(Đã dịch) Tân Hợi Đại Quân Phiệt - Chương 346: Sào Hồ kịch chiến (ba)
Trấn Đông Nhốt, nằm cách Sào Hồ hơn mười dặm về phía đông nam, đang chật ních những binh lính Quốc Dân Quân trong quân phục màu xanh lục. Đúng như tên gọi của nó, trấn Đông Nhốt là một vị trí chiến lược quan trọng, được xem như cửa ngõ phía đông nam của Sào Hồ. Đây cũng là trấn đầu tiên mà những người từ đồng bằng ven sông Trường Giang thường đi vào khu vực đồi núi gần Sào Hồ. Chiếm được trấn này, quân đội có thể theo dòng sông Dụ Suối tiến thẳng về phía tây bắc, đến thành Sào Hồ rồi tiếp tục tiến vào lòng hồ. Giá trị quân sự của nó về cơ bản tương đương với cửa sông Dụ Suối – nơi giao nhau giữa sông Dụ Suối và Trường Giang. Tuy nhiên, cửa sông Dụ Suối nằm ven bờ Trường Giang, và với việc liên quân phía Nam kiểm soát Hải quân, khu vực này chắc chắn sẽ phải hứng chịu pháo kích dữ dội từ phía Hải quân. Vì vậy, quân Bắc Dương đã quyết định không thiết lập chướng ngại vật tại cửa sông Dụ Suối, mà chỉ bố trí một đội quân nhỏ để giám sát. Sau khi Quốc Dân Quân quy mô lớn vượt sông, những đội quân kỵ binh du kích này lập tức rút lui về hướng Sào Hồ.
Theo dự đoán của các Tham mưu trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn thứ Hai, nếu quân Bắc Dương cố thủ cửa sông Dụ Suối thì chắc chắn sẽ tự chịu diệt vong, việc không cố thủ là hợp tình hợp lý. Và nếu đã không cố thủ cửa sông Dụ Suối, vậy quân Bắc Dương có khả năng sẽ lui về phòng thủ tại khu vực trấn Đông Nhốt, tận dụng địa hình đồi núi để bố trí phòng tuyến, tạo thành trận địa đầu tiên ngăn chặn Quốc Dân Quân tiến về phía Bắc.
Thực tế, mệnh lệnh mà Bộ Chỉ huy Quân đoàn thứ Hai gửi cho Sư đoàn thứ Chín cũng là nhanh chóng tiến về phía Bắc, công chiếm trấn Đông Nhốt, nhằm tạo một đầu cầu quan trọng để đại quân tiếp tục tiến dọc sông Dụ Suối hướng về Sào Hồ. Trang Lưu cũng dự đoán tại đây có thể sẽ diễn ra một trận đánh ác liệt, vì vậy ông ta đã cực kỳ thận trọng, đợi đến khi bộ đội chủ lực đến nơi mới quyết định đánh chiếm trấn Đông Nhốt, chứ không hề hạ lệnh cho Sư đoàn Bộ binh 92 – đơn vị tiên phong của toàn quân – rằng phải bằng mọi giá phá được trấn này.
Tuy nhiên, diễn biến tình hình lại nằm ngoài dự liệu của Trang Lưu. Trung đoàn 92 ở tiền tuyến thậm chí còn chưa điều động lực lượng chủ lực, chỉ dùng vỏn vẹn một tiểu đoàn đã chiếm được phần lớn trận địa tiền tuyến của trấn Đông Nhốt. Doanh trưởng tiểu đoàn Tiền Phong – Lạc Hiền – báo cáo rằng, đêm qua, hơn ngàn quân kỵ binh du kích của Bắc Dương đang phòng thủ trấn Đông Nhốt đã biến mất không dấu vết, chỉ còn lại chưa đầy vài trăm binh lính già nua, yếu ớt thuộc Sư đoàn Bộ binh số 3 của tỉnh An Huy. Tiểu đoàn một chỉ tốn chưa đầy ba giờ đã đánh tan hoàn toàn lực lượng này và lập tức kiểm soát trấn Đông Nhốt.
