(Đã dịch) Ta Đích Ý Ngốc Lợi (Ngã Đích Ý Ngốc Lợi) - Chương 470: Boer chiến tranh kết thúc
Việc sáp nhập khu thành tỉnh đang diễn ra sôi nổi trên cả nước, điều này tất nhiên là một điều tốt cho sự phát triển của Ý.
Tất nhiên, ngoài Ý ra, tình hình thế giới vẫn đang không ngừng thay đổi.
Trong đó, tại Viễn Đông, Nga đã cam kết sẵn lòng rút quân khỏi vùng Đông Bắc. Thế nhưng, người Anh, vốn đã nhìn thấu bản chất thất hứa của Nga, chẳng tin lấy một lời. Vì vậy, họ lập tức tìm kiếm một đồng minh và Hiệp ước đồng minh Anh – Nhật cũng chính thức được ký kết. Hiệp ước này, chỉ cần nhìn qua, rõ ràng là nhằm vào Nga. Bởi lẽ, hiệp ước quy định rằng, khi lợi ích của một trong hai bên tại Trung Quốc và Triều Tiên bị các nước khác xâm lược hoặc bị thiệt hại do tình hình nội bộ hỗn loạn, thì bất kỳ bên nào cũng có thể áp dụng các biện pháp cần thiết. Nếu một bên ký kết gây chiến với một quốc gia khác, thì bên còn lại phải giữ thái độ trung lập nghiêm ngặt. Điều này đã nói lên rất nhiều.
Tất nhiên, đối với Nhật Bản, việc kết minh với cường quốc số một thế giới là một thắng lợi ngoại giao trọng đại, đáng để ăn mừng.
Họ vốn đã bất mãn từ lâu trước việc Nga chiếm đóng Đông Bắc và dòm ngó Triều Tiên. Giờ đây, có thể nhận được sự ủng hộ toàn lực từ Đế quốc Anh, họ còn gì phải sợ nữa? Vậy thì cứ chuẩn bị chiến tranh với Nga thôi!
Người Nhật Bản giờ đây vui mừng khôn xiết khi được trở thành công cụ của Đế quốc Anh. Về phía Anh, họ cũng hài lòng vì đã tìm được một đồng minh để kiềm chế sự bành trướng của Nga ở Viễn Đông. Tóm lại, đây là một nước đi lợi cả đôi đường cho cả hai quốc gia.
Tại Viễn Đông, Đế quốc Anh có thể tìm một đồng minh để đối phó với Nga, nhưng trong một cuộc chiến tranh khác, Đế quốc Anh đành phải tự mình gánh vác.
Tại thuộc địa Nam Phi, cuộc chiến Anh-Boer vẫn tiếp diễn. Đối mặt với những đội du kích Boer thoắt ẩn thoắt hiện, Đế quốc Anh hùng mạnh cũng phải chịu nhiều tổn thất nặng nề. Sức mạnh của chiến tranh du kích hiện đại đã khiến ngay cả Đế quốc Anh, cường quốc số một thế giới, cũng khó lòng chống đỡ, hơn nữa các nước châu Âu cũng ngày càng công kích và chỉ trích Anh gay gắt hơn.
Về phía các đội du kích Boer, do không nhận được tiếp tế, binh lính dân quân thiếu dinh dưỡng, quần áo rách rưới, tinh thần sa sút. Vật tư của họ đã cạn kiệt, chỉ có thể sống dựa vào chiến lợi phẩm.
Vì vậy, vào năm 1902, hai phe cuối cùng đã chịu ngồi lại để đàm phán.
Tháng 6 năm 1902, đại diện cho hai nước Cộng hòa Boer, ba mươi hai đội dân quân địa phương và 165 đội du kích Boer đã họp tại Vereeniging để thảo luận về kế hoạch chấm dứt chiến sự.
Ngày 24 tháng 6, đại diện của Anh, Huân tước Milner, đã đến Vereeniging và có cuộc gặp gỡ với tướng Smuts, đại diện của người Boer.
