(Đã dịch) Ta Đích Ý Ngốc Lợi (Ngã Đích Ý Ngốc Lợi) - Chương 698: Hai mươi năm ngưng chiến
Sau khi Pháp đầu hàng, Đức và Ý có thể rút bớt quân để tập trung vào các mặt trận khác. Trong đó, Đức chủ yếu điều quân chi viện cho mặt trận phía Đông. Còn Ý cũng tương tự, chủ yếu điều quân hướng về phía Ấn Độ Dương.
Tuy nhiên, ngoài việc đó ra, Đức và Ý còn đàm phán với Tây Ban Nha, yêu cầu nước này mở cửa biên giới để quân đội Đức-Ý có thể tấn công Gibraltar.
Tất nhiên, Đức và Ý vì vậy đã dùng một chút tiểu xảo. Họ khiến Tây Ban Nha tin rằng nếu không đồng ý, Đức và Ý sẽ tấn công nước này. Ngược lại, nếu chấp thuận, Gibraltar sẽ được trả lại cho Tây Ban Nha sau chiến tranh.
Sau một hồi do dự, Tây Ban Nha đã chấp thuận yêu cầu cho phép quân Đức-Ý quá cảnh. Sau đó, hơn tám vạn liên quân Đức-Ý tiến vào Tây Ban Nha, thẳng tiến đến Algeciras, ngoại ô Gibraltar. Lúc này, tuy quân số liên quân Đức-Ý không quá đông, nhưng họ lại mang theo một số lượng lớn pháo. Ngay cả ba khẩu pháo Berta cỡ lớn của Đức cũng được điều đến. Điều này cho thấy Đức và Ý rất coi trọng Gibraltar.
Gibraltar là yết hầu nối Địa Trung Hải với Đại Tây Dương. Chỉ khi chiếm được nơi đây, hạm đội liên hợp mới có thể tiến vào Đại Tây Dương để phong tỏa tàu thuyền của Anh.
Chẳng mấy chốc, ba tháng sau khi Pháp đầu hàng, chiến dịch Gibraltar bùng nổ. Trong vòng một tháng giao tranh, ba khẩu pháo Beta cỡ lớn của Đức đã phát huy vai trò cực kỳ quan trọng, san phẳng từng pháo đài trong cứ điểm Gibraltar. Chính nhờ vậy mà quân đội Đức-Ý chỉ mất 23 ngàn người đã chiếm được Gibraltar.
Trong khi Gibraltar bị chiếm đóng, Đức và Áo cũng phát động chiến dịch Warsaw. Sáu trăm ba mươi ngàn quân Đức-Áo đã cùng sáu trăm bảy mươi ngàn quân Nga giao chiến ác liệt quanh Warsaw.
Sau hơn ba tháng giao tranh, cuối cùng Đức-Áo đã giành chiến thắng. Nga đã mất ba trăm chín mươi ngàn người và buộc phải rút khỏi Warsaw.
Trận chiến này cũng khiến Nga phải chịu áp lực lớn. Trước đây, Nga thường tấn công còn Đức-Áo phòng thủ, nhưng giờ đây tình thế đã đảo ngược: Đức-Áo tấn công, Nga phòng thủ.
Tuy nhiên, binh lính Đức đã quen với chiến trường phía Tây lại có phần không thích nghi với mật độ hỏa lực ở mặt trận phía Đông. Chủ yếu là vì mật độ hỏa lực ở đó quá thấp, khiến quân Đức, vốn đã quen với những trận mưa đạn ở phía Tây, cảm thấy thực sự khó thích nghi.
Sau khi chiếm được Gibraltar và mở thông lối đi ra Đại Tây Dương, vào tháng 7 năm 1915, hạm đội liên hợp đã tiến vào Đại Tây Dương và pháo kích Plymouth, phía đông eo biển Anh.
Mặc dù đợt pháo kích này không quá lớn, nhưng nó đã khiến giới cầm quyền Anh kinh hoàng, bởi điều này cho thấy hạm đội liên hợp Ý-Áo có thể phối hợp với Hạm đội Biển khơi của Đức để kẹp đánh đất liền nước Anh. Điều này đẩy Hạm đội Bản thổ của Anh vào một tình thế khó xử.
