(Đã dịch) Tân Hợi Đại Quân Phiệt - Chương 310: Đợt thứ hai viện trợ kế hoạch
Kế hoạch viện trợ đợt hai mà Quốc dân quân đàm phán với phía Mỹ bao gồm hai lĩnh vực: Hải quân và Lục quân. Trong đó, kế hoạch viện trợ Hải quân gồm khoảng bốn điểm chính:
Điểm thứ nhất, cũng là nội dung trọng tâm của kế hoạch, là việc Mỹ tiếp tục viện trợ Trung Quốc xây dựng các nhà máy sản xuất vũ khí và đạn dược cần thiết cho Hải quân. Trước đây, trong kế hoạch viện trợ đã đầu tư quy mô lớn vào Nhà máy Vũ khí Thượng Hải. Lần này, phía Hải quân mong muốn tiến hành nâng cấp công nghệ với quy mô lớn hơn cho nhà máy này, giúp nhà máy đủ khả năng sản xuất hàng loạt pháo hạm 6 inch, thậm chí kỳ vọng có thể sản xuất pháo 8 inch, đồng thời hoàn thiện quy trình sản xuất các loại đạn dược và tiếp nhận công nghệ sản xuất ngư lôi từ Mỹ. Mục tiêu là biến Nhà máy Vũ khí Thượng Hải thành một xưởng lớn, hiện đại và chuyên dụng của Hải quân.
Điểm thứ hai là việc Mỹ viện trợ Trung Quốc xây dựng và mở rộng các căn cứ hải quân, bao gồm cảng Phúc Châu, cảng Tượng Sơn, cảng Thượng Hải và cảng Quảng Châu. Các căn cứ này sẽ được xây dựng, nâng cấp với quy mô nhất định, lắp đặt thêm thiết bị và sửa chữa, nhằm đảm bảo khả năng neo đậu các tàu chiến lớn, hiện đại. Thực tế, Trung Quốc có rất nhiều cảng biển tự nhiên thích hợp cho quân sự quy mô lớn, nhưng đa số đều bị các cường quốc chiếm đóng, ví dụ như Lữ Thuận, Uy Hải Vệ, Thanh Đảo – tất cả đều là những cảng quân sự tuyệt vời. Hiện tại, nếu Hải quân Trung Quốc muốn neo đậu tàu chiến thì chỉ có thể sử dụng các bến cảng nhỏ, hoặc phải mở thêm các cảng quân sự mới. Cảng Tượng Sơn được mở vào cuối thời Thanh là một ví dụ, tuy nhiên cảng này có nhiều hạn chế lớn, khó có thể trở thành căn cứ chính trong tương lai của hạm đội Trung Quốc. Tuy nhiên, chuyện tương lai còn xa. Mấy năm qua, Trần Kính Vân đã sớm thu hồi lại những cảng quân sự bị nước ngoài chiếm đóng. Hiện tại, Hải quân chỉ cần bảo trì, sửa chữa và nâng cấp vài bến cảng hiện có, không cần tiến hành các công trình xây dựng cơ bản quá lớn, chỉ cần sử dụng được là đủ.
Điểm thứ ba là việc Bộ Hải quân Quốc dân mời các chuyên gia Mỹ hỗ trợ thiết kế tàu cần cẩu (tàu trục vớt) và các loại tàu phóng lôi cỡ nhỏ trọng tải vài trăm tấn do Trung Quốc tự đóng. Phía Mỹ sẽ cung cấp hỗ trợ kỹ thuật liên quan cho việc tự đóng các loại tàu quân sự nhỏ này. Mặc dù đã quyết định tự chủ đóng tàu cần cẩu và tàu phóng lôi cỡ nhỏ, nhưng có sự hỗ trợ của Mỹ trong quá trình nội địa hóa sản phẩm sẽ dễ dàng hơn nhiều. Việc tự mình vùi đầu nghiên cứu, gian khổ làm ra sản phẩm chỉ phù hợp khi không có nguồn kỹ thuật từ bên ngoài. Hiện tại, chưa có quốc gia nào tiến hành cái gọi là "phong tỏa kỹ thuật" đối với Trung Quốc. Xét về môi trường quốc tế, hoàn cảnh của Trung Quốc vào cuối thời Thanh và đầu thời Dân quốc tốt hơn nhiều so với "Trung Quốc đỏ" sau năm 1949. Có tiền thì về cơ bản có thể mua được mọi thứ, đừng nói đến kỹ thuật tàu cần cẩu nhỏ bé, ngay cả tàu chiến đấu – những vũ khí trấn quốc này – cũng có thể mua về!