Trong cuộc gặp gỡ, Milner đã đề xuất mười hai điều khoản. Nội dung cụ thể như sau:
1. Các lực lượng dã chiến Boer và dân quân vũ trang phải hạ vũ khí, nộp hoặc giao quyền kiểm soát toàn bộ súng đạn, pháo và vật liệu chiến tranh, chấm dứt mọi ý định tiếp tục kháng cự chính phủ của Quốc vương Edward VII, và thừa nhận Quốc vương là chủ quyền hợp pháp. 2. Các tù binh Boer tuyên thệ trung thành với Vương quốc Anh sẽ được phóng thích ngay lập tức. 3. Đảm bảo người Boer được tự do thân thể và tài sản không bị xâm phạm. 4. Ngoại trừ một số hành vi vi phạm thông lệ chiến tranh, sẽ thực hiện ân xá rộng rãi. 5. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức, nhưng tiếng Hà Lan Nam Phi vẫn có thể được sử dụng trong trường học và tòa án. 6. Người Boer được phép cất giữ súng để tự vệ, nhưng cần có giấy phép. 7. Nhanh chóng thay thế chế độ quản lý quân sự tại Transvaal và Oranje bằng chính quyền dân sự. 8. Khi điều kiện cho phép, sẽ thành lập chế độ nghị viện tự trị tại Nam Phi. 9. Bất kỳ khoản thuế nào để thanh toán chi phí chiến tranh sẽ không được áp đặt lên hai khu vực mới được chinh phục. 10. Anh sẽ hỗ trợ người Boer xây dựng lại nông trại. 11. Bồi thường ba triệu bảng Anh cho các chủ nông trại và công dân Boer bị thiệt hại. 12. Tước quyền công dân của các chỉ huy quân đội Boer chủ chốt, nhưng không xử tử họ.
Đối mặt với các điều kiện của Anh, ngày 30 tháng 6, 60 đại biểu Boer đã tổ chức bỏ phiếu về việc chấp nhận hòa ước, đặc biệt là điều khoản quan trọng nhất – điều khoản đầu tiên. Với kết quả 54 phiếu thuận và 6 phiếu chống, họ đã quyết định chấp nhận. Ngày 31 tháng 6, hai bên Anh và Boer đã chính thức ký kết hiệp ước tại Vereeniging.
Cuộc chiến tranh Anh-Boer kéo dài ba mươi hai tháng đã chính thức kết thúc.
Cuộc chiến tranh Boer đã khiến Đế quốc Anh mất hết thể diện, giờ đây cuối cùng đã khép lại.
Trong cuộc chiến tranh này, Anh tổng cộng tiêu tốn 240 triệu bảng Anh, tương đương với tổng thu nhập tài chính của Đế quốc Anh trong hơn hai năm, đủ để xây dựng một trăm chiếc thiết giáp hạm lớp Elizabeth mạnh nhất.
Ngoài ra, vì hai nước Cộng hòa Boer này, Anh đã huy động tổng cộng 450.000 quân đội. Trong số đó có 256.000 quân chính quy Anh, 109.000 quân tình nguyện Anh, 53.000 quân thuộc địa Anh ở Nam Phi, và 31.000 quân đến từ Canada, Úc cùng New Zealand. Tổng cộng 380.000 quân đội đã được Anh vận chuyển bằng đường biển đến Nam Phi. Ngoài ra, họ còn vận chuyển 350.000 con ngựa, 100.000 con la, và 1.340.000 tấn trang thiết bị quân sự cùng vật tư khác, sử dụng tổng cộng 1.027 tàu thuyền. Tổng cộng 33.600 sĩ quan và binh lính từ các lực lượng của Anh, Úc, New Zealand và Canada đã hy sinh trong chiến tranh; số người bị thương còn nhiều hơn thế.
Sau Chiến tranh Anh-Boer, Anh đã sáp nhập các thuộc địa ở miền nam châu Phi thành một dải liên tục, kiểm soát hành lang quan trọng dẫn tới các khu vực hồ lớn ở Trung Phi. Mũi Hảo Vọng, với hậu phương là toàn bộ lãnh thổ Nam Phi rộng lớn, đã trở thành một trong những căn cứ tiền tiêu quan trọng nhất của Đế quốc Anh hải ngoại.
