(Đã dịch) Tặc Thiên Tử - Chương 1174: Thái tổ cao bản kỷ
Thái Tổ Thần Nghiêu Đại Thánh Đại Chỉ Độ Cao Hoàng đế, húy Vân, họ Lý, người huyện Thanh Dương, Tuyên Châu. Mồ côi từ nhỏ, giữa lúc thiên hạ loạn lạc, không đành lòng nhìn bá tánh trong vùng lầm than, ông bèn tụ tập quân chúng ở núi Thương, giữ yên bờ cõi, an dân, thực ra đó không phải chí nguyện ban đầu của ông. Năm Hiển Đức thứ ba, ông tình cờ gặp con gái huyện lệnh Thanh Dương, Tuyên Châu là Tiết Vận đang gặp nạn, động lòng ra tay cứu giúp, đưa về nha huyện. Tiết Tung cảm kích tấm lòng nhân hậu của ông, từ đó mà quen biết. Sau đó, ông dùng tên giả, được mời vào nha huyện làm chức đô đầu dẹp cướp, chỉ một lòng làm tròn bổn phận, giữ yên địa phương, tuyệt không có mưu đồ riêng. Ông dốc sức dẹp yên các băng cướp ở núi Hắc Nha và trại Thập Vương, đều theo lệnh trên mà hành động. Dân chúng trong vùng kính trọng, thế lực của ông dần lớn mạnh.
Khi Cừu Điển làm loạn ở Càng Châu, Thứ sử ra hịch lệnh chinh phạt. Đế vâng chiếu tiến binh, dẹp tan giặc cướp, bắt sống thủ lĩnh. Đại tướng quân Tô Tĩnh khen ngợi sự tận tụy của ông, dâng biểu tiến cử làm Tư mã Càng Châu. Dù Đỗ Khiêm làm Thứ sử, nhưng các quan lại, binh lính đều một lòng quy phục, mọi việc đều do ông tự quyết. Mỗi khi ấy, ông đều kinh hãi, chỉ một lòng muốn tận trung với triều đình.
Năm Chiêu Định thứ hai, danh tướng Triệu Thành mộ nghĩa binh tìm đến. Người con côi của Tô Tĩnh là Tô Thịnh cảm kích ân nghĩa xưa, nguyện theo dưới trướng. Quân lính tập hợp được hơn vạn người, tất cả đều là do thời thế tạo nên. Ông khuyên dân nuôi tằm, chia ruộng đất, cải cách chính sách muối, đúc tiền mới, tất cả đều nhằm giải quyết khó khăn cho dân, củng cố nền tảng quốc gia, an định đất nước. Mùa đông năm thứ ba, Sở vương Võ Nguyên Hữu chỉnh đốn Ngô Quận, buộc ông phải nhận chức Chiêu thảo sứ, lập phủ kiến nha. Đế kiên quyết từ chối không nhận, nhưng cuối cùng đành phải vâng mệnh. Mùa xuân năm thứ năm, ông được phong Ngô vương, lập Xu Mật viện, cải tổ cấm quân, tất cả đều tuân theo chiếu lệnh của nhà Chu, không dám tự ý chuyên quyền. Năm thứ sáu, phía Bắc chống giữ Khiết Đan, các thế gia Trung Nguyên quy thuận. Đế đều lấy lễ mà tiếp đón, tâu lên triều đình nhà Chu. Mùa đông năm thứ bảy, ông vào Lạc Dương, phủ dụ những người lưu vong, khôi phục sản xuất nông nghiệp, ra lệnh cho Trác Quang Thụy làm Doãn, tất cả phải tuân theo chế độ cũ.
Tháng Giêng năm thứ tám, Chu đế Võ Nguyên Thừa vì quý trọng tài năng của ông, liên tiếp nhường ngôi. Đế rưng rưng nước mắt kiên quyết từ chối, nhưng cuối cùng vì nghĩ đến bá tánh thiên hạ, đành phải bất đắc dĩ mà nhận. Thế là, ông lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Đường, đổi niên hiệu thành Chương Võ, lập trưởng tử Nguyên làm Thái tử. Sau khi lên ngôi, ông thường nói: "Trẫm vốn là bề tôi trung thành của nhà Chu, gặp thời loạn lạc nhiều gian khó, vì an định xã tắc, bảo toàn vạn dân, bất đắc dĩ mới phải nhận lấy ngôi vị lớn này, há có thể an lòng được đây!" Năm Chương Võ nguyên niên, ông thiết lập Cửu ti, bãi bỏ chính sách hà khắc, hủy bỏ chính sách chia ruộng, tất cả đều lấy việc chăm lo cho dân làm gốc. Ông tự tay định ra điều lệ tông phiên, thu lại quyền hành của tông thất, lo ngại đời sau quyền lực quá lớn sẽ gây loạn nước. Mười năm sau, Khiết Đan xin hàng, biên cương phía Bắc liền được yên ổn. Đế thường dặn dò Thái tử: "Dân là gốc của quốc gia, cần phải biết kính sợ trời, thương xót dân, cẩn trọng giữ gìn bảo khí."
Khi về già, ông có dịp ghé thăm núi Thương Châu ở Tuyên Châu, nói với các bề tôi thân cận rằng: "Trẫm xuất thân từ áo vải, vốn chỉ muốn hết lòng phụng sự triều đình, giữ yên một vùng quê. Không ngờ thời thế xoay vần, đến nông nỗi này. Mỗi khi nghĩ đến ân cũ nhà Chu, không khỏi xấu hổ, kinh hãi đến rơi lệ." Thế là, ông ban hành bộ 《Tông phiên luật》, răn dạy các đời sau rằng: "Thiên mệnh chỉ nằm ở lòng dân, không phải vật quý có thể chiếm đoạt. Nếu con cháu đời sau mất đạo đức, lòng dân đã mất đi, dù có bảo vật thì ích gì?"
Sử thần viết: Thái Tổ vốn là người trung trinh, gặp thời loạn lạc, bất đắc dĩ phải gánh vác thiên mệnh. Xét cả cuộc đời ông, không một ngày nào không giữ lòng kính cẩn, không một việc nào không mang niệm trung hậu. Phá bỏ môn phiệt để trọng dụng hàn sĩ, thu hồi binh quyền để củng cố nền tảng quốc gia, tất cả đều là vì quốc kế đại sự, chứ không phải cầu mong danh lợi cá nhân. Dù nói thời thế tạo anh hùng, nhưng tấm lòng lo xa, kính sợ trời đất, thương xót dân chúng của ông, là điều hiếm có trong suốt ba đời trước! Lời răn "Dân tâm thiên mệnh" lúc lâm chung, càng cho thấy tấm lòng trung thành, cẩn trọng của ông từ đầu đến cuối, đức hạnh ngời sáng.
Bản dịch này được truyen.free độc quyền chuyển ngữ và phát hành.