(Đã dịch) Thiết Thập Tự - Chương 60: Hòa bình thế giới (15)
"Nguyên thủ vạn tuế!" "Thắng lợi vạn tuế!" "Nước Đức vạn tuế!" "Khối Trục đại đoàn kết vạn tuế!"
Trong lúc Hoa Kỳ và Nhật Bản đang đàm phán về vi��c trao trả Hawaii và tiến hành các nghi thức ngoại giao, vào ngày 15 tháng 7 năm 1946, lễ duyệt binh thắng lợi chống chiến tranh Bolshevik thế giới mà Hoffman tự mình khoanh vùng là chiến thắng của châu Âu đã long trọng được tổ chức tại Berlin. Đúng một ngày trước đó, nhóm Steiner đã dự kiến trở về nước từ Hoa Kỳ, nên họ đã nhân dịp Ngày Chiến Thắng này để dâng lên thành quả của mình – những lá cờ đảng Bolshevik của Mỹ bị tập đoàn SS tịch thu từ quân đội Mỹ trong cuộc nội chiến, nghe nói có lá còn từng tung bay trên nóc Nhà Trắng.
Trong số đó có cả lá cờ đảng này, đội nghi trượng của lực lượng liên quân châu Âu đã dẫn đầu đi qua Cổng Brandenburg trước khi lễ duyệt binh bắt đầu, dâng lên từng lá cờ tại Bia Tưởng niệm Chiến Thắng. Quân đội Đức đương nhiên đã tịch thu được nhiều quân kỳ hơn thế trong chiến tranh, nhưng để tránh kích động một số quốc gia, những lá cờ được trưng bày trong buổi lễ chỉ là một phần nhỏ, chủ yếu là cờ của Liên Xô và quốc kỳ các nước. Các quốc gia khác chỉ có cờ của Mỹ Bolshevik, Ba Lan, Nam Tư, v.v. Cờ quân đội Pháp và Anh thì không được trưng bày – bởi lẽ Anh và Pháp hiện tại đều là đồng minh vững chắc của Khối Trục, việc trưng bày những lá cờ đó sẽ gây ra sự thiếu hài hòa.
Ngoài Hoffman, các nhân vật chủ chốt của 48 quốc gia thuộc Khối Trục cũng tề tựu tại Berlin, bao gồm Thủ tướng Ý Ciano, Thủ tướng Nhật Bản Kuni Kuniyoshi, Quốc vương Anh Edward VIII, Nguyên thủ Pháp Pétain, và lãnh đạo Nga (Tây Nga) Vlasov. Thậm chí Tổng thống Argentina Peron và Tổng thống Brazil Dutra cũng không quản đường xa đến tham dự lễ duyệt binh ăn mừng long trọng, cùng nhau chúc mừng chiến thắng vĩ đại của "Quốc tế chống Bolshevik".
Sau khi hiệp ước đình chiến giữa Mỹ và Đức được ký kết, hiệp ước đình chiến với Brazil cũng thuận lý thành chương mà được ký. Chính phủ thân Mỹ ở Brazil, do Hoa Kỳ hậu thuẫn, đã nhanh chóng sụp đổ sau khi mất đi sự hỗ trợ của quân đội Mỹ tại Recife. Như một điều kiện trao đổi, người đứng đầu chính phủ đó, cựu Bộ trưởng Ngoại giao Brazil Osvaldo Alanya, đã chạy trốn sang Hoa Kỳ. Chính quyền Brazil và Đức cố ý làm ra vẻ không biết, cũng lười truy cứu bất kỳ trách nhiệm nào.
Ban đầu, Tổng thống Brazil là cựu Bộ trưởng Lục quân Dutra, nhưng người thực sự nắm giữ quyền lực chính trị tối cao ở Brazil và dốc sức hợp tác với Đức lại là Montero. Montero rất thông minh, ông ta đã để Dutra đứng ra gánh vác trách nhiệm ký kết "Hiệp ước Hòa bình" với Đức, công nhận nền độc lập của Cộng hòa Đức ở châu Mỹ và phân định biên giới quốc gia với nó. Đồng thời, hiệp ước cũng công nhận sự thay đổi lãnh thổ giữa Peru, Bolivia, Colombia và Brazil. Diện tích l��nh thổ của Brazil đã bị thu hẹp từ hơn 8,5 triệu kilômét vuông trước chiến tranh xuống còn chưa đầy 7 triệu kilômét vuông, trong đó Cộng hòa Đức ở châu Mỹ chiếm khoảng 1,7 triệu kilômét vuông, các quốc gia khác chiếm hơn 500 nghìn kilômét vuông.
