(Đã dịch) Tối Giai Đạo Diễn - Chương 30: Hắn còn sẽ có thứ 2 bộ phim sao?
“Paranormal Activity” đã được công chiếu đến tuần thứ năm, thu về 24.158.300 USD doanh thu phòng vé trong tuần đó, tiếp tục giữ vững vị trí quán quân phòng vé Bắc Mỹ. Đây đã là tuần thứ tư liên tiếp bộ phim này đứng đầu bảng xếp hạng. Sang tuần thứ sáu, khi các trường học ở Bắc Mỹ bắt đầu khai giảng trở lại, doanh thu phòng vé của ngành điện ảnh sụt giảm mạnh. “Paranormal” chỉ thu về 11.501.700 USD trong tuần này. Mặc dù chuỗi 4 tuần liên tiếp giữ ngôi quán quân đã chấm dứt, nhưng nó vẫn có thể xếp thứ ba trong tuần.
Dựa trên tình hình doanh thu phòng vé giảm dần như vậy, tiềm năng của “Paranormal” tại Bắc Mỹ gần như đã cạn kiệt. Với việc số lượng rạp chiếu giảm dần, khi phim ngừng chiếu hoàn toàn ở Bắc Mỹ, nếu nó có thể thu thêm mười triệu USD doanh thu cũng đã là rất tốt rồi. Thế nhưng, không thể phủ nhận, bộ phim này đã là một kỳ tích, một huyền thoại. Với chi phí sản xuất chỉ 10.000 USD, tổng chi phí quảng bá trước sau chưa đến 1 triệu USD, nó đã thu về 154,2 triệu USD doanh thu phòng vé chỉ riêng ở Bắc Mỹ!
Lions Gate hiện đang chuẩn bị cho việc phát hành ở thị trường quốc tế, bởi vì trên mạng internet, người hâm mộ điện ảnh từ châu Âu, châu Á và nhiều quốc gia khác đã bày tỏ sự mong đợi đối với bộ phim này. Có thể khẳng định việc phát hành quốc tế chắc chắn sẽ có lợi nhuận, dù mức độ yêu thích có thể không bùng nổ như ở Bắc Mỹ, nhưng việc thu về hàng chục triệu USD, giúp “Paranormal” đạt tổng doanh thu toàn cầu hơn 200 triệu USD dường như không phải là chuyện khó khăn gì.
Bộ phim “Paranormal Activity” này đã khiến tất cả các công ty điện ảnh, tất cả các nhà phân tích phải ngạc nhiên, sững sờ. Bộ phim nào có thể đạt tỷ suất lợi nhuận lên đến 15.000 lần? “Paranormal” đã cho mọi người câu trả lời. Về vấn đề này, một nhà phân tích tài chính phố Wall đã cảm thán với truyền thông: “Bộ phim có lợi nhuận cao nhất năm 1998 không phải là ‘Titanic’, mà chính là ‘Paranormal’. Khi nó đổ bộ các rạp chiếu quốc tế, rồi phát hành DVD, tỷ suất lợi nhuận của bộ phim này thậm chí có khả năng đạt 30.000 lần. Lions Gate và Vương Dương tài tình quả thực là ‘cặp đôi hái ra tiền’!”
Lions Gate hiện là công ty điện ảnh bị “ghen tị” nhất nước Mỹ. Công ty nhỏ bé này đã nổi danh chỉ sau một lần, liên tục xuất hiện trên mặt báo, họ được mệnh danh là “kỳ tích thương mại”. Còn chiêu thức quảng bá kiểu virus của “Paranormal” cũng khiến các chuyên gia phải thán phục không ngớt; chẳng ai tin những “tin đồn” xuất hiện ban đầu trên mạng lại không phải do Lions Gate sắp đặt.
Đương nhiên, cũng có rất nhiều công ty điện ảnh không muốn để Lions Gate được hưởng thành công. Họ nói với truyền thông: “Phương thức quảng bá của ‘Paranormal’ đều là ý tưởng của đạo diễn gốc Hoa đó. Khi anh ta đến công ty chúng tôi tìm kiếm đối tác phát hành, anh ta đã nói với chúng tôi. Tên đó có một kế hoạch hoàn chỉnh, anh ta nói với chúng tôi rằng: ‘Phương án này của tôi có thể đưa rất nhiều, rất nhiều khán giả đến rạp chiếu phim, hãy tin tôi!’ Nhưng chúng tôi không muốn dùng loại phương pháp giả thần giả quỷ này, còn Lions Gate thì lại dùng, họ đều là những kẻ lừa đảo vô sỉ.”
Thật ra, những công ty điện ảnh kia chỉ là ăn không được nho thì bảo nho chua mà thôi. Sự thật là, vì bỏ lỡ “Paranormal” khi phim tự tìm đến, đã có vài vị quản lý mua phim bị công ty sa thải, tạm đình chỉ hoặc giáng chức, trong đó có Stephen Thomas của Artisan Entertainment. Chủ tịch của Artisan Entertainment khi nghe nói công ty mình là một trong “năm mươi bốn” công ty từng từ chối Vương Dương, liền gọi CEO của Artisan đến truy cứu trách nhiệm. Sau đó, Stephen Thomas trở thành vật tế thần, anh ta đã bị sa thải.
