(Đã dịch) Xuyên Qua 1630 Chi Quật Khởi Nam Mĩ (Xuyên Việt 1630 Chi Quật Khởi Nam Mỹ) - Chương 40: Chương 40: Bình An Bảo (2)
Từ Văn Tuyển bước lên chiếc thuyền nước cạn, loại tải trọng 60 tấn, vốn dùng để chở tiếp viện phẩm đến mỏ than Bình An. Đây là mẫu thuyền nội hà tiêu chuẩn của Nước Cộng hòa Đông Ngạn, do Tạo Thuyền Hán tại Đại Ngư Hà chế tạo. Trước đây, những chiếc thuyền nội hà 18 tấn mang số hiệu từ 331 đến 336 chạy tuyến giữa mỏ than Bình An và Bình An Bảo đã bị chê là tải trọng thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu, nay chúng đã rút khỏi nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, chuyển sang chở khách.
Việc Từ Văn Tuyển đi thuyền đến mỏ than Bình An chẳng còn xa lạ gì. Với cương vị trợ lý chính vụ Bình An Bảo, hắn luôn xử lý đâu ra đấy mọi công việc do Tiền Hạo giao phó, lại có mối quan hệ tốt đẹp với đồng liêu. Tiền Hạo đã đôi ba lần phái hắn đến mỏ than nhằm giải quyết tranh chấp giữa thợ mỏ Thát Thản và người Qua Lạp Ni. Mỗi bận như vậy, hắn đều đi nhờ thuyền chở tiếp viện phẩm đến, rồi trở về bằng thuyền chở than.
Người Qua Lạp Ni, sau giai đoạn "tuần trăng mật" ban đầu với Đông Ngạn, đã bắt đầu nảy sinh những va chạm. Đặc biệt, kể từ khi trưởng lão A Á Kiều qua đời, mâu thuẫn giữa hai bên ngày càng trở nên gay gắt.
Thợ mỏ Thát Thản chỉ trích người Qua Lạp Ni đã tr���m cắp tinh than từ mỏ, đồng thời nhiều công cụ như xẻng cũng mất mát và đều liên quan đến họ. Chẳng những thế, họ còn tố cáo người Qua Lạp Ni bán lương thực, trái cây, thịt với giá tăng cao mà lượng lại giảm sút. Ngược lại, người Qua Lạp Ni cáo buộc người Đông Ngạn đào than trên đất của họ mà không hề chia lợi nhuận, đồng thời nước thải từ xưởng rửa than chỉ được xử lý sơ sài, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho dòng sông Than Đá Hà.
Bạch Thủy, quặng trưởng mỏ than, và Ngải Tra, xưởng trưởng xưởng rửa than, đã nhiều lần báo cáo tình hình lên Bình An Bảo. Tiền Hạo có phái người xuống xử lý, song chỉ là kiểu "đau đầu chữa đầu, đau chân chữa chân", chủ yếu trấn an người Qua Lạp Ni mà thôi. Khi trưởng lão A Á Kiều còn sống, hai bên còn biết kiềm chế. Nhưng sau khi ông qua đời, mâu thuẫn leo thang, những biện pháp trấn an trở nên kém hiệu quả.
Tiền Hạo thực sự đau đầu vì việc này. Trung ương vẫn chưa có chính sách rõ ràng đối với dân bản địa, bởi Chấp Ủy Hội bất đồng quan điểm: một số muốn trấn áp mạnh tay, uy hiếp; số khác lại muốn mượn sức kinh tế để dần đồng hóa họ. Chính sách không thống nhất như vậy khiến cấp dưới rơi vào tình cảnh lúng túng. Tiền Hạo muốn Bạch Thủy mạnh tay với những người Qua Lạp Ni gây rối, nhưng lại sợ vi phạm đường lối "chính trị chính xác" về dân bản địa, nên đành do dự, xử lý một cách ba phải.
Tuy nhiên, sau vụ Tra Lỗ Á tập kích Hạ Y Hà Bảo và luật Quốc thổ tài nguyên được ban hành, nhờ Từ Văn Tuyển nhắc nhở, Tiền Hạo đã nhận ra trung ương đã đổi hướng. Từ đó, mỏ than bắt đầu cứng rắn hơn với người Qua Lạp Ni, khiến mâu thuẫn bùng nổ dữ dội.
Mới hôm qua, mâu thuẫn đã đạt đến đỉnh điểm. An Đạt Mười Lăm, phó sở trưởng đồn công an mỏ than, người kế nhiệm Ngải Ngói Ni, đã bắt giữ vài người Qua Lạp Ni vì tội trộm công cụ trong đêm tuần tra. Họ vốn thường xuyên trộm công cụ rồi bán qua núi cho người Mã Mai Lư Khoa, khiến mỏ than liên tục mất mát tài sản. Trong lúc bắt giữ, một người Qua Lạp Ni rút đao phản kháng, làm một cảnh sát bị thương. Tức giận, An Đạt Mười Lăm đã chém chết kẻ đó, đánh đập mấy người còn lại rồi giam giữ, không chịu thả. Vụ việc này đã châm ngòi lửa giận, khiến hàng trăm người Qua Lạp Ni vây kín mỏ than và xưởng rửa than, làm cho sản xuất phải dừng hẳn.
Từ Văn Tuyển được Tiền Hạo khẩn cấp phái đến mỏ than để xử lý tranh chấp. Gần đây, một nhóm di dân Minh triều từ Bồ Đào Nha đã đến Phương Đông Cảng. Chấp Ủy Hội và Quốc vụ Viện dự kiến phân tán họ đến Bình An Bảo và mỏ than, làm công nhân dự bị cho các xưởng dệt, sắt thép, máy móc, công binh, lò gạch, xi măng, vôi, than tổ ong s���p được xây dựng. Nếu không giải quyết triệt để vấn đề Qua Lạp Ni, những di dân mới đến có thể sẽ gây ra nhiều sự kiện ác tính. Như Tiền Hạo đã từng nói: “Mất một di dân Minh triều chẳng khác nào ném 400 lượng bạc, đủ để ‘Ngày 10 tháng 8’ bắn mười mấy loạt pháo!”
