ba triệu quân Liên Xô, mặt trận Liên Xô vẫn có thể duy trì hơn ba triệu quân. Đây cũng chính là "bí mật" khiến quân đội Liên Xô trông có vẻ như vô tận.
Cũng như ở d��ng thời gian khác, các điệp viên Đức đã không nhìn ra được bí mật nhỏ bé nhưng đơn giản này. Họ đã thật thà báo cáo lên Bộ Tổng chỉ huy tối cao Đức về những thông tin tình báo mà họ nỗ lực thu thập: Tình báo cho thấy Liên Xô có khoảng 370 sư đoàn, tổng binh lực ước tính từ năm đến sáu triệu người. Nhưng về thực lực thật sự của Liên Xô, Accardo lại hiểu rất rõ trong lòng. Lực lượng tác chiến thực sự của Liên Xô lên đến khoảng mười triệu người – điều kiện tiên quyết là họ có đủ vũ khí và trang bị để vũ trang cho ngần ấy binh lính.
So với Hitler, Accardo và các tướng lĩnh Đức hiện tại có một lợi thế vô hình. Lợi thế này chính là việc tiếp liệu từ Anh và Mỹ sẽ không dồi dào như vào năm 1942 ở dòng thời gian khác. Nước Anh giờ đây đã tự lo thân mình không xuể, cũng không còn nhiều vật liệu để cung cấp cho Hồng quân Liên Xô. Vì vậy, liệu Liên Xô có nhận được viện trợ từ Mỹ hay không, và nhận được bao nhiêu, giờ đây rất khó nói – nhưng Accardo biết rằng, chắc chắn sẽ không nhiều hơn.
Bản quyền của văn bản đã được biên tập này thuộc về truyen.free.