Còn trong tuần thứ sáu công chiếu, khi một số rạp chiếu phim kết thúc việc chiếu “Paranormal”, Lions Gate cũng bắt đầu nhận được tiền thuê phim trước thuế từ các rạp.
Doanh thu phòng vé hiện tại của “Paranormal” ở Bắc Mỹ là 154,2 triệu USD. Số tiền này đương nhiên phải được chia sẻ giữa Lions Gate và các cụm rạp. Vậy doanh thu phòng vé của một bộ phim được phân chia như thế nào? Điều này phụ thuộc vào loại hợp đồng hợp tác cụ thể giữa công ty phát hành và các cụm rạp.
Có một vài phương thức hợp tác. Một loại gọi là thỏa thuận thuê bao trọn gói. Theo phương thức này, công ty phát hành dùng một khoản tiền cố định để mua đứt quyền chiếu phim trong một khoảng thời gian nhất định tại một rạp. Ví dụ, Lions Gate trả cho rạp chiếu phim “Duy Quá” 100.000 USD để có quyền chiếu phim trên một màn ảnh từ 0:00 đến 6:00 trong vòng một tháng. Như vậy, trong tháng tiếp theo, bất kể “Paranormal” bán được bao nhiêu vé, tất cả doanh thu phòng vé đều thuộc về Lions Gate, cuối cùng rạp chiếu phim sẽ không lấy đi một đồng nào của họ.
Tuy nhiên, phương thức hợp tác này không được ưa chuộng. Ở Bắc Mỹ, phương thức hợp tác chủ yếu giữa công ty phát hành và các cụm rạp là chia sẻ doanh thu. Tỷ lệ chia sẻ thường được hai bên đàm phán và ký hợp đồng trước khi bộ phim được chiếu. Qua nhiều năm, tỷ lệ chia sẻ giữa hai bên đã sớm trở thành thông lệ. Hiện nay, hầu hết đều áp dụng một hình thức gọi là “90/10 với mức sàn 70% (90/10-with-floor-of-70%)”.
Ý nghĩa của mô hình này là, tính theo tuần, tổng doanh thu phòng vé hàng tuần của “Paranormal” tại một rạp chiếu phim sẽ được trừ đi các chi phí cố định cần thiết của rạp đã được thỏa thuận từ đầu, ví dụ như phí vệ sinh, tiền điện, v.v., rồi nhân với 90%. Số tiền thu được chính là khoản thuê phim mà Lions Gate nhận được.
Tuy nhiên, đây chỉ là phương án A. Mô hình này cũng sẽ đồng thời ký kết phương án B, tức là tổng doanh thu phòng vé không trừ chi phí hoạt động của rạp, mà trực tiếp nhân với 70% (tỷ lệ này thường dao động từ 60-70%). Số tiền thu được chính là phần của công ty phát hành.
Vì vậy, nhà phát hành sẽ so sánh giữa phương án A và B, chọn phương án nào cho ra con số lớn hơn để làm căn cứ tính toán phần trăm doanh thu thu được từ rạp chiếu đó trong tuần.
Đương nhiên, trong trường hợp thông thường, “90/10” chỉ là tỷ lệ chia sẻ doanh thu trong 3 tuần đầu công chiếu. Sau đó, tuần thứ tư và thứ năm là 60/40, tuần thứ sáu là 50/50, tuần thứ bảy là 40/60... Cụ thể thay đổi như thế nào còn phụ thuộc vào hợp đồng, đã thỏa thuận như thế nào thì sẽ thực hiện như thế.
Dù thế nào đi nữa, tổng doanh thu phòng vé của một bộ phim từ lúc công chiếu đến khi ngừng chiếu, phần chia sẻ giữa nhà phát hành và rạp chiếu phim thường là khoảng 50/50, một nửa đối một nửa.
Vậy có người hỏi, liệu rạp chiếu phim có tình trạng giấu giếm, khai man doanh thu phòng vé hay không? Thứ nhất, công ty phát hành sẽ tự thuê các công ty điều tra chuyên nghiệp, đôi khi công khai, đôi khi bí mật đến rạp chiếu để kiểm tra tình hình; thứ hai, bản thân nước Mỹ có một hệ thống tư pháp nghiêm ngặt, bao gồm cả các cơ quan thuế cũng đang theo dõi sát sao. Vì vậy, hành vi giấu giếm hay khai sai doanh thu phòng vé rất hiếm thấy. Về cơ bản, không có công ty cụm rạp nào lại dại dột tham lam đến mức đó, vừa phá hoại uy tín của mình, vừa phải đối mặt với sự trừng phạt của pháp luật.
Hình thức chia sẻ doanh thu của “Paranormal” chính là “90/10 với mức sàn 70%”. Sau sáu tuần công chiếu, với 154,2 triệu USD doanh thu phòng vé, Lions Gate nhận được 91.760.000 USD, gần 60% doanh thu trước thuế. Sau khi trừ đi gần ba triệu chi phí sản xuất (bao gồm phí quảng bá, phí sao chép, phí vận chuyển, in ấn, v.v.), lợi nhuận gộp trước thuế trong sáu tuần là hơn 88.750.000 USD.