Argentina cũng giành được gần 100 nghìn kilômét vuông trong số những thay đổi lãnh thổ này – mặc dù trên lý thuyết là từ Cộng hòa Đức ở châu Mỹ mà có. Argentina nhận được lãnh thổ từ Cộng hòa Đức ở châu Mỹ, và Cộng hòa Đức ở châu Mỹ lại cắt một phần từ Brazil. Sau khi điều chỉnh biên giới, Brazil và Argentina không còn tiếp giáp trực tiếp nữa, trong khi Cộng hòa Đức ở châu Mỹ trở thành quốc gia trung tâm Nam Mỹ, đồng thời tiếp giáp với năm quốc gia: Bolivia, Brazil, Paraguay, Uruguay và Argentina, cũng mang đặc điểm của một cường quốc Nam Mỹ.
Ngoài việc thay đổi lãnh thổ, Brazil còn phải thanh toán cho Đức khoản chi phí giải phóng, chi phí hợp tác tác chiến, tiền bồi thường thương vong và an ủi, cùng nhiều khoản mục phong phú khác, tổng cộng lên tới khoảng 20 tỷ đô la. Rõ ràng chính phủ Brazil không thể xoay sở số tiền này. Tuy nhiên, Brazil có tài nguyên khoáng sản, vì vậy Hoffman đã rất sảng khoái chấp nhận thanh toán bằng khoáng sản. Công ty Vale, thành lập năm 1942, đã trở thành liên doanh giữa Đức và Brazil, cùng nhau độc quyền các mỏ quặng sắt và nhôm trong lãnh thổ Brazil. Gỗ từ rừng Amazon cũng được cấp quyền khai thác đặc biệt cho Đức. Ngoài ra, các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của Brazil như cà phê, ca cao, đậu nành và thịt bò cũng theo tuyến đường này mà tiến vào thị trường châu Âu dưới sự điều phối của Đức.
Đương nhiên, Đức cũng không thể chỉ lấy đi mà không có sự đền đáp từ Brazil. Khi ký kết hiệp định song phương, đã có thỏa thuận rằng Đức sẽ hỗ trợ Brazil xây dựng 12 nhà máy thủy điện, các nhà máy thép và xưởng quân sự quy mô lớn. Các công ty như Volkswagen và Benz cũng sẽ đến Brazil mở xưởng sản xuất ô tô, ngoài ra còn phát triển hơn nữa ngành đóng tàu, v.v. – hình thức được thỏa thuận là cùng nhau đầu tư.
Ngoài ra, Brazil còn nhận được hai lợi ích khác. Thứ nhất, tài sản đầu tư của Mỹ tại lãnh thổ Brazil ban đầu không cần hoàn trả theo hiệp định – điều này khiến tầng lớp tư sản đã hưởng lợi trước đây sẽ chỉ ủng hộ chính phủ, đây thực sự là một khoản tiền lớn. Lợi ích thứ hai là vũ khí: Theo điều kiện hòa bình giữa Đức và Mỹ, khi quân đội Mỹ rút khỏi Recife về nước chỉ mang theo một số ít trang bị quân sự. Số vật liệu còn lại, trừ một phần máy bay, xe tăng, pháo đã được Đức vận chuyển về nước, đều được giao làm chiến lợi phẩm cho quân đội chính phủ Brazil. Ngay cả quân đội Brazil thân Mỹ ban đầu hợp tác với Hoa Kỳ cũng được giải giáp và tiếp quản bởi chính phủ Brazil. Việc này đã mang lại cho Brazil gần 150.000 bộ trang bị quân sự, khiến Montero vô cùng vui mừng.
Hai lợi ích này không chỉ khiến khoản 20 tỷ đô la trông bớt chói mắt hơn, mà còn giúp Brazil trở thành quốc gia chiến thắng "có vốn". Vì vậy, chính phủ Dutra của Brazil cũng vui vẻ chấp nhận khái niệm Ngày Chiến Thắng, và quyết định sau này sẽ chọn ngày đó làm ngày lễ quốc gia hợp pháp của Brazil.