Mặc dù kết quả không giống với dự đoán của Trang Lưu và cả nhiều sĩ quan Tham mưu trong Bộ Chỉ huy Quân đoàn thứ Hai – khi quân Bắc Dương không những không cố thủ trấn Đông Nhốt mà trái lại còn từ bỏ, lựa chọn rút lui trước khi giao chiến – điều này khiến Quốc Dân Quân từ cấp cao đến cấp thấp rất khó hiểu. Tuy nhiên, nó không ảnh hưởng đến bước tiến quân bình thường của Sư đoàn thứ Chín. Dù sao, Sư đoàn thứ Chín vốn dĩ muốn chiếm lấy trấn Đông Nhốt, và việc chiếm được bây giờ vẫn là một điều tốt. Thế nhưng, Trang Lưu vẫn cực kỳ cẩn trọng, đã báo cáo chi tiết sự việc trấn Đông Nhốt lên Bộ Chỉ huy Quân đoàn thứ Hai, đồng thời nhấn mạnh rằng việc chiếm được trấn này không phải do chiến lực mạnh mẽ của quân mình, mà là do quân Bắc D��ơng chủ động rút lui.
Việc quân Bắc Dương tạm thời từ bỏ một vị trí trọng yếu như vậy chắc chắn phải có nguyên nhân đằng sau. Mặc dù Lạc Hiền ở tiền tuyến, và cả Trang Lưu ở phía sau, đều không biết rốt cuộc vì sao quân Bắc Dương lại hành động như vậy, nhưng họ đều hiểu rằng đằng sau chuyện này nhất định ẩn chứa một lý do nào đó, chỉ là họ chưa rõ đó là lý do gì.
Sau khi chiếm được trấn Đông Nhốt, Tiểu đoàn một – đơn vị tiên phong – không hề dừng lại. Chiều cùng ngày, tiểu đoàn đã rời trấn Đông Nhốt và lập tức tiếp tục tiến quân về phía tây bắc, với mục tiêu là trấn Rừng Đầu. Thực tế, ngay khi Tiểu đoàn một tiên phong vừa đi, lực lượng chủ lực còn lại của Trung đoàn Bộ binh 92 ở phía sau cũng tiếp tục tiến về phía Bắc. Nếu nhìn trên bản đồ, có thể thấy hướng tiến quân của Sư đoàn thứ Chín rất rõ ràng: đó là tiến dọc theo sông Dụ Suối.
Điểm này không phải không có lý do, và lý do cũng rất đơn giản: đó chính là vấn đề vận chuyển hậu cần. Sông Dụ Suối tuy không lớn, nhưng cũng đủ sức đ��m nhiệm một phần vận chuyển vật tư quân sự. Hơn nữa, vận chuyển bằng đường sông dù sao cũng thuận tiện hơn rất nhiều so với vận chuyển bộ hành. Ở một mức độ nào đó, việc Quốc Dân Quân coi Vũ Hồ là hướng tấn công chủ yếu, và Sào Hồ là mục tiêu chiến lược đầu tiên, cũng chính là vì sự tồn tại của sông Dụ Suối.
Do sông Dụ Suối nối liền với Trường Giang, Bộ Hậu cần Quốc Dân Quân có thể tận dụng con sông nhỏ này để vận chuyển tiếp tế cho đại quân ở tiền tuyến. Tuy khối lượng vận chuyển không thể đáp ứng hoàn toàn nhu cầu của tiền tuyến, nhưng cũng giải quyết được một phần đáng kể. Với sự hiện diện của Hải quân Quốc Dân Quân, chỉ cần kiểm soát được hai bờ sông Dụ Suối, quân đội có thể đi qua sông này để vào Sào Hồ, rồi thẳng tiến đến Hợp Phì ở bờ bắc Sào Hồ, liên tục cung cấp tiếp tế cho đại quân hướng Hợp Phì bằng các thuyền vận tải cỡ nhỏ.
Trong thời đại này, việc tác chiến của quân đội cực kỳ phụ thuộc vào tuyến vận chuyển hậu cần. Không có một tuyến hậu cần vững chắc và hiệu quả, rất khó để duy trì các cuộc chiến đấu quy mô lớn của đại quân tiền tuyến. Sự phiền toái của việc vận chuyển bộ hành trên đường bộ đã được Quốc Dân Quân trải nghiệm nhiều lần. Khi tấn công Hoàn Nam và Giang Tây, để cung cấp đủ tiếp tế hậu cần cho hàng vạn đại quân ở tiền tuyến, Bộ Hậu cần đã phải huy động đến sáu, bảy vạn dân phu. Họ dùng đủ mọi phương thức như gánh vác, xe cút kít, vượt đèo lội suối để vận chuyển tiếp tế. Điều này không chỉ khiến Bộ Hậu cần đau đầu mà còn tiêu tốn một khoản kinh phí khổng lồ, chỉ riêng chi phí ăn ở cho số dân phu này đã là một gánh nặng lớn.