Lợi nhuận trước thuế tại Bắc Mỹ không vượt quá 100 triệu USD. Và theo tình hình hiện tại, chỉ còn hơn năm trăm rạp chiếu “Paranormal”, cộng thêm tỷ lệ chia sẻ đã giảm xuống 40/60, thì khi phim ngừng chiếu hoàn toàn, lợi nhuận trước thuế cũng sẽ không vượt quá 100 triệu USD. Vì vậy, Vương Dương đồng ý với Lions Gate thực hiện phương án chia hoa hồng 40%.
Thế là, sau khi phòng tài chính của Lions Gate hoàn tất việc hạch toán, họ bắt đầu nộp các loại thuế công ty cho cục thuế vụ. May mắn là Lions Gate chỉ là một doanh nghiệp nhỏ nên được hưởng một số ưu đãi về thuế, nhưng vẫn phải nộp gần 20% thuế. Số tiền còn lại sau thuế là 71.580.000 USD, trong đó Vương Dương được chia 28.632.000 USD.
Nhưng mọi chuyện không dừng lại ở đó, vì Vương Dương còn phải nộp các khoản thuế như thuế thu nhập cá nhân Liên bang, thuế thu nhập cá nhân bang California và nhiều loại thuế khác cho cục thuế vụ. Nước Mỹ có quá nhiều loại thuế, người bình thường cũng khó lòng hiểu rõ hết, chưa nói đến việc làm sao để hợp lý hóa khoản thuế đó. Vì vậy, Vương Dương một lần nữa đến văn phòng luật sư “Thành Tín”, hỏi ý kiến luật sư Hebrew Karl rất lâu, mới hiểu ra rằng khoản 28.632.000 USD này sau khi nộp thuế có lẽ chỉ còn lại khoảng 21.400.000 USD.
Đương nhiên Vương Dương sẽ không lập tức đến cục thuế vụ để kê khai và nộp thuế, bởi vì các loại thuế ở Mỹ thường được nộp một lần mỗi năm, và hạn chót kê khai thuế hàng năm là ngày 15 tháng 4. Chỉ cần kê khai trước ngày đó là được, nếu quá ngày mà chưa kê khai, đó sẽ là hành vi trốn thuế, và điều chờ đợi anh là sự điều tra của cục thuế cùng với các khoản phạt nặng.
Vương Dương không phải là muốn trì hoãn việc nộp thuế, mà là tiền hoa hồng của phim vẫn đang lần lư��t được chuyển đến tài khoản. Chờ sang năm thanh toán một lần tất cả các khoản thuế của năm nay sẽ thuận tiện hơn. Dù sao, anh đã có trong tay hơn 21 triệu USD tiền mặt, chính thức trở thành triệu phú hàng chục triệu đô la.
Mặc dù Lions Gate không tiết lộ cụ thể số tiền hoa hồng của Vương Dương với truyền thông, nhưng truyền thông vẫn tìm hiểu được một số chi tiết và suy đoán rằng số tiền hoa hồng Vương Dương nhận được lên đến hàng chục triệu. Suy đoán này cũng đã được Lions Gate ngầm xác nhận. John Felthelmer, quản lý phát hành của Lions Gate, nói: “Anh ấy đã đạt được khối tài sản mà nhiều người cả đời cũng không thể có được, và anh ấy mới chỉ 18 tuổi, quá trẻ phải không? Tôi hy vọng anh ấy sẽ trân trọng những gì mình có, chúc anh ấy may mắn!”
“Triệu phú trẻ tuổi nhất” – đây là danh hiệu mới nhất mà tờ “Los Angeles Times” dành cho Vương Dương. Bài báo đã tìm đến các nhà phân tích chuyên nghiệp, ước tính giá trị tài sản ròng của Vương Dương đã vượt quá 20 triệu USD, và với việc “Paranormal” được phát hành ở thị trường quốc tế và qua nhiều kênh khác, giá trị tài sản của anh sẽ sớm tăng lên hơn 30 triệu USD.
Đối với những báo cáo này của truyền thông, Vương Dương không mấy bận tâm, không phủ nhận cũng không trả lời. So với danh hiệu “Triệu phú trẻ tuổi nhất”, anh thích danh hiệu “Đạo diễn trẻ tuổi nhất” hơn.
Sau khi nhận được khoản tiền lớn này, cuộc sống của anh cũng không có gì thay đổi nhiều. Anh vẫn thuê căn hộ cũ, chỉ là thay thế những đồ dùng gia đình đã quá cũ nát, không thể dùng được nữa. Sau đó, anh mua sắm một bộ thiết bị rạp chiếu phim gia đình cao cấp, tha hồ mua rất nhiều đĩa phim DVD để lưu trữ và thưởng thức; ngoài ra, anh còn mua một chiếc xe con hai cửa thông thường, thuận tiện cho việc đi lại.