Nếu đọc kỹ hiệp ước, đương nhiên các chính trị gia lão luyện của Brazil sẽ bất mãn, bởi vì sau này Brazil sẽ chuyển từ một nền kinh tế chịu sự kiểm soát của Mỹ sang một hệ thống kinh tế chịu sự kiểm soát của Đức. Hơn nữa, dù sao đi nữa, Hoa Kỳ còn cách một biển Caribe, trong khi Brazil lại trực tiếp có một "tiểu Đức" ngay bên cạnh. Về mặt quân sự, Brazil hoàn toàn không thể đánh bại Cộng hòa Đức ở châu Mỹ, nhưng Montero biết rằng hiệp ước này nhất định phải ký. Nếu ký, Brazil vẫn còn toàn vẹn, nhiều lắm là mất một ít lãnh thổ và lợi ích kinh tế. Nếu không ký, Đức sẽ quay sang đàm phán lại với Mỹ để chia cắt Brazil. Hiện tại, các quốc gia xung quanh đều là "đệ tử" của Đức, ai lại không muốn xâu xé thêm một miếng thịt từ Brazil nữa chứ?
Nếu như Brazil bị chia cắt thành hai nước như Nga thì mới thật là thảm khốc. Vì vậy, Montero đã vui vẻ "cho phép" Dutra ký vào hiệp ước. Ông ta dự định khi thời cơ thích hợp sẽ loại bỏ Dutra, bề ngoài là để xoa dịu sự bất mãn của dân chúng, nhưng thực chất là để dọn đường cho mình lên nắm quyền. Dutra cũng không dám phản đối, bởi vì Montero có Đức đứng sau lưng. Ký hiệp ước này, Đức có thể đảm bảo ông ta sẽ có một sự sắp xếp thỏa đáng trong tương lai. Còn nếu không ký? Chữ ký trên hiệp ước vẫn là của Dutra, nhưng không chắc tính mạng ông ta có được giữ lại hay không. Hơn nữa, ngay cả bây giờ có muốn chọn lưu vong sang Mỹ cũng không còn cơ hội, chính phủ Mỹ cũng căn bản không muốn lo chuyện rắc rối này – người Mỹ còn không quản nổi Cuba ngay gần kề, làm sao có thể quay lại bận tâm chuyện vặt của Brazil?
Dù Argentina không mấy hài lòng khi một cường quốc xuất hiện ngay bên cạnh mình, nhưng lại không thể không thừa nhận rằng, so với một Brazil khổng lồ có sự can thiệp của Mỹ, thì Cộng hòa Đức ở châu Mỹ vẫn an toàn hơn một chút. Ít nhất hiện tại, hệ tư tưởng của các bên là nhất quán.
Hiện tại, toàn bộ Nam Mỹ dưới sự liên kết của Đức, đang chuẩn bị cùng các quốc gia Caribe và Trung Mỹ, cùng nhau xây dựng Liên minh Châu Mỹ Latin – tên đầy đủ là "Hiệp ước Hữu nghị Hỗ trợ giữa Đức và các quốc gia Châu Mỹ Latin". Liên minh này sẽ thiết lập to��n diện các mối quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa và hệ tư tưởng, xác lập địa vị minh chủ của Đức. Tuy nhiên, ban thư ký của Liên minh Châu Mỹ Latin lại không đặt tại Cộng hòa Đức ở châu Mỹ, mà đặt tại thủ đô Buenos Aires của Argentina. Đây là cách Đức ngầm thừa nhận Argentina là quốc gia lãnh đạo các nước Nam Mỹ.
Tuy nhiên, có một quốc gia đã bị Liên minh Châu Mỹ Latin từ chối – đó chính là Chile. Chile vẫn luôn giữ thái độ trung lập trong Đại chiến, thậm chí còn có dấu hiệu nghiêng về phía Mỹ và Liên Xô, cùng với phe cánh tả mạnh mẽ trong chính phủ. Peron cho rằng không thể dễ dàng bỏ qua cho Chile như vậy, mà nhất định phải tăng cường cải tạo. Khi Argentina lên tiếng, Cộng hòa Đức ở châu Mỹ không phản đối, Brazil cũng im lặng, và Đức cũng không can thiệp. Vì vậy, vấn đề này đã được quyết định như thế. Giờ đây, tất cả mọi người đang lặng lẽ quan sát Chile, mong đợi những "nhân sĩ nội bộ" của Chile sẽ đứng lên cách mạng, nếu không thì quốc gia này sẽ bị loại bỏ khỏi liên minh.
