(Đã dịch) Vạn Xuân Đế Quốc - Chương 185: Mật thư
Trời sáng.
Đúng như Lý An dự đoán, nhiều cây cỏ, lau sậy vẫn còn lưu lại dấu vết của hàng trăm người vừa đi qua. Dấu chân của họ vẫn còn in hằn sâu trong bùn ở cả hai chiều đi và về. Sau khi xem xét kỹ lưỡng, Lý An nói với các tướng sĩ:
– Các ngươi hãy xem kìa, bọn chúng có vài trăm người nhưng dấu chân lại xếp hàng dọc, kẻ sau giẫm vào dấu kẻ trước. Chúng muốn giấu binh lực, quả là khôn khéo! Kẻ thiếu hiểu biết, nếu không xem xét thấu đáo, sẽ lầm tưởng toán quân này chỉ có hơn trăm người.
Các tướng sĩ đều cho là đúng.
Trên bãi cỏ rộng lớn tiếp giáp với đầm lầy, vương vãi bùn đất đã khô. Lý An đoán rằng quân Thiên Đức sau khi vượt qua đầm lầy, đã dùng nước hoặc vải lau sạch bùn đất bám đến đầu gối, rồi mới tiến vào Siêu Loại.
Quân sĩ Siêu Loại vén quần lên đến bẹn, lội qua bùn, tiến về phía sông Thiên Đức. Đi được hơn một dặm, khi bùn đã ngập ngang bụng không thể tiến thêm, họ đành quay lại báo cáo. Họ đã phát hiện dấu vết của những chiếc bè tre được kéo trên bùn. Lý An không sao lý giải nổi. Ông liền sai quân lính đánh một vòng lớn dọc bờ sông Thiên Đức để xem xét có điều gì bất thường không. Phải tìm ra bằng cách nào quân Thiên Đức đã vượt qua đầm lầy bùn nhão này.
Quân sĩ Siêu Loại đi thuyền men theo bờ sông nhưng không phát hiện điều gì bất thường, ngoài những vệt bùn đất mới và hàng trăm dấu chân in hằn trên bãi cỏ ven sông cùng mép nước.
Lý An chỉ có thể khẳng định quân Thiên Đức đã vượt qua đầm lầy rộng hơn hai dặm, sau đó rút về theo sông Thiên Đức. Nhưng quân Thiên Đức đã vượt qua bằng cách nào thì thực sự không thể lý giải thỏa đáng. Lý An lập một trại lớn với 1500 quân cùng hàng chục tháp canh tại khu vực này để đề phòng quân Thiên Đức quay trở lại.
Vậy quân Thiên Đức có thực sự băng qua đầm lầy hay không? Nếu có, thì bằng cách nào?
Thực sự thì chẳng có đội quân nào của Thiên Đức qua lại bằng lối này mà chỉ có năm mươi binh sĩ dưới sự chỉ huy của Chu Diện.
Theo kế sách của Chương, Chu Diện cho đóng 20 chiếc bè nhỏ bằng tre khô. Bốn mươi quân sĩ dùng bè tre đặt lên mặt bùn lầy, từ từ tiến về phía trước. Trong đầm lầy có nhiều gò nhỏ. Tại mỗi gò, binh sĩ sẽ đặt ít nhất bốn ròng rọc. Dây thừng được buộc vào các bè tre. Sau khi bè đến được bờ, hai mươi binh sĩ lội xuống bùn, cố ý tạo ra những dấu vết đi lại như Lý An đã nhận định.
Sau khi rải bùn khô lên cỏ, họ lội ngược lại lên bè. Quân sĩ ở các gò quay ròng rọc kéo bè tre trở lại, l��n lượt rút về. Cách này không có gì đặc biệt, khó lòng đưa số lượng lớn quân qua mà không bị phát hiện, bởi vì nó được thực hiện từ lúc trời tối. Tiếng súng hỏa mai vang lên từ doanh trại là tín hiệu cho họ rút lui.
Chương muốn Lý An lầm tưởng quân Thiên Đức đã đột nhập và rút lui theo lối này, hòng che giấu con đường thực sự.
Người chỉ huy cuộc đột nhập vào làng Văn Lãng là Lý Kế Nguyên cùng với Tiểu đoàn Tam Vạn, với sĩ số năm trăm binh sĩ trang bị súng hỏa mai, nỏ Liên Châu và hai mươi quả lựu đạn nổ.
Đại đội Tam Vạn đột nhập vào Siêu Loại bằng cách băng qua dãy Linh Sơn, cụ thể là xuất phát từ Thất Sơn. Lối Thất Sơn không có thông đạo, Lý Kế Nguyên và quân lính phải bạt rừng mà đi. Sườn phía Nam của các ngọn núi từ Thất Sơn đến Cửu Sơn vô cùng hiểm trở, nhiều nơi vách đá dựng đứng. Để chuẩn bị cho kế hoạch, quân Thiên Đức mất gần nửa năm trời để thám thính, dò đường và chọn lối đi.