Sự chú ý của truyền thông dành cho anh dần giảm nhiệt, một phần quan trọng là do thái độ không hợp tác của anh. Ví dụ, tạp chí “Vanity Fair” mời anh chụp một bộ ảnh chân dung và phỏng vấn, nhưng anh đã từ chối. Anh thà ở nhà đọc sách, xem phim còn hơn là đi chụp ảnh. Thứ nhất, anh tạm thời không có hứng thú với việc đó; thứ hai, anh muốn sớm thoát khỏi những chuyện này.
Phỏng vấn tạp chí, tiệc tùng người nổi tiếng… Anh không thể đắm chìm vào những thứ này, không thể để bản thân tiêu tốn hết năng lượng vào chúng. Anh còn trẻ, cái anh cần là không ngừng tiến bộ, chứ không phải mê mẩn trong những cám dỗ của thành công, để rồi bị loại khỏi cuộc chơi. Anh không ngừng nhắc nhở mình: “Dương à, cậu chỉ là một tay mơ, cậu chẳng là gì cả. Hãy nhìn những tin tức tiếp theo về ê-kíp sáng tạo của ‘The Blair Witch’ đi, cậu muốn trở thành họ sao? Hãy nhớ lại dự định ban đầu của mình! Trở thành một đạo diễn, làm phim.”
Vì vậy, Vương Dương đã từ chối lời mời phỏng vấn của “Vanity Fair” và một số lời mời dự tiệc. Anh biết rằng thành công của một bộ phim không phụ thuộc vào việc anh tham gia bao nhiêu bữa tiệc, hay xuất hiện trên bao nhiêu trang bìa tạp chí; mà nó được quyết định bởi chính bản thân bộ phim.
Sau khi hoàn tất công tác quảng bá hậu kỳ cho “Paranormal”, anh dần rút lui khỏi tầm mắt công chúng. Mỗi ngày, anh ở nhà đọc sách, xem phim, đôi khi trò chuyện điện thoại với Jessica và những người bạn tốt khác, thỉnh thoảng cùng nhau ra ngoài chơi. Cuộc sống trôi qua rất bình yên. Trong khoảng thời gian này, anh gia nhập Hiệp hội Đạo diễn (DGA). Dù hoạt động khá kín tiếng, tin tức này vẫn bị một tờ báo lá cải nhỏ đăng tải. Sau đó, mãi đến cuối tháng 9, anh lại một lần nữa lên báo.
Nguyên nhân là Lions Gate đã công bố với truyền thông một kế hoạch làm phim mới: họ sẽ quay “Paranormal Activity 2”, và đã mua bản quyền phần tiếp theo với giá 5 triệu USD từ tay Vương Dương.
Đúng vậy, Vương Dương lại thu về 5 triệu USD. Ban đầu, Lions Gate chỉ chịu trả 1 triệu USD, nhưng Vương Dương thậm chí không buồn để mắt đến họ, chỉ đáp gọn lỏn một từ “KHÔNG”. Anh còn tiết lộ cho John Felthelmer một vài thông tin: “New Line Cinema, Artisan... và nhiều công ty khác đều đã liên hệ với tôi. Họ biết tôi vẫn còn giữ bản quyền phần tiếp theo và muốn mua nó.” Đây là sự thật. Hiện tại, đến lượt New Line Cinema, Artisan, Dimension Films và nhiều công ty khác chủ động tìm đến anh, thiện chí đàm phán, nhưng Vương Dương vẫn gửi trả họ từng cái “KHÔNG”.
Tuy nhiên, anh cũng sẽ không cố chấp chỉ bán cho Lions Gate. Mặc dù anh rất biết ơn Lions Gate vì đã cho mình cơ hội, nhưng “Paranormal” cũng đã mang lại hàng chục triệu lợi nhuận cho Lions Gate, chẳng ai nợ ai. Công ty nào đáp ứng được điều kiện của anh thì anh sẽ bán bản quyền phần tiếp theo cho công ty đó.
Thế là, giá Lions Gate đưa ra đã nâng lên tới 5 triệu USD. Nhưng phía Artisan dường như quyết tâm mua bằng được, họ lại nâng giá lên 7 triệu USD, cộng thêm 20% chia sẻ doanh thu phòng vé. Cuối cùng, Vương Dương chọn Lions Gate với 5 triệu USD và 20% chia sẻ doanh thu phòng vé. Anh đưa ra lựa chọn này vì một vài lý do: một là, anh có mối quan hệ tốt với Lions Gate; hai là, anh thực sự lo lắng Artisan sẽ nợ tiền hoa hồng; ba là, xét về việc làm phim kinh dị phần tiếp theo, Lions Gate luôn làm rất tốt. Mặc dù thị trường cần thời gian để “tiêu hóa” “Paranormal”, nhưng nếu phần 2 được chiếu sau một năm, lợi nhuận vẫn không thành vấn đề. Điều quan trọng không phải là 20% hoa hồng nhiều đến mức nào, mà là giữ vững được “thương hiệu” Paranormal này.
Bỏ ra một khoản tiền lớn như vậy, Lions Gate đương nhiên rất coi trọng “Paranormal Activity 2”. Vì thế, ngay sau khi mua bản quyền, họ liền tuyên truyền rầm rộ chuyện này, đồng thời thông báo rằng “Paranormal 2” sẽ không do Vương Dương đạo diễn. John Felthelmer, nhân vật có tiếng của Lions Gate, nói với truyền thông: “Không mời Vương Dương đạo diễn là bởi vì chúng tôi muốn thay đổi phong cách phim. Bối cảnh phần 2 sẽ được đặt tại văn phòng, điều này rõ ràng không phải là bối cảnh mà một người trẻ 18 tuổi am hiểu.”