Vì vậy, Anh đã kêu gọi điều các hạm đội Đồng minh đang đ��n trú ở Ấn Độ về chính quốc, nhưng Nhật Bản đã từ chối. Đối với Nhật Bản, việc cướp được các thuộc địa của Đức và Ý ở Đông Nam Á đã gây ra một làn sóng hân hoan trong nước. Thế nhưng, sau khi Pháp đầu hàng, Nhật Bản bắt đầu nghi ngờ về tính hợp lý của việc gia nhập phe Đồng minh.
Trong tình thế này, Nhật Bản càng không muốn điều chiến hạm của mình đến chính quốc Anh. Hơn nữa, khi thấy Anh đã cướp đoạt chiến hạm của Pháp trong hạm đội của họ, Nhật Bản càng thêm cảnh giác. Thậm chí các thủy thủ đoàn Nhật Bản đã lần lượt rời tàu, như thể sợ rằng chiến hạm của mình cũng sẽ bị cướp đoạt.
Tương tự, tại Bắc Mỹ, Hoa Kỳ, sau khi Pháp đầu hàng, gặp phải lực cản lớn hơn trong việc quyết định có nên tham gia cuộc chiến này hay không.
Việc Anh lôi kéo Mỹ giờ đây càng trở nên vô vọng. Ngay cả trái phiếu Anh-Nga tại Sở giao dịch Chứng khoán New York cũng không thể bán được. Trong khi đó, việc mua hàng cho Anh-Nga lại yêu cầu thanh toán trước. Tất cả những điều này đều là hệ quả từ sự đầu hàng của Pháp và tình hình chiến trường bất lợi của phe Đồng minh.
Do đó, Nga đã tìm đến Anh đề xuất một cách quyết liệt việc chấm dứt chiến tranh. Điều này càng khiến giới chức Luân Đôn cảm thấy cơ hội chiến thắng mong manh.
Bởi lẽ, Anh cũng đang gánh một khoản nợ khổng lồ. Từ chỗ Mỹ nợ mình bốn trăm triệu bảng Anh, nay đã thành nước Anh nợ Mỹ chín trăm triệu bảng Anh. Hơn nữa, trong cuộc chiến này, chi tiêu quân sự hàng năm của Anh đã lên tới hơn hai tỷ bảng Anh. Chỉ trong nửa đầu năm nay, nước Anh đã chi 1,47 tỷ bảng Anh. Điều này đã khiến tài sản của Anh bị chiến tranh tiêu hao một lượng lớn, đồng thời gây ra làn sóng oán thán dữ dội trong dân chúng Anh.
Vì vậy, các chính trị gia tại Luân Đôn cũng không khỏi lo lắng, nhưng lúc này, nỗi lo lắng ấy vẫn chỉ dừng lại ở mức lo lắng, bởi đất liền Anh vẫn chưa bị tấn công, và nước Anh vẫn có thể cầm cự được. Bởi các thuộc địa rộng lớn vẫn có thể cung cấp đủ loại vật liệu và binh lính cho Anh.
Thế nhưng, với hạm đội Ý-Áo có thể tiến vào Đại Tây Dương bất cứ lúc nào, và việc thiếu hụt đủ chiến hạm, Hải quân Anh lúc này đã ở vào thế tiến thoái lưỡng nan. Vì vậy, Hải quân Anh buộc phải lập ra một kế hoạch, dự tính sẽ có một trận quyết chiến với Hạm đội Biển khơi tại Biển Bắc. Nếu thắng thì không nói làm gì, nhưng nếu thua, Đế quốc Anh sẽ thực sự không còn hy vọng lật ngược thế cờ.
Do đó, Anh đã chuẩn bị kỹ lưỡng, lợi dụng tàu tuần dương chiến đấu pháo kích Schleswig vào sáng sớm. Mặc dù vụ pháo kích này không gây nhiều thương vong, nhưng nó đã chọc giận người Đức. Đức đã phái tàu tuần dương chiến đấu truy kích, trong khi các chiến hạm khác của Hạm đội Biển khơi tiến hành áp sát.