Chương biết vùng Siêu Loại có làng đúc đồng với nhiều thợ lành nghề mà quân Thiên Đức đang cần mở rộng xưởng đúc vũ khí. Ông Cả Lụa và nhóm của Tôn đã mất ba tháng để cung cấp danh sách những thợ lành nghề, cũng như họa đồ chi tiết về ngôi làng và các khu vực phụ cận.
Đại đội Tam Vạn tuy mới thành lập nhưng binh sĩ hơn một nửa là trai làng Vạn, được bổ sung thêm một số binh sĩ gốc xã Vũ Ninh và chuyển từ Tiểu đoàn Thiết giáp sang. Có thể nói, đây là một đội quân dày dạn kinh nghiệm chiến đấu.
Lý Kế Nguyên mất ba ngày, vừa đi vừa mở đường, mới đến được điểm tập kết trên sườn phía Nam ngọn Cửu Sơn. Toàn đại đội nghỉ ngơi một ngày sau đó theo hai thiếu niên thuộc đội của Tôn – những người giả làm tiều phu vào rừng nhặt củi đem bán – dẫn đường khi trời vừa tối, đến các điểm hẹn nơi những thiếu niên khác sẽ dẫn đi tiếp. Vì phải đi lòng vòng tránh các tháp canh, trại quân lẫn làng mạc, gần nửa đêm đại đội mới tiếp cận được làng Văn Lãng, nơi một thiếu niên đang chờ sẵn để báo cáo tình hình. Ba mươi dân binh chốt chặn ở đầu làng đã dễ dàng bị hạ gục trong chớp mắt mà không gây ra bất kỳ tiếng động nào.
Đại đội Tam Vạn dựa theo mô tả đường đi lối lại trong làng cùng đặc điểm của từng ngôi nhà, ập vào bắt những người có trong danh sách mang đi. Đại đội Tam Vạn đưa cho mỗi gia đình có người bị bắt năm nén bạc, nói rằng đó là tiền công một năm làm việc của những người đã bị quân Thiên Đức bắt đi. Nếu tiết lộ cho Lý An biết đã nhận bạc, thì người nhà của họ sẽ khó có thể trở về vào năm sau.
Khi đại đội rút đi, chó bắt đầu sủa vang khắp làng. Tất cả hành động diễn ra nhanh gọn, chỉ trong một khắc đồng hồ. Lý Kế Nguyên cắt cử một đội năm mươi binh sĩ ở lại nổ vài loạt súng để đánh động, rồi mới rút lui sau.
Quân Siêu Loại đến tiếp ứng giải cứu được những dân binh bị bịt mắt, trói gô đang nằm lăn lóc trên đất. Chẳng ai biết quân Thiên Đức đã rút theo lối nào, vì đêm đầu tháng trời không có trăng.
Những gia đình bị bắt người khóc lóc um làng um xóm, oán trách Lý An vì đã cho quân canh phòng lỏng lẻo, để quân Thiên Đức ngang nhiên vào làng như chốn không người. Tuy nhiên những gia đình này không hé miệng về việc nhận bạc, họ sợ cha hoặc con của họ sẽ không có ngày trở về.
Lý Kế Nguyên dẫn đại đội rút theo lối cũ, bao vây rồi tập kích một trại quân bằng súng hỏa mai, nhanh chóng bắt giữ một trăm tám mươi tướng sĩ, bịt miệng trói tay, dắt về hướng Cửu Sơn. Những quân lính bị thương nghe Đại đội Tam Vạn nói đã rút về hư���ng Cửu Sơn, và tận mắt thấy Lý Kế Nguyên cùng quân lính đi về hướng ấy.
Bảy thiếu niên dẫn đường cũng theo về cùng, tránh rủi ro.
Lý Kế Nguyên triệt để xóa bỏ dấu vết, cắt đặt mấy chục quân chặn hậu tại bìa rừng, chờ đến tờ mờ sáng mới nhanh chóng rút đi. Xẩm tối ngày mùng 4 tháng 8, Lý Kế Nguyên về đến bản doanh cùng một trăm tám mươi tù binh và năm mươi hai thợ lành nghề, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Lý An muốn tập trung quân đánh Thiên Đức nay lại phải phân tán quân lính đóng giữ nhiều nơi trong vùng nhưng không thể rút cánh Trương Văn Long bởi Phạm Cự Lượng, Cao Lịch và Lý Văn Ba liên tục quấy rối khi màn đêm buông xuống. Tháp canh, đồn gác, các trại quân trở thành mục tiêu cho quân Thiên Đức tập bắn mỗi khi đêm xuống, thậm chí có đêm, hàng trăm tiếng nổ nối tiếp nhau, như thể Thiên Đức sắp sửa đánh lớn. Các trại luôn trong tư thế sẵn sàng, nhưng thứ đón đợi các binh sĩ chỉ là màn đêm yên tĩnh.
Với hỏa mai và súng thần công, cộng thêm việc chiếm giữ địa hình thuận lợi, quân Thiên Đức nắm thế chủ động, khiến các tướng sĩ Siêu Loại chốt giữ gần Linh Sơn ngày cũng như đêm đều vô cùng căng thẳng.