Dĩ nhiên, mặc dù gọi là Ngày Kỷ niệm Chiến thắng châu Âu, nhưng thực chất châu Âu vẫn còn một vết loét nhỏ: vấn đề Serbia.
Sau khi Ý tiếp quản khu vực chiếm đóng Serbia từ tay Đức, họ đã dốc hết vốn liếng nhưng vẫn không thể giải quyết được đội du kích của Tito, mà ngược lại còn hao binh tổn tướng, tốn kém chồng chất. Mặc dù Đức có thể cung cấp một lượng lớn vật liệu và trang bị dư thừa, nhưng các chi phí khác đều do Ý tự bỏ ra. Ciano nhận thấy cái giá này quá đắt. Ông ta không giống Mussolini, cho rằng Serbia là một quốc gia nghèo nàn, dân tình phức tạp, không có tài nguyên khoáng sản đặc biệt tốt hay các tài nguyên khác. Việc thôn tính sẽ chẳng mang lại gì cho Ý, và địa vị cường quốc của Ý cũng không phải dựa vào việc thôn tính Serbia mà đạt được. Hành động này ngược lại có thể khiến Ý bị lún sâu hơn vào các cuộc kháng chiến liên miên. Trừ phi giết sạch toàn bộ người Serbia, nhưng điều này là không thể. Ngay cả Nguyên thủ cũng không thể tiêu diệt toàn bộ người Do Thái, Ý cũng tương tự không thể làm được điều đó.
Đội du kích của Tito ngày càng mạnh lên trong quá trình này cũng là điều khiến người Ý run sợ. Các loại vũ khí của họ ngày càng phong phú, thậm chí cả pháo chống tăng Đức cấp cho Ý và xe tăng Sherman của Mỹ cũng bị Tito tịch thu được. Đây cũng là một yếu tố thúc đẩy Ciano cân nhắc việc rút quân – năm đó đối phó với Libya cũng mất hơn 10 năm công sức, may mà Libya còn có dầu mỏ. Nếu Nam Tư lại kéo dài hơn 10 năm nữa thì đơn giản là không thể chịu đựng nổi. Tại sao Đức lại hào phóng nhường địa bàn Serbia cho Ý như vậy? Bề ngoài là để lôi kéo Ý hợp tác sâu hơn, nhất là đóng góp lực lượng hải quân, nhưng sâu xa hơn có lẽ cũng không ngoài ý muốn rũ bỏ gánh nặng.
Ban đầu Ý cứ ngỡ là vớ được món hời, giờ quay đầu lại mới hay mình đã rước phải một rắc rối lớn.
Đương nhiên, cái giá mà Serbia phải trả cũng vô cùng thảm khốc. Trong quá trình chống du kích sau khi Ý tiếp quản, đã có hơn 600.000 người Serbia thiệt mạng. Cộng với số dân tổn thất trong thời kỳ Đức chiếm đóng, Serbia đã mất gần 15% tổng dân số cả nước. Hơn nữa, vì chiến tranh liên miên, Serbia hoàn toàn không có bất kỳ hoạt động kinh tế có tổ chức nào, sản xuất xã hội bị phá hủy toàn diện.
Nhận thấy sự khó khăn của Ý, người Romania, dưới sự ám chỉ của Đức, đã đứng ra làm người hòa giải: Một mặt khuyên người Serbia từ bỏ giấc mộng Đại Serbia, lý trí chấp nhận thực tế và chuyển nhượng vùng Kosovo cho Albania – quốc gia này luôn tuyên bố Kosovo là lãnh thổ cố hữu của mình, và chính Ý cũng ủng hộ quan điểm này. Mặt khác, họ lại khuyên Ý từ bỏ việc dùng vũ lực giải quyết vấn đề Serbia, chỉ cần Serbia sau này không còn ủng hộ chủ nghĩa khủng bố, không chuyển hướng Bolshevik, thì nền độc lập của Serbia sẽ được đảm bảo.
Bản dịch này là độc quyền của truyen.free, mong quý độc giả trân trọng và ủng hộ.