Đối với Hạm đội Biển khơi đã trúng kế, phần còn lại của Hạm đội Bản thổ đã bố trí tại phía nam Biển Bắc nhằm cố gắng bao vây tiêu diệt đội tàu tuần dương chiến đấu của Đức. Tuy nhiên, Thượng tướng Speer, chỉ huy đội tàu tuần dương chiến đấu, đã cực kỳ cảnh giác, thoát khỏi vòng vây của Hạm đội Bản thổ, đồng thời báo cho Chỉ huy Hạm đội Biển khơi, Scheer, tin tức kẻ địch đã tổng động viên.
Trước tin tức Hạm đội Bản thổ của Anh xuất hiện ở phía nam Biển Bắc, Scheer lập tức nhận thấy đây là một cơ hội. Trước đó, trong trận hải chiến Dogger Bank, ông đã trải nghiệm hiệu suất của chiến hạm Anh. Hiện tại, ông có trong tay ba chiếc thiết giáp hạm Bavaria với pháo chính 380 ly, nhất định không thể bỏ qua cơ hội này.
Vì vậy, một trận hải chiến quyết định thắng bại đã bùng nổ ở khu vực trung tâm Biển Bắc.
Lần này, Anh đã phái toàn bộ Hạm đội Bản thổ gồm tổng cộng 167 chiến hạm các loại, trong đó có 23 thiết giáp hạm và 7 tuần dương chiến đấu. Hạm đội Biển khơi của Đức cũng tương tự, đã điều động 110 chiến hạm các loại, bao gồm 18 thiết giáp hạm và 6 tuần dương chiến đấu, để tham gia vào cuộc chiến sinh tử ở Biển Bắc.
Trận hải chiến này diễn ra từ 3 giờ chiều ngày 17 tháng 8 và kéo dài đến hơn 8 giờ tối cùng ngày. Trong hơn 5 giờ giao tranh trên biển, Đức đã phải trả giá đắt với 7 thiết giáp hạm, 3 tuần dương chiến đấu và 39 chiến hạm khác bị đánh chìm, nhưng đã đánh chìm 11 thiết giáp hạm, 4 tuần dương chiến đấu và 58 chiến hạm khác của Hạm đội Bản thổ Anh, giành chiến thắng trong trận hải chiến này.
Thất bại trong trận hải chiến này đã khiến các quốc gia khác càng thêm coi thường khối Đồng minh Anh-Nga-Nhật. Nước Anh, vốn hùng mạnh như mặt trời ban trưa trước chiến tranh, giờ rơi vào tình cảnh này, khiến người Anh không khỏi rơi lệ khi nghĩ đến.
Sau thất bại trong trận hải chiến này, toàn thể nước Anh càng thêm thất vọng về cuộc chiến. Mặc dù thất bại đã gây ra nhiều vấn đề, nhưng nếu tiếp tục chiến đấu, vấn đề sẽ còn nghiêm trọng hơn. Giữa hai cái hại, đành phải chọn cái nhẹ hơn. Vì vậy, ngay cả những nhân vật bảo thủ như Churchill cũng đã ngấm ngầm thừa nhận với bạn bè rằng việc giành chiến thắng trong cuộc chiến này giờ đây là quá khó.
Do đó, sau khi Anh cùng Nga và Nhật thương lượng, vào ngày 9 tháng 12 năm 1915, đã gửi đề nghị hòa đàm đến phe Liên minh gồm Đức, Ý, Áo và các nước khác. Đây là một sự sỉ nhục đối với vị thế bá chủ hơn hai trăm năm của Anh, nhưng trước tình cảnh như vậy, nếu Mỹ không sẵn lòng tham gia phe Đồng minh, thì sẽ không có bất kỳ giải pháp nào khác.
Trước lời đề nghị hòa đàm từ phe Đồng minh do Anh-Nga dẫn đầu, phía Liên minh tất nhiên là hết sức sẵn lòng.