Cũng trong tháng Bảy, sau khi Trần Kính Vân tuyên bố Bắc phạt, Quốc Dân Quân từ các hướng Việt Bắc và Giang Tây tiến công Hồ Nam, chủ yếu dựa vào tiếp tế bộ hành đường bộ, khiến Bộ Hậu cần vô cùng khốn khổ. Vì vậy, khi soạn thảo kế hoạch tác chiến vượt sông tại Hoàn Nam, Tôn Quảng Minh đã nghiêm túc nói với các tướng lĩnh bộ binh – những người thường không biết tiết kiệm đạn dược, cứ hết đạn là đòi Bộ Hậu cần – rằng: Nếu phát động tác chiến vượt sông quy mô lớn tại khu vực Hoàn Nam với hơn sáu sư đoàn vượt sông, và khi khoảng cách vượt quá 300 km từ bờ sông Trường Giang, Bộ Hậu cần sẽ không thể đảm bảo việc cung ứng vật tư cho các đơn vị tiền tuyến. Ngay cả khi các nhà máy vũ khí phía sau liên tục sản xuất đạn dược, Bộ Hậu cần cũng không đủ năng lực vận tải để đưa chúng ra tiền tuyến.
Trong các tuyến vận chuyển tiếp tế của Quốc Dân Quân, việc vận chuyển quân lương tương đối đơn giản. Ngoài việc thu được nhiều lương thực thuế má tại các vùng kiểm soát, Quốc Dân Quân còn nhập khẩu một lượng lớn lương thực từ Đông Nam Á. Số lương thực này, theo nguyên tắc gần nhất, sẽ do Bộ Hậu cần điều phối cho các đơn vị. Còn đối với các vật tư quân sự cần sản xuất công nghiệp như quân phục, quân giày, đạn dược, súng ống, khí giới, v.v., các nhà máy sản xuất thường đặt tại các thành phố ven biển như Phúc Châu, Chiết Giang, hay các thành phố lớn như Thượng Hải. Việc điều vận ra bên ngoài chủ yếu thông qua đường biển, và tập trung vận chuyển đến các kho hàng lớn tại Quảng Châu, Thượng Hải, Nam Kinh. Vì lẽ đó, Bộ Hậu cần đã thành lập các trung tâm điều phối vật tư hậu cần quy mô lớn tại Thượng Hải, Nam Kinh, Quảng Châu. Sau đó, từ những trung tâm này, vật tư sẽ được phân phối đến các đơn vị bằng nhiều phương tiện giao thông khác nhau. Đối với các đơn vị tiến quân tại Hoàn Nam, Giang Tây và Hồ Nam, việc vận chuyển vật tư hậu cần chủ yếu dựa vào đường sông Trường Giang. Thường xuyên có một hoặc hai chiếc pháo hạm hộ tống một đoàn tàu vận tải lớn đến Vũ Hồ, An Khánh, hoặc thậm chí khu vực Cửu Giang để vận chuyển vật tư. Chẳng hạn, vật tư vận chuyển đến Giang Tây và Hồ Nam thường đi theo đội tàu xuất phát từ Thượng Hải hoặc Nam Kinh, sau đó dưới sự hộ tống của pháo hạm Hải quân sẽ đến Cửu Giang. Từ Cửu Giang, chúng được vận chuyển bằng đường sắt đến Nam Xương; hoặc các thuyền vận tải cỡ nhỏ hơn cũng sẽ đi thẳng vào hồ Bà Dương để đến Nam Xương, rồi từ đó vận chuyển đến các đơn vị ở tiền tuyến.
Thực tế, ngoài việc thỉnh thoảng yểm trợ hỏa lực cho Lục quân, đại đa số nhiệm vụ của đông đảo chiến hạm Hải quân đóng quân trên Trường Giang lại là hộ tống các chuyến vận chuyển vật tư của Bộ Hậu cần.
Ở một mức độ nào đó, hệ thống vận chuyển hậu cần hiện tại của Quốc Dân Quân được xây dựng dựa trên đường biển và đường sông, trong khi vận chuyển hậu cần của quân Bắc Dương lại dựa vào đường sắt.