Cơn gió đông nam cấp bốn, cấp năm thổi căng buồm chiếc thuyền vận chuyển, giúp thuyền rẽ nước, đạt tốc độ 4 hải lý. Dòng nước sông mát lành gợn sóng lăn tăn, cá thỉnh thoảng nhảy lên, và những cư dân ven sông nghiêng đầu nhìn chiếc thuyền lướt qua.
“Quả là vùng đất hoang dã mà phì nhiêu,” Từ Văn Tuyển không khỏi cảm thán. Nơi đây vượt xa sự cằn cỗi của Đại Minh. Bên phải, một chiếc thuyền chở khách 18 tấn vang lên tiếng hát trẻ thơ.
Từ Văn Tuyển mỉm cười. Đám trẻ phần lớn là con của thợ mỏ Thát Thản tại mỏ than. Dưới sự chỉ đạo và giảng giải của giáo dục bộ cùng Bình An Bảo, cha mẹ chúng đã đưa con đến trường tiểu học Bình An Bảo. Hơn 30 trẻ Thát Thản và hơn 40 trẻ di dân Minh triều đã tạo thành các lớp học từ lớp 1 đến lớp 5.
Ngược lại, chỉ có khoảng 7-8 trẻ Qua Lạp Ni được gửi đến trường, tất cả đều đến từ những gia đình bị bộ lạc kỳ thị, cô lập. Bất đắc dĩ, họ phải rời bộ lạc, đến Bình An Bảo kiếm sống dưới sự giúp đỡ của người Đông Ngạn. Từ Văn Tuyển thậm chí còn thuê một gia đình Qua Lạp Ni làm việc tại xưởng ép dầu mới mở trong thành.
Trường tiểu học Bình An Bảo áp dụng chế độ ký túc xá, giáo dục bắt buộc. Học sinh được giáo dục bộ lo liệu ăn, ở, trang phục và sách vở. Mỗi gia đình có con theo học tại trường còn được trợ cấp hàng năm, nhằm bù đắp cho việc mất đi sức lao động của trẻ. Trường học 5 ngày rưỡi: 5 ngày học văn hóa (ngữ văn, toán, tự nhiên, nghệ thuật, thể dục, tư tưởng chính trị); sáng thứ bảy là thời gian lao động hoặc huấn luyện tập thể, nhằm rèn giũa ý thức cộng đồng. 80 trẻ cùng ăn, ở, chơi, học, lao động, huấn luyện, nhờ vậy mà xây dựng nên tình bạn đơn thuần, đúng như kỳ vọng của giáo dục bộ.
Chiều thứ bảy, trẻ được nghỉ, về nhà đoàn tụ và giúp đỡ việc nhà. Hôm nay là th��� bảy, trẻ Bình An Bảo giải tán tại chỗ, còn trẻ Thát Thản thì được thuyền chở về mỏ than. Chiếc thuyền chở khách số 335, tải trọng nhẹ, đạt tốc độ 4 hải lý, ngang bằng thuyền của Từ Văn Tuyển. Hắn quan sát kỹ.
Hơn 30 trẻ ngồi ngay ngắn trên boong, hai cảnh sát cầm súng tựa vào lan can, làm bảo tiêu. Cả hai đều từ đồn công an Bình An Bảo, là di dân Minh triều năm trước, quen biết Từ Văn Tuyển. Chán chường, một cảnh sát lấy kẹo chocolate (làm từ ca cao, đường mía, hạt khô) ra trêu trẻ hát.
Kẹo chocolate được bán ở Bình An Bảo, do một di dân Minh triều làm thủ công, tạo hình người, động vật, rất được trẻ em yêu thích, giúp anh ta kiếm được kha khá tiền. Quả nhiên, trẻ Thát Thản không cưỡng lại được, hát theo lời trêu đùa của cảnh sát. Chúng hát quốc ca Ca Xướng Tổ Quốc, ban đầu còn hỗn loạn, dần dà thì đồng điệu. Dưới sự khuyến khích, trẻ dốc sức hát bài ca kéo cờ quen thuộc mỗi ngày.
“…Ca xướng tổ quốc thân ái, từ đây hướng phồn vinh phú cường…” Từ Văn Tuyển, lắng nghe tiếng trẻ, nhìn biểu cảm nghiêm túc của chúng, cảm nhận linh hồn mình rung động.
Hát xong Ca Xướng Tổ Quốc, trẻ tiếp tục hát Thắng Lợi Thuộc Về Lục Quân và Đông Ngạn Chi Ưng Ở Phía Trước Tiến. Xong xuôi, hai cảnh sát, giữa tiếng hoan hô, phát kẹo cho từng trẻ.
Từ Văn Tuyển mỉm cười. Là trợ lý chính vụ, hắn biết rõ kẹo này do giáo dục bộ mua, phát xuống, số lượng khớp với số trẻ.
Có trẻ đồng hành, hành trình ba giờ đồng hồ không hề tẻ nhạt. Thuyền dừng tại bến Than Đá Hà, Từ Văn Tuyển chỉnh trang dung mạo, bước lên bến. An Đạt Mười Lăm, phó sở trưởng đồn công an mỏ than, đã đợi sẵn từ lâu.
Bản văn này, đã được chắp bút chuyển ngữ độc quyền, chỉ thấy tại truyen.free.