Điểm thứ tư là Hải quân Trung Quốc sử dụng khoản vay lần này để tiếp tục đặt hàng một chiếc tuần dương hạm hạng nhẹ từ Mỹ. Đây là nỗ lực của Bộ Hải quân, bởi họ cho rằng sau khi các tuần dương hạm hạng nhẹ của Mỹ về nước, ba chiếc tàu hiện có sẽ không đủ để tổ chức một đại đội tuần dương hạm. Do đó, cần mua thêm một chiếc nữa để có đủ bốn chiếc, chia thành hai phân đội tuần dương hạm thứ ba và thứ tư, cùng nhau tạo thành đại đội tuần dương hạm thứ hai, và cùng với đại đội tuần dương hạm hạng nặng (sau này) và đại đội tàu cần cẩu thứ hai, hợp thành hạm đội tuần dương hạm tốc độ cao.
Bốn kế hoạch lớn của Hải quân này khá phức tạp, hơn nữa, ngoại trừ việc mua sắm một chiếc tuần dương hạm hạng nhẹ ở điểm thứ tư là giao dịch một lần, ba điểm còn lại đều là kế hoạch hợp tác lâu dài. Các sự vụ liên quan vô cùng phức tạp, không thể giải quyết trong một sớm một chiều.
So với kế hoạch viện trợ Hải quân phức tạp hơn nhiều, kế hoạch viện trợ cho Lục quân lại tương đối đơn giản hơn rất nhiều. Lần trước, Trần Kính Vân đã bỏ ra một số tiền lớn, về cơ bản mua về tất cả những gì cần mua, ví dụ như pháo dã chiến 75 mm và công nghệ sản xuất loại pháo này cho Lục quân; rồi công nghệ sản xuất pháo lựu 105 mm, pháo 105 ly; thậm chí còn "đào" được từ Pháp một bộ công nghệ sản xuất lựu pháo 155 mm cùng đầy đủ các loại bản vẽ. Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu vật liệu cho việc chế tạo các loại pháo này, Trần Kính Vân còn mua một số lượng lớn vật liệu thép độc quyền và các công nghệ khác cho Nhà máy Thép Đông Nam. Có thể nói, trước đây ông đã bỏ ra một khoản tiền lớn để mua tất cả những kỹ thuật có thể bán được thông qua hình thức chuyển giao công nghệ. Những công nghệ này không phải là mặt hàng tiên tiến gì đối với các doanh nghiệp công nghiệp quân sự của Mỹ; các loại pháo cũng không phải là loại mới nhất, mà chỉ là những sản phẩm cũ kỹ, đã trưởng thành. Thêm vào đó, vào đầu năm nay, Quốc hội Mỹ cũng không thể quản lý các nhà tư bản của mình; họ muốn bán gì thì bán. Vì vậy, mặc dù chi phí để đưa những tài liệu kỹ thuật này về là rất lớn, nhưng lại không gặp phải bất kỳ trở ngại nào.