Đối với điều này, nhiều người hâm mộ điện ảnh đã dự đoán từ trước. Ngoại trừ một bộ phận rất nhỏ người nói “sẽ không xem ‘Paranormal’ nếu không phải Vương Dương đạo diễn”, phần lớn mọi người đều giữ thái độ chờ xem. Còn truyền thông, khi đưa tin này, cũng bày tỏ quan điểm của họ về tương lai của Vương Dương. “Los Angeles Times” viết: “Mặc dù tài sản của chàng trai may mắn này lại tăng thêm 5 triệu USD, nhưng anh ấy vừa bị phũ phàng loại bỏ. Anh đã mất đi chiếc micro đạo diễn của ‘Paranormal’, và hiện tại có vẻ như không có công ty điện ảnh nào sẵn lòng trao cho anh một chiếc micro nữa.”
“Chicago Sun-Times” đã trích dẫn lại đoạn trả lời của Vương Dương dành cho Oprah trong chương trình “Oprah Talk Show” trước đây: “Không, tôi nghĩ tạm thời tôi sẽ không làm phim kinh dị nữa.” Tờ “Chicago Sun-Times” với giọng điệu có phần không mấy thiện chí đã viết: “Chẳng lẽ Vương Dương đã sớm biết mình sẽ không được mời làm đạo diễn ‘Paranormal 2’? Một đồng nghiệp của tôi hỏi, tại sao anh ấy không chọn tự mình đầu tư làm phần tiếp theo, một lần nữa biến 10 ngàn thành 100 triệu USD? Tôi nghĩ đây mới là sự khôn ngoan của anh ấy, trực tiếp nhận 5 triệu USD, sau đó sống hưởng thụ, chẳng phải tốt sao? Giờ vấn đề là, nếu Vương Dương không làm phim kinh dị DV, anh ấy còn có thể làm gì? Ôi, liệu anh ấy còn có bộ phim thứ hai nào không?”
Đọc bản tin này, Vương Dương nói đùa với Rachel qua điện thoại: “Hắn nói đúng, anh chẳng cần làm gì, chỉ cần ngồi ở nhà đếm tiền, thế này tốt lắm.” Rachel cười nói: “Đúng vậy, vừa vặn phù hợp với kế hoạch nghỉ hưu của anh.” Vương Dương ha ha một tiếng, cười nói với cô: “Không, anh không muốn nghỉ hưu. Anh sẽ có bộ phim thứ hai, anh đã nói với em rồi, phim ca nhạc.” Rachel hỏi: “Dương, anh thực sự quyết định chưa?” Vương Dương gật đầu nhẹ, nghiêm túc nói: “Quyết định rồi.”
Đại sảnh căn hộ đã thay đổi diện mạo. Chiếc ghế sofa rách mấy lỗ lớn đã biến mất, thay vào đó là một bộ sofa mây. Máy tính cũng được chuyển từ phòng ngủ ra, đặt trên một chiếc bàn làm việc gỗ mới tinh. Trên bàn còn bày một vài cuốn sách, mô hình máy quay phim và một chậu hoa tươi.
Vương Dương ngồi trước bàn làm việc, nhìn vào tệp tài liệu trống rỗng trên màn hình máy tính, cau mày suy tư, bộ phim tiếp theo anh sẽ làm gì?
Sau khi dòng phim ca nhạc bước vào giai đoạn thoái trào vào những năm 70, đến thập niên 90, thực tế vẫn có không ít tác phẩm xuất sắc. Chẳng hạn như “Pocahontas” của Disney phát hành năm 1995, vừa được đánh giá cao vừa ăn khách, nhưng đó là phim hoạt hình. Còn phim ca nhạc người thật đóng, bộ phim đáng kể là “Evita” thì chỉ vừa đủ hòa vốn mà thôi, và nguyên nhân chính là vì nữ diễn viên chính của bộ phim đó là Madonna.
Tại sao hiện tại chỉ có “phim ca nhạc trá hình” như “Pocahontas” mới có thể ăn khách?
Phần lớn nguyên nhân là dòng phim ca nhạc phát triển cho đến nay đã có sự thay đổi về chất so với “Thời kỳ hoàng kim” trước đây. Phim ca nhạc cũng bắt đầu chú trọng kịch bản, chứ không còn chỉ là một cốt truyện đơn giản rồi sau đó là ca hát nhảy múa xuyên suốt bộ phim nữa. Trong tương lai, dòng phim ca nhạc có thể phục hưng, đó chính là nhờ sự kết hợp hài hòa giữa kịch bản và ca vũ, để người xem vừa thưởng thức câu chuyện vừa xem ca múa, để ca múa phục vụ kịch bản, chứ không phải tách rời một cách cứng nhắc.