Do hệ thống hậu cần vận chuyển phụ thuộc nghiêm trọng vào đường biển và đường sông, Quốc Dân Quân không chỉ tự mình sản xuất và đặt hàng một lượng lớn các loại tàu vận tải, mà còn tích cực ủy thác nghiệp vụ vận chuyển cho các đội tàu dân sự. Đội tàu dân sự này chính là Công ty Vận tải Thái Bình Dương trực thuộc Ngân hàng Trung Quốc. Về cơ bản, việc vận chuyển đường biển trong hệ thống hậu cần của Quốc Dân Quân, đặc biệt là đoạn từ Phúc Châu đến Thượng Hải và Quảng Châu, đều do Công ty Vận tải Thái Bình Dương độc quyền đảm nhiệm. Vì thế, công ty này đã thu mua một lượng lớn tàu vận tải có sẵn từ bên ngoài, đồng thời đặt nhiều đơn hàng đóng tàu vận tải tại hai nhà máy đóng tàu trong nước là Mã Vĩ và Giang Nam.
Khác với các công ty vận tải khác trong nước, nghiệp vụ vận chuyển hành khách chỉ là một phần rất nhỏ của Công ty Vận tải Thái Bình Dương, công ty này cũng chỉ khai thác một số ít tuyến đường biển nội địa, ví dụ như tuyến Thượng Hải – Phúc Châu – Quảng Châu. Nghiệp vụ chính của Công ty Vận tải Thái Bình Dương là vận chuyển hàng hóa, bao gồm cả vật tư quân sự lẫn một phần vật tư dân sự. Chẳng hạn, phần lớn các nghiệp vụ vận chuyển hàng hóa của nhiều doanh nghiệp trực thuộc Ngân hàng Trung Quốc cơ bản đều do Công ty Vận tải Thái Bình Dương đảm nhận.
Có thể nói, vấn đề hiện tại của Công ty Vận tải Thái Bình Dương không phải là thiếu nghiệp vụ, mà là không đủ năng lực vận tải. Ngay cả khi đã chi rất nhiều tiền để liên tục thu mua thêm tàu vận tải, cùng với việc đặt hàng hàng chục chiếc tàu từ hai nhà máy đóng tàu trong nước, công ty vẫn không thể lấp đầy khoảng trống lớn về năng lực vận tải, đành phải giao một phần nghiệp vụ vận chuyển hàng hóa dân sự cho các công ty vận tải khác.
Mặc dù mảng vận tải biển lớn có Công ty Vận tải Thái Bình Dương gánh vác, nhưng đối với vận tải nội địa đường sông, do thiếu đội tàu nhỏ, công ty này không thể đáp ứng được. Bộ Hậu cần đành phải tự mình giải quyết, bằng cách trưng dụng một phần đội tàu nhỏ của dân sự và đồng thời đặt đóng một loạt tàu vận tải trọng tải hàng trăm tấn. Nhờ đó, về cơ bản, việc vận chuyển hậu cần tại lưu vực Trường Giang cũng có thể được đáp ứng.
Chính vì ý kiến của Bộ Hậu cần Quốc Dân Quân, nên khi Bộ Tổng tư lệnh soạn thảo kế hoạch tác chiến vượt sông, họ đã đưa sông Dụ Suối và Sào Hồ vào diện trọng điểm xem xét. Thậm chí Hải quân còn cải tạo một số tàu nhỏ trọng tải vài chục tấn, trang bị thêm súng máy hạng nặng để sử dụng ra vào sông Dụ Suối và Sào Hồ.
Từ đó có thể thấy tầm quan trọng của sông Dụ Suối. Hiểu được tầm quan trọng này, người ta sẽ biết vì sao Sư đoàn thứ Chín lại tiến công Sào Hồ dọc theo sông Dụ Suối, và vì sao mục tiêu tác chiến đầu tiên lại là chiếm lấy Sào Hồ.
Tuy nhiên, điều Trang Lưu không thể hiểu được chính là: chính bản thân ông ta đã biết tầm quan trọng của sông Dụ Suối, lẽ nào quân Bắc Dương lại không có ai biết điều đó?
Điều này chắc chắn là không thể. Vậy thì làm thế nào để giải thích vi��c quân Bắc Dương lại bỏ trấn Đông Nhốt mà không cố thủ?
Bản dịch này được thực hiện bởi truyen.free và mọi hình thức sao chép đều không được phép.