Về mặt kinh tế, sau khi Anh nắm giữ mỏ vàng Rand lớn nhất thế giới, Anh đã kiểm soát được mạch máu kinh tế toàn cầu. Vàng từ Nam Phi đã nhanh chóng biến Luân Đôn thành trung tâm tài chính và giao dịch vàng của thế giới.
Tuy nhiên, lần thứ hai Chiến tranh Anh-Boer cũng đánh dấu sự kết thúc của kỷ nguyên bành trướng hải ngoại của Anh. Các chính trị gia Anh nhận ra rằng, do chi phí chiến tranh hiện đại hóa quá đắt đỏ, và việc cùng lúc bảo vệ các lãnh địa hải ngoại của Đế quốc Anh và bản thổ Anh, xét về mặt kinh tế lẫn chiến lược, đều là điều không khả thi.
Vì thế, Anh không thể tiếp tục duy trì chính sách cô lập. Sau khi Chiến tranh Boer kết thúc, Anh lập tức bắt đầu co rút chiến lược trên phạm vi toàn cầu, trao trả một phần phạm vi ảnh hưởng hải ngoại cho các lãnh thổ tự trị của người da trắng như Canada, Úc, New Zealand, và trọng tâm chiến lược của bản thân Anh quay trở lại châu Âu.
Tuy nhiên, vào thời điểm này, cuộc chiến tranh giữa Đế quốc Anh và người Boer đã trở thành một bài học lớn cho các nước châu Âu. Trong cuộc chiến này, nhiều lý thuyết tác chiến cận đại quan trọng đã bắt đầu hé lộ, hoặc lần đầu tiên phát huy tác dụng quan trọng của chúng.
Trong Chiến tranh Boer, Bộ Tổng Tham mưu Đức đã phái các cố vấn quân sự đến Transvaal và Oranje, trong khi Thụy Sĩ, Hà Lan và Pháp cũng cử các quan sát viên quân sự đến Nam Phi.
Đối với việc quân Anh sử dụng đường sắt để di chuyển quân đoàn quy mô lớn một cách nhanh chóng, cũng như việc triển khai các đại binh đoàn với ưu thế áp đảo trong tác chiến chính diện, Bộ Tổng Tham mưu Đức càng thêm tin tưởng vào học thuyết "Chiến tranh Tổng lực". Còn Thụy Sĩ, dựa trên tư tưởng quân sự "Toàn dân giai binh" (mọi người dân đều là lính) của người Boer, đã xây dựng hệ thống quốc phòng mang phong cách riêng của mình.
Về mặt lý luận tác chiến, Chiến tranh Boer một lần nữa khẳng định lý thuyết "Chiến tranh toàn dân": Mỗi người dân đủ điều kiện phục vụ đều là những chiến binh tiềm năng; bình thường họ làm nông hoặc kinh doanh ở các thị trấn để kiếm sống, và trong một khoảng thời gian nhất định mỗi năm, họ sẽ trải qua huấn luyện quân sự ngắn hạn. Khi chiến tranh bùng nổ, họ sẽ nhanh chóng tập trung theo khu vực để đăng ký và thành lập các đội dân quân tham chiến. Đối với các quốc gia nhỏ có dân số và tài nguyên tương đối eo hẹp, vì quân đội thường trực không tham gia sản xuất và chi phí quân sự rất cao, nên không thể thường xuyên duy trì một đội quân chính quy có quy mô nhất định. Do đó, việc lựa chọn chính sách toàn dân động viên, kết hợp thời bình và thời chiến, kết hợp quân đội và dân thường, có thể giải quyết được một số khó khăn nhất định.
Còn Lục quân Ý, cũng có cách diễn giải riêng của mình về Chiến tranh Boer, chẳng hạn như sửa đổi hệ thống động viên của Ý, nỗ lực để Ý có thể huy động được nhiều binh lực hơn khi chiến tranh xảy ra.
Tác phẩm này được đăng tải tại truyen.free, hy vọng mang lại trải nghiệm đọc tốt nhất cho độc giả.