Dòng phim ca nhạc trong tương lai đã phục hưng như thế nào? Năm 2000, “Dancer in the Dark” bất ngờ trở thành “ngựa ô” gây kinh ngạc cho giới điện ảnh. Tiếp đó, năm 2001, bộ phim “Moulin Rouge!” đã mang lại đề cử Oscar cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất cho Nicole Kidman. Năm 2002, “Chicago” đạt cả danh tiếng lẫn lợi nhuận, ăn khách tại phòng vé và giành vô số giải thưởng, bao gồm cả giải Phim hay nhất tại lễ trao giải Oscar lần thứ 75 (2002-2003). Nếu nói xa hơn một chút, trong tương lai còn có bộ phim “Black Swan”.
Thực ra, những bộ phim này đều không phải là phim ca nhạc thuần túy. Yếu tố hấp dẫn nhất của chúng nằm ở kịch bản, ở những gì bộ phim muốn biểu đạt. Giống như “Chicago”, “Black Swan”, v.v., chúng khai thác sâu sắc về dục vọng của con người, còn ca múa chỉ là để phục vụ cho điều đó mà thôi.
Những bộ phim vũ kịch tình cảm có tính nghệ thuật cao này đòi hỏi chi phí sản xuất lớn, và việc tuyển chọn nữ diễn viên lại càng cực kỳ quan trọng, nếu không phải diễn viên tầm cỡ minh tinh hoặc thậm chí là cấp ảnh hậu thì khó lòng đảm đương nổi. Với tình hình hiện tại của anh, dù anh có đưa ra cát-xê 20 triệu USD, cũng sẽ không có bóng hồng nào đến tham gia diễn phim của anh. Họ không thiếu tiền, không thiếu lời mời đóng phim, họ sẽ không đóng một bộ phim mà chỉ được “đánh giá tốt trên Rotten Tomatoes” chứ không phải phim nghệ thuật lớn.
Vì vậy, đây không phải là lựa chọn của anh vào lúc này. Vậy thì đó chính là loại thứ hai: phim ca nhạc thanh xuân, học đường. Loại phim ca nhạc này đã có từ rất lâu, “Grease” năm 1978, “Flashdance” năm 1983 đều trở thành kinh điển. Những bộ phim ca nhạc này không có chủ đề quá nặng nề, chủ yếu là kể về tâm tư của giới trẻ thời đó; hay về sự kiên trì theo đuổi ước mơ; hay về tình yêu lứa đôi.
Loại phim này, một khi được làm tốt, sẽ tạo ra một làn sóng không gì sánh kịp, nhanh chóng càn quét tầng lớp học sinh trên toàn cầu.
Và làn sóng tiếp theo, chính là vào năm 2006, được một bộ phim truyền hình “High School Musical” toàn diện dẫn dắt, cùng năm đó “Step Up” cũng trùng hợp ra mắt. Sau đó, dòng phim ca nhạc tuổi teen, học đường đã phục hưng một cách toàn diện, tràn ngập khắp thị trường. Những phim nổi bật có “Camp Rock”, “Bring It On”, v.v., còn những bộ phim ít tiếng tăm thì vô số kể.
“High School Musical?” Vương Dương khẽ lẩm bẩm. Bộ phim này không nghi ngờ gì là một tác phẩm hay, nó đã tìm đúng cốt lõi của phim ca nhạc học đường tuổi teen, đó chính là có một chủ đề lạc quan, truyền cảm hứng; cùng với âm nhạc và vũ đạo hợp thời; và dàn diễn viên nam thanh nữ tú hấp dẫn tầng lớp học sinh. Khi những yếu tố này đều được làm tốt, việc nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ tầng lớp học sinh cũng không có gì lạ.
Vương Dương nghiêm túc phân tích mức độ khó khăn nếu anh làm “High School Musical”. Bối cảnh quay chủ yếu tập trung trong khuôn viên trường trung học, là nơi anh quen thuộc, không thành vấn đề. Quá trình quay không có những cảnh quay phức tạp, không có kỹ xảo đặc biệt, không có hiệu ứng đặc biệt, cũng không thành vấn đề. Về diễn viên, Jessica, Rachel, Zachary đều là những lựa chọn rất phù hợp. Hơn nữa, Hollywood thiếu ảnh đế, ảnh hậu, nhưng không thiếu những diễn viên trẻ, có chút kỹ năng diễn xuất, là những nam thanh nữ tú.
Vấn đề duy nhất của anh khi làm phim ca nhạc là biên đạo múa và sáng tác nhạc, nhưng những công việc này có thể thuê đạo diễn vũ đạo và nhạc sĩ chuyên nghiệp đảm nhiệm, trên thực tế thì cũng không thành vấn đề.
Tuy nhiên, hiện tại là năm 1998, nếu ra mắt “High School Musical”, thị trường liệu có chấp nhận không? Vương Dương chống cằm, cau mày tự hỏi vấn đề này, cố gắng phân tích một cách lý trí.
Anh cũng là người trẻ tuổi, nếu bây giờ có một bộ phim ca nhạc học đường xuất sắc, tạo nên làn sóng lớn, anh sẽ đi rạp chiếu phim để xem. Lý do rất đơn giản: anh thích nhảy múa và ca hát, những người như anh không hề ít. Chỉ cần nhìn thấy sàn nhảy ở các quán bar luôn chật kín người là đủ hiểu, ca múa là thứ sẽ không bao giờ lỗi thời. Dù ở thời đại nào, người trẻ tuổi cũng đều mong muốn được thỏa sức giải phóng nhiệt huyết của mình qua những điệu hát, điệu nhảy!