Tuy nhiên, việc mua về những tài liệu và bản vẽ kỹ thuật này không có nghĩa là Trung Quốc đã ngay lập tức đủ khả năng nghiên cứu, chế tạo và sản xuất các loại pháo cỡ nòng lớn. Mọi thứ vẫn phải tiến từng bước một, chậm rãi. Có bản vẽ kỹ thuật chỉ là để chỉ cho bạn biết phải làm thế nào, đến đâu thì rẽ hướng, chứ không phải trực tiếp giúp bạn "một bước lên trời". Ngay cả khi có đầy đủ bản vẽ kỹ thuật để tham khảo, không có mười năm hay tám năm thì đừng nghĩ đến việc xây dựng được một chuỗi sản xuất công nghiệp quốc ph��ng hoàn chỉnh. Bản vẽ kỹ thuật, thiết bị, thậm chí tiền bạc đều dễ nói, nhưng mấu chốt là thiếu hụt số lượng lớn công nhân công nghiệp lành nghề, và càng thiếu các chuyên gia kỹ thuật cấp cao. Không có những nhân tài này, dù có đưa bản vẽ kỹ thuật cho bạn cũng không thể hiểu rõ được. Hiện nay, Nhà máy Vũ khí Phúc Châu có quy mô như vậy là nhờ vào việc đào tạo đông đảo kỹ sư và công nhân từ Xưởng đóng tàu Mã Vĩ trước đây. Sau này, Nhà máy Vũ khí Quảng Đông và Nhà máy Vũ khí Thượng Hải có thể nhanh chóng khôi phục sản xuất cũng là nhờ có nền tảng vững chắc từ trước. Còn bây giờ, nếu muốn xây dựng và mở rộng quy mô lớn, thì đòi hỏi cả hệ thống công nghiệp của Trung Quốc phải được nâng cấp toàn diện, điều này không thể hoàn thành trong một hoặc hai năm.
Về mặt kỹ thuật, mọi thứ không thể vội vàng được. Nhà máy Vũ khí Phúc Châu cùng các đơn vị trực thuộc như Nhà máy Vũ khí Thượng Hải, Nhà máy Vũ khí Quảng Châu sẽ không thể có sự thay đổi lớn trong thời gian ngắn, cũng không thể ngay lập tức sản xuất ra một lượng lớn các loại pháo cỡ nòng lớn cho Quốc dân quân. Cần biết rằng, cho đến nay, Nhà máy Vũ khí Phúc Châu chỉ có khả năng sản xuất pháo dã chiến 75 mm với nòng dài gấp 14 lần đường kính. Ngay cả pháo dã chiến 75 mm nòng dài gấp 30 lần đường kính cũng chỉ đang trong giai đoạn thử nghiệm sản xuất quy mô nhỏ; việc sản xuất hàng loạt vẫn cần thêm một thời gian nữa. Các loại pháo lớn hơn như lựu pháo và pháo 105 mm vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu chế tạo ban đầu. Các loại lựu pháo và pháo hạng nặng 125 mm, thậm chí lựu pháo hạng nặng 155 mm hiện tại còn chưa bắt đầu nghiên cứu chế tạo sơ bộ, nói gì đến việc đưa vào sử dụng trong thời gian ngắn.
Có lẽ quý vị sẽ cảm thấy bối rối với các tên gọi như pháo dã chiến, lựu pháo, pháo núi, pháo thông thường. Nói một cách đơn giản, vào thời Dân quốc, pháo dã chiến còn được gọi là lựu pháo, còn pháo núi thì chính là pháo, chỉ là cách gọi khác nhau ở mỗi nơi mà thôi. Lựu pháo và pháo được phân chia dựa trên tỷ lệ chiều dài nòng và đường kính, và tiêu chuẩn phân chia này cũng khác nhau trong mỗi giai đoạn. Ví dụ, vào năm 1913, nòng lựu pháo thường dài gấp 10 đến 20 lần đường kính; pháo dùng trên đất liền thì khoảng 30 lần; pháo hạm của Hải quân có nòng dài hơn nhiều, phổ biến là 40, 45 lần trở lên, một số ít pháo hạm thậm chí đạt trên 50 lần. Độ khó chế tạo của chúng cũng tăng theo chiều dài nòng. Nói đơn giản, lựu pháo nòng ngắn có yêu cầu thấp nhất về nòng pháo và kỹ thuật đơn giản nhất; pháo hạm lại đòi hỏi nghiêm ngặt nhất về vật liệu nòng, đồng thời yêu cầu tốc độ bắn cực cao, nên cũng là loại khó nghiên cứu chế tạo nhất.