Sau gần hai tháng kể từ ngày những tờ thông cáo xuất hiện ở Siêu Loại, Lý An mới dần nhận ra thâm ý của đối phương. Quân Thiên Đức liên tục động binh dai dẳng vào thời điểm gieo cấy vụ mùa. Việc Lý An huy động quân lính sẵn sàng giao chiến, cùng với việc thêm dân binh tại các làng, đã khiến công việc nhà nông bị ảnh hưởng đáng kể. Lý An vẫn cắt cử một phần quân sĩ tham gia trồng lúa, trồng hoa màu. Thế nhưng, bằng cách nào đó, chỉ trong một đêm, quân Thiên Đức đã phá hủy hơn một nửa số lúa và hoa màu mới trồng được hơn một tháng. Điều này buộc quân Siêu Loại sẽ phải tăng cường mua lương thực vào cuối năm.
Lý An vẫn không ngừng truy tìm gian tế Thiên Đức nhưng những kẻ ấy vẫn bặt vô âm tín.
Một buổi tối suy ngẫm, Lý An chợt để ý đến bộ cờ vua Lý Vạn Xuân mà vợ ông mang về hơn nửa tháng trước, giờ vẫn nằm ở góc bàn lớn. Ông mở hộp, bên trong có một tờ giấy nhỏ không hề ghi chữ. Ông chậm rãi xếp cờ và chợt nhận ra thiếu một quân vua đen. Tìm trên bàn và dưới gầm đều không thấy, ông bèn hỏi vợ xem ai đã biếu. Lý phu nhân đáp rằng kẻ mang bộ cờ đến biếu là một người đàn bà lớn tuổi, bà ấy nói được người ta trả công. Lý phu nhân đã cho gia nhân mở ra xem thử, nhưng không thấy có điều gì bất thường.
– Kẻ nào mà lại bí ẩn đến vậy? Vì sao biếu bộ cờ lại không lộ mặt? Ván cờ lại còn thiếu quân vua.
– Bà ta có nhắn với em rằng, Lý Sứ tướng tài trí hơn người ắt sẽ hiểu ẩn ý trong bộ cờ khi hơ trên lửa.
– Em đã thử chưa?
– Em thử rồi nhưng chẳng thấy có gì lạ cả.
Lý An trở về thư phòng ngồi thừ ra một lúc, ông hơ lần lượt từng quân cờ trên ngọn nến nhưng không phát hiện ra điều gì bất thường. Thậm chí khi hơ cả bàn cờ, ông cũng không thấy có điều gì kỳ lạ.
Thở dài một hơi, Lý An chợt nhìn thấy tờ giấy hình vuông ban nãy. Ông liền hơ thử và giật mình thất kinh khi những dòng chữ Hán tự dần hiện rõ.
义父 义女郑兰闺是莫将军的小妾。还有两个月义女就要临盆了。请义父原谅义女的重罪
Dịch nghĩa:
Nghĩa phụ,
Nghĩa nữ Trịnh Lam Khuê là thê thiếp của Mạc chủ tướng, hai tháng nữa nghĩa nữ sẽ lâm bồn. Xin nghĩa phụ tha cho nghĩa nữ trọng tội.
Chẳng rõ do trời nóng hay vì sợ hãi mà mồ hôi vẫn rịn ướt hai bên thái dương vị Sứ tướng.
Lý An run rẩy đọc đi đọc lại lá thư vài lần, trước khi châm lửa đốt đi.
– “Khốn nạn! Loạn thật rồi! Tên khốn Mạc Văn Chương đó chính là Mạc chủ tướng, không thể nào khác được. Chính hắn là kẻ đã làm ra bộ cờ này. Đúng rồi, chính hắn đã dùng thứ vũ khí kỳ lạ hạ sát đám giặc cướp. Sao ta lại không nghĩ ra điều này chứ? Con ơi là con, con đã dẫn rắn về nhà, bây giờ lại là thê thiếp của nó, đây là cớ sự gì? Nếu Lý Lệnh công mà biết được việc này, thật là đại họa giáng xuống Lý phủ! Tên khốn đó, chính hắn là kẻ đã bí mật đưa lễ vật đến cửa phủ ta. Quân của hắn đi lại trong vùng ta kiểm soát như chốn không người, rốt cuộc hắn là cao nhân phương nào vậy?”
Dù là người ngay thẳng nhưng Lý An cũng phải đào sâu chôn chặt bí mật này, ông không hề nói cho vợ mình hay biết.
Lý An thức thâu đêm suy tính. Sáng hôm sau, ông hỏi lại vợ về lời nói của vị đại sư trụ trì chùa Diên Ứng đã từng phán. Nghe xong, Lý An trở về thư phòng, tay chân run rẩy, sợ đến toát mồ hôi lạnh.
Bản văn này được biên tập và xuất bản bởi truyen.free, mọi hành vi sao chép khi chưa được cho phép đều là vi phạm bản quyền.