Nhưng chỉ với lý do này thôi thì chưa đủ, bởi vì anh hoàn toàn có thể trực tiếp đến quán bar nhảy múa, chứ không phải đi rạp chiếu phim xem phim. Vì vậy, phim không thể chỉ có ca múa, mà còn phải thỏa mãn một số nhu cầu của khán giả.
Giống như anh, anh hoài niệm về cuộc sống trung học, anh thích những chủ đề lạc quan, truyền cảm hứng, có dũng khí theo đuổi ước mơ. Vì vậy, anh sẽ xem “High School Musical”. Đây là suy nghĩ của một cựu sinh viên đã từng bị đuổi học. Còn nếu là một học sinh trung học, họ cũng sẽ đi xem, bởi vì trong cuộc sống cấp ba thực tế, họ không có những câu chuyện đặc sắc như vậy. Họ khao khát được đắm mình vào thế giới trong phim, khao khát được giống như các nhân vật chính để theo đuổi và thực hiện ước mơ của mình, và còn có thể có một tình yêu đẹp.
Mặt khác, nếu bạn bè đều đi xem mà mình không đi, chẳng phải sẽ rất lạc hậu sao?
Đây chính là lý do tại sao “High School Musical” lại ăn khách, tại sao “Grease” với chi phí sản xuất 6 triệu USD lại có thể thu về gần 400 triệu USD doanh thu phòng vé toàn cầu. Chúng gánh vác niềm kỳ vọng của giới trẻ vào bản thân, cũng như khát khao về những điều tốt đẹp, họ muốn trở thành những con người như vậy.
Vì vậy, dòng phim ca nhạc học đường từ bao giờ cũng luôn phù hợp thời đại. Và thị trường bây giờ, nhu cầu ở mảng này đã chất chứa từ lâu. Thế hệ trẻ của họ cũng mong muốn có một bộ phim “Grease” của riêng mình.
Còn “High School Musical” của năm 2006, dù là về câu chuyện hay phong cách quay, đặt vào năm 1998 hiện tại vẫn hoàn toàn phù hợp.
Nhưng “High School Musical” là một bộ phim truyền hình, ban đầu nó chỉ được phát sóng trên kênh Disney. Phía Disney chỉ muốn thăm dò thị trường mà thôi, ngay cả chi phí quảng bá cũng không đầu tư nhiều. Kết quả là bộ phim này đã thổi bùng một làn sóng “ca múa” trong các trường học trên toàn nước Mỹ, sau đó càn quét toàn cầu, thu hút hơn 170 triệu lượt xem, khiến thanh thiếu niên toàn cầu có cái nhìn mới về phim ca nhạc và khiến họ phát cuồng. Sự nổi tiếng bùng nổ khiến Disney không kịp trở tay, vì vậy họ lại làm “High School Musical 2”, tiếp tục phát sóng trên kênh truyền hình, sự nổi tiếng vẫn tiếp tục bùng nổ. Sau đó, “High School Musical 3” được đưa lên màn ảnh rộng, thu về 252 triệu USD doanh thu phòng vé toàn cầu.
Vậy nếu trực tiếp đưa “High School Musical 1” ra rạp chiếu phim, bộ phim này liệu có thành công không? Vương Dương không dám khẳng đ��nh, nhưng cơ hội thành công rất lớn. Bởi vì tiếng vang của “High School Musical 1” thực ra là lớn nhất trong ba phần. “High School Musical 2” đã thử nghiệm những điều mới mẻ, bối cảnh câu chuyện được đưa đến khu nghỉ dưỡng, cấu trúc kịch bản trở nên phức tạp. Mặc dù phá vỡ kỷ lục lượt xem, nhưng khán giả điện ảnh lại không nể mặt, nhao nhao bày tỏ sự thất vọng của mình. “High School Musical 3” trở lại bối cảnh học đường, cấu trúc câu chuyện được điều chỉnh theo phong cách ngắn gọn, nhưng vẫn bị một số nhà phê bình điện ảnh và người hâm mộ chỉ trích là phim vắt sữa, không có gì mới mẻ.
Có thể nói hai phần sau của ba phần khúc, phần lớn là dựa vào sự nổi tiếng của “High School Musical 1” để duy trì, chỉ là ăn bám vào những gì có sẵn mà thôi. Đây chính là “nhất cổ tác khí, tái nhi suy, tam nhi kiệt” (lần đầu khí thế mạnh, lần hai yếu đi, lần ba kiệt sức). Hơn nữa, khán giả sẽ có một tâm lý: hai phần trước đều có thể xem trên TV, vậy tại sao phần 3 lại phải vào rạp chiếu phim? Nếu ngay từ đầu đã nhắm đến màn ảnh rộng, khán giả sẽ không nghĩ như vậy. Nhưng “High School Musical 3” vẫn thu về 252 triệu USD doanh thu phòng vé.