Như vậy, quý vị có thể thấy, bỏ qua yếu tố thiết kế, điểm khó khăn kỹ thuật quan trọng nhất của pháo nằm ở nòng pháo, tức là loại thép dùng để chế tạo pháo – hay nói cách khác là vật liệu thép đặc chủng. Do đó, bất kể Quốc dân quân muốn chế tạo loại pháo nào, đều phải phụ thuộc vào tiến độ của Nhà máy Thép Đông Nam. Khi nào nhà máy này có thể sản xuất ra vật liệu thép đặc chủng đạt tiêu chuẩn, thì Nhà máy Vũ khí Phúc Châu mới có thể tiến hành công việc mô phỏng chế tạo dựa trên các bản vẽ. Còn hiện tại, chỉ có thể ưu tiên sản xuất hàng loạt pháo dã chiến 75 mm.
Việc trang bị các loại vũ khí hạng nặng này không thể vội vã. Thêm vào đó, Quốc dân quân cũng không có nhu cầu cấp bách đối với các loại pháo cỡ nòng lớn này. Ngược lại, họ cần một khoản chi phí quân sự lớn để mua đạn dược, bất kể là dùng cho huấn luyện hay để dự trữ vật tư tác chiến, đều cần mua sắm một lượng lớn đạn dược.
Hiện tại, Quốc dân quân đang rất cần tiền. Với số lượng quân đội đông đảo như vậy, việc duy trì binh sĩ đã rất khó khăn, hơn nữa có thể dự đoán rằng họ sẽ còn phải giao chiến quy mô lớn với quân Bắc Dương. Nếu không có tiền thì không thể làm được. Quân Bắc Dương có thể dựa vào các khoản vay lớn để duy trì hoạt động, còn Quốc dân quân lại không có nhiều tiền mặt đến thế. Do đó, Trần Kính Vân chỉ có một yêu cầu duy nhất đối với kế hoạch viện trợ Lục quân này, đó là tiền mặt, càng nhiều càng tốt. Sau đó, ông sẽ dùng số tiền này làm chi phí quân sự.
Theo yêu cầu của Trần Kính Vân, Quốc dân quân đã lần lượt triển khai đàm phán với phía Mỹ. Trải qua hơn một tháng đàm phán, kế hoạch viện trợ Hải quân không có quá nhiều khác biệt, tổng chi phí dự kiến khoảng 10 triệu đô la cho các hạng mục. Tuy nhiên, kế hoạch viện trợ Lục quân lại có sự khác biệt rất lớn giữa hai bên. Phía Mỹ đương nhiên mong muốn Trung Quốc sử dụng khoản vay viện trợ để mua sắm số lượng lớn súng ống, đạn dược và các thiết bị công nghiệp khác từ Mỹ. Nhưng Trần Kính Vân lại kiên quyết đòi một lượng lớn tiền mặt. Sự khác biệt này đã khiến cuộc đàm phán kéo dài hơn một tháng, cho đến vài ngày trước mới hoàn thành. Sau khi đàm phán kết thúc, trong kế hoạch viện trợ Lục quân, Mỹ đã cung cấp tổng cộng 40 triệu đô la vay, trong đó 10 triệu đô la phải được dùng để mua sắm súng ống, đạn dược hoặc các thiết bị công nghiệp khác tại Mỹ. 30 triệu đô la còn lại có thể sử dụng cho chi phí quân sự nội bộ dưới sự giám sát của Mỹ, nhưng không được dùng để mua súng ống, đạn dược hoặc thiết bị công nghiệp từ các quốc gia khác; chỉ có thể sử dụng cho chi phí quân sự nội bộ và mua sắm vật tư trong nước.