Lúc này, phe Liên minh cũng không khá hơn là bao. Hơn hai năm chiến tranh đã đẩy các nước vào tình trạng đói kém. Sức chịu đựng của người dân đã gần đến giới hạn. Ngay cả Ý cũng tương tự, trong năm nay đã phải đối mặt với vấn đề thiếu lương thực.
Chẳng còn cách nào khác, mặc dù trước đây Ý tích trữ khá nhiều lương thực, nhưng khi các đồng minh cũng lâm vào cảnh thiếu lương thực, làm sao có thể không chi viện, cho dù là để đổi lấy thứ gì đó đi chăng nữa, cũng không thể chối từ? Thế nên, họ phải liên tục xoay xở, trao đổi lương thực, nếu không thì kho dự trữ đã sớm cạn kiệt, làm sao có thể cầm cự đến tận bây giờ?
Nếu tất cả các bên đều có ý định hòa đàm, vậy thì hãy ngồi lại đàm phán một cách từ tốn. Trước hòa đàm, việc giải trừ trạng thái giao tranh giữa hai phe đã trở thành điều kiện tiên quyết của khối Liên minh.
Phe Đồng minh do Anh dẫn đầu tất nhiên hiểu rõ lý do này, và để đảm bảo hòa đàm có thể diễn ra, họ đành phải chấp thuận. Sau đó, một lượng lớn đơn đặt hàng từ các nước trong phe Liên minh đã được gửi đi khắp thế giới. Lương thực, thịt, nguyên liệu và các vật tư khác đã được tàu thuyền của phe Liên minh khẩn trương chở về.
Về địa điểm hòa đàm, phía Liên minh đã chọn Munich. Địa điểm đàm phán với Pháp trước đây cũng ở Munich, giờ lại đàm phán ở Munich, quả là một nơi tốt mà các nước Liên minh đều yêu thích.
Sau đó, phe Liên minh và phe Đồng minh đã bắt đầu cuộc đàm phán lịch sử. Về điều kiện yêu cầu phe Đồng minh giải trừ vũ trang, phe Liên minh đã không hề nhắc đến, bởi đây không phải là cuộc chiến mà hai nước chiến bại, mà là cả hai bên đều không thể tiếp tục chiến đấu được nữa.
Vì vậy, sau nhiều tháng đàm phán, hai phe đã miễn cưỡng đạt được một hiệp định mà các bên đều công nhận.
Đầu tiên, phe Đồng minh phải rút khỏi các vùng lãnh thổ thuộc địa của phe Liên minh, và không được phá hoại các cơ sở vật chất ở đó. Nếu có bất kỳ sự phá hoại nào, nhất định phải bồi thường.
Về điểm này, phe Đồng minh, dù thua cuộc, cũng đồng ý, bởi đó là quy tắc từ trước đến nay. Sau khi giải quyết vấn đề này, tiếp theo mới là các điều khoản cần được thảo luận.
Về phía Anh, nước này phải rút toàn bộ công trình quân sự và nhân viên khỏi Ai Cập. Vương quốc Ai Cập sẽ trả tiền mua lại các cơ sở này với giá trị thực tế. Điều này thực chất là để Ai Cập giành độc lập, khiến Đế quốc Ottoman không mấy vui vẻ. Tuy nhiên, dưới sự khuyên can của Đức, Ý, Áo cũng như Anh và Nga, người Ottoman đã phải chấp nhận thực tế.
Riêng Kênh đào Suez và Bán đảo Sinai, những khu vực quan trọng nhất của Ai Cập, sẽ trở thành khu vực quản lý quốc tế, do Đức, Ý, Áo và Ottoman cùng nhau quản lý. Trong đó, Ý sẽ chịu trách nhiệm bảo vệ. Đây cũng là sự thừa nhận quyền lực của Ý tại Địa Trung Hải. Ngoài ra, các hòn đảo và công trình quân sự của Anh tại Địa Trung Hải sẽ hoàn toàn do Đức, Ý, Áo và Ottoman tiếp quản.
Đây chính là những điều kiện nhằm vào Anh, bởi vì thực lực của nước Anh vẫn còn tồn tại, vì thế chỉ có thể chiếm đoạt lãnh thổ, thậm chí không có tiền bồi thường, mà chỉ có khoản 100 triệu bảng Anh dưới danh nghĩa chi phí ăn ở cho tù binh (thanh toán trong mười năm).