Hơn nữa, thành công của loạt phim “High School Musical” không chỉ là phá vỡ kỷ lục lượt xem, không chỉ là 252 triệu USD doanh thu phòng vé; mà còn là doanh số DVD phim bán chạy, album nhạc phim trở thành quán quân doanh số hàng năm, và các buổi diễn vũ đài kịch trường bán hết vé. Tất cả những điều này đều là nhờ sức ảnh hưởng cực lớn của “High School Musical 1”. Vì vậy, chỉ cần quảng bá thỏa đáng, “High School Musical 1” trực tiếp đưa lên màn ảnh rộng, chưa chắc sẽ không trở thành “Grease” thứ hai.
Đương nhiên, nếu muốn quay, thì cần phải thực hiện rất nhiều thay đổi. Bởi vì phim truyền hình được thiết kế để phù hợp với cảm giác xem trên màn hình nhỏ của TV, dù là cách diễn xuất hay hình thức thể hiện, đều có rất nhiều khác biệt so với phim điện ảnh. Đây không phải là do bị giới hạn bởi chi phí sản xuất, mà là phim truyền hình chính là phim truyền hình, nó có một quy chuẩn riêng. Nếu “High School Musical” được nhắm đến màn ảnh rộng làm mục tiêu phát hành, nó cần thay đổi, cần tuân thủ theo quy tắc của phim điện ảnh chiếu rạp.
Vương Dương đang suy nghĩ say mê, cân nhắc về nhịp điệu phim sẽ thay đổi như thế nào và các vấn đề khác, bỗng nhiên điện thoại di động vang lên. Anh lắc đầu, cầm chiếc điện thoại trên bàn, thấy là Jessica gọi đến, liền bấm nghe. Vừa nhìn chậu hoa tươi, anh vừa nói: “Này, Jessica, em tìm anh có chuyện gì à?”
“Này, Dương.” Bên kia, giọng Jessica ngọt ngào cười nói: “Không có gì, chỉ là muốn nói chuyện với anh thôi. Ôi!” Nàng ngượng ngùng nói: “Anh đang bận à, em làm phiền anh rồi sao?”
“Không có, chỉ là đang nghĩ một vài chuyện thôi.” Vương Dương cười nhẹ, không mấy bận tâm. Anh đột nhiên hỏi: “Jessica, em có biết nhảy không?” Anh biết Jessica ban đầu sẽ quay bộ phim ca nhạc thanh xuân truyền cảm hứng “Honey” vào năm 2002. Trong bộ phim đó, dáng múa của cô đương nhiên rất quyến rũ, nhưng đó là có đạo diễn vũ đạo hướng dẫn. Anh không biết hiện tại cô có thể nhảy hay không.
Jessica hơi giật mình, “Ừm” một tiếng, không hiểu Vương Dương hỏi câu đó có ý gì. Chẳng lẽ là muốn mời nàng đi nhảy sao? Nàng h��i giật mình trong lòng, nhưng mà… Nàng lắc đầu nói: “Không, em không biết, em chưa từng học nhảy.” Vương Dương hơi thất vọng đáp: “Ôi, vậy à!” Nghe thấy giọng anh thất vọng, Jessica khẽ nhíu đôi lông mày thanh tú, dò hỏi: “Dương, anh muốn đi nhảy sao?”
“Không phải, không phải bây giờ.” Vương Dương cười cười, kể ý nghĩ của mình cho cô: “Anh muốn làm một bộ phim ca nhạc học đường.”
Trái tim Jessica thắt lại, không khỏi kinh ngạc nói: “Ôi, Chúa ơi! Thật sao? Anh muốn làm phim ca nhạc học đường?” Sau đó nàng phản ứng lại. Dương hỏi nàng có biết nhảy không, chẳng phải là có ý muốn mời nàng tham gia diễn sao? Trời ơi, mình vừa nói cái gì vậy! Ôi trời đất ơi! Jessica mặt đầy vẻ lúng túng, không biết phải làm sao. Nàng vỗ vỗ trán.
Vương Dương “Ừ” một tiếng, đưa tay nghịch ngợm mô hình máy quay phim trên bàn, cười nói: “Em biết đấy, anh thích làm phim, và anh vừa nhận được một khoản tiền lớn, tại sao không làm phim chứ? Phim ca nhạc học đường là kế hoạch anh quyết định hiện tại. Có lẽ sẽ tốn vài triệu, anh sẽ tự bỏ tiền sản xuất.”
Ôi trời ơi! Phim ca nhạc học đường, nhưng nàng không biết nhảy. Jessica mặt đầy vẻ lúng túng, không biết phải làm sao, nàng nhăn mày hỏi: “Dương, có phải có vai diễn phù hợp với em không?”
“Anh còn chưa chốt kịch bản, nhưng một bộ phim học đường thì kiểu gì cũng sẽ có vai phù hợp với em.” Vương Dương đứng dậy, đi về phía bếp rót nước, cười nói: “Nhưng anh cần người biết nhảy…” Anh còn chưa nói dứt lời, Jessica liền vội vàng cắt ngang lời anh: “Dương, em có thể học!”
Mọi quyền lợi của bản dịch này thuộc về truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.