Tổng cộng, khoản viện trợ kết hợp cho Hải quân và Lục quân đạt 50 triệu USD. Lần này, 50 triệu đô la này không phải là khoản vay không thế chấp mà cần có tài sản đảm bảo. Để có được số tiền đó, Trần Kính Vân đã đưa chính quyền muối của tỉnh Chiết Giang ra làm thế chấp. Hơn nữa, ông còn hứa hẹn mở cửa thị trường trong khu vực do Quốc dân quân kiểm soát, đảm bảo các sản phẩm của Mỹ và doanh nghiệp Mỹ được lưu thông tự do, không bị áp đặt các loại thuế mang tính phân biệt đối xử.
“Quốc hội nước tôi đã phê chuẩn kế hoạch viện trợ này!” Tại Thượng Hải, William James trực tiếp phụ trách đàm phán kế hoạch viện trợ lần này. Sau khi đàm phán hoàn tất, ông lập tức báo cáo về nước. Kế hoạch viện trợ Trung Quốc đợt hai này, tuy rất quan trọng đối với William James và Trần Kính Vân, nhưng đối với nội bộ nước Mỹ mà nói, nó chẳng qua là cái giá phải trả để mở cửa thị trường Trung Quốc, không đáng để tâm lắm. Thêm vào đó, lúc này tại châu Âu, tình hình đã "gió nổi mây vần", chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Trong bối cảnh đó, sự chú ý của Mỹ không còn tập trung vào cục diện Trung Quốc như năm trước nữa. Vì vậy, họ đã nhanh chóng phê chuẩn kế hoạch này rồi giao cho William James cùng những người khác xử lý, không còn gây ra sóng gió lớn như năm trước.
Nghe tin kế hoạch được phê chuẩn, Trần Kính Vân cũng cảm thấy yên tâm! Chiến tranh vào đầu năm nay là cuộc so tài xem ai có nhiều tiền hơn. Viên Thế Khải đang nắm trong tay khoản vay lớn lên đến gần trăm triệu đồng, đã "mài dao" sẵn sàng nam tiến bất cứ lúc nào. Mặc dù Quốc dân quân cũng đang ráo riết chuẩn bị, các loại vật tư quân sự cũng được tăng cường mua sắm, nhưng vật tư dự trữ ở tiền tuyến càng nhiều thì số tiền chi ra càng lớn. Quốc dân quân tuy nắm giữ nhiều địa bàn và có thu nhập tài chính vượt trội so với Bắc Dương, nhưng cũng không thể chịu nổi việc tiền cứ trôi đi như nước chảy không ngừng.
Hiện tại, với khoản vay viện trợ đợt hai từ Mỹ, trong tay ông đã có thêm hàng chục triệu khoản tiền. Có số tiền này, ông sẽ không cần quá lo lắng khi giao chiến trong tương lai nữa!
Trong các tháng Tư, Năm, Sáu năm 1913, bất kể là Bắc Dương hay Quốc dân quân đều chi tiền mạnh tay. Một lượng lớn tiền được chi ra để mua sắm đủ loại súng ống, pháo, đạn pháo, thậm chí cả quân lương, quân phục... tất cả các vật tư tác chiến đều được họ mua sắm! Việc chi nhiều tiền để tích trữ quân sự vật tư quy mô lớn như vậy, đương nhiên không phải để trưng bày, mà là để chuẩn bị cho một trận quyết chiến sinh tử!
Sau khi cuộc chiến Hoàn Cán kết thúc và những người thuộc đảng cách mạng thất bại, mâu thuẫn giữa Quốc dân quân và quân Bắc Dương ngày càng trở nên rõ ràng. Một cuộc quyết chiến sinh tử giữa hai bên có thể bùng nổ bất cứ lúc nào, và một khi bùng nổ, đó sẽ là cuộc đại chiến quyết định vận mệnh tương lai của Trung Quốc.
Bản biên tập này thuộc về truyen.free, nơi những câu chuyện tuyệt vời được chắp cánh.