Về phía Nga, nước này phải giao Ba Lan, Tây Ukraine, Đông Moldova và Gruzia cho Đức, Áo-Hung, Romania và Ottoman tương ứng. Về tiền bồi thường, năm trăm triệu rúp là giới hạn mà Nga có thể chấp nhận (thanh toán trong mười năm). Người Nga đã chịu tổn thất đặc biệt lớn.
Về phía Nhật Bản, nước này phải rút khỏi các thuộc địa của Đức và Ý, đồng thời thanh toán hai trăm triệu Yên tiền bồi thường (thanh toán trong mười năm). Ngoài ra, theo yêu cầu của Carlo, Nhật Bản cũng phải rút khỏi Đài Loan bị chiếm đóng.
Có thể nói, phe Đồng minh không chịu tổn thất quá lớn, thực lực vẫn còn nguyên. Còn phe Liên minh thì xem như đã đủ, không có ý định chiến đấu đến cùng nữa.
Tất nhiên, ngoại trừ Pháp, nước Pháp không chỉ phải cắt nhượng Savoy, Nice, đảo Corse và Tunisia cho Ý, mà còn phải bồi thường mười hai tỷ franc cho phe Liên minh (thanh toán trong mười năm). Khoản tiền này chủ yếu được thanh toán cho Đức, để đổi lấy sự ủng hộ của Đức đối với yêu sách lãnh thổ của Ý. Tất nhiên, khi Đức giành được Ba Lan, Ý cũng phải ủng hộ Đức.
Ngoài ra, còn có một loạt các điều khoản về trao đổi tù binh, tình báo, giám sát, v.v. Mặc dù những điều kiện này có vẻ tầm thường, nhưng chúng lại vô cùng quan trọng đối với các quốc gia.
Khi Carlo nhìn thấy các điều khoản hòa đàm này, ông chỉ nói một câu: "Đây là điều khoản ngừng chiến nhiều nhất là hai mươi năm."
Tiếp theo, ông cần phải cân nhắc xem Ý nên làm gì trong cuộc chiến tranh kế tiếp.
Lời cảm nhận của tôi
Cuốn "Ý Ngốc Lợi" này tôi đã viết ba năm, kết quả chỉ gần được một triệu bảy trăm ngàn chữ, trung bình mỗi năm chỉ hơn 50 vạn chữ, điều này là do tôi lười biếng. Việc kết thúc theo kiểu dàn ý cũng là do tôi, thực sự tôi không thể viết tiếp được nữa.
Mặc dù tôi biết phải viết gì tiếp theo, nhưng nhiệt huyết đã bị sự lười biếng tiêu hao hết. Tôi không phải một tác giả giỏi, tôi là một tác giả yêu thích sự lười biếng.
Cảm ơn những độc giả đã luôn đồng hành trong mấy năm qua. Với kiểu làm việc "ba ngày đánh cá, hai ngày phơi lưới" của tôi mà các bạn vẫn chịu đựng được, tôi chỉ có thể nói rằng các bạn là những độc giả bao dung nhất trên Khởi Điểm.
Tiếp theo, tôi xin nói một chút về sách mới, một cuốn sách mới không thể đăng trên Khởi Điểm. Tôi sẽ đăng một vài chương mới của sách này, ai thích thì có thể đọc thử, không thích thì cứ bỏ qua.
Nói thêm một câu, sách mới này tôi đã thai nghén trong một năm. Tên cũng đã nghĩ xong, gọi là "Nhà Cách Mạng Châu Phi" (tôi đã phân vân rất lâu giữa hai từ "cách mạng" và "diễn thuyết").
Đây là một câu chuyện về một thanh niên Trung Quốc đầy hoài bão làm cách mạng ở châu Phi vào thế kỷ 21. Chư vị không nghe lầm đâu, đây chính là một tác phẩm cách mạng hiện đại, hy vọng mọi người sẽ thích.
Tài liệu này, dưới dạng bản chuyển ngữ, được bảo hộ quyền sở hữu bởi truyen.free.