(Đã dịch) Tân Hợi Đại Quân Phiệt - Chương 389: Tập đoàn cùng đường sắt
Tin tức Trần Kính Vân muốn xây dựng đường sắt nhanh chóng lan truyền. Trên thực tế, đã có những thông tin liên quan từ rất sớm. Chẳng qua, việc xây dựng đường sắt là vấn đề được nhắc đến hằng năm, nhưng chưa bao giờ có tin tức chính xác. Ngay từ thời kỳ Đông Nam Tuyên Phủ Sứ phủ, đã từng rộ lên tin đồn Trần Kính Vân muốn xây dựng tuyến đường sắt Mân-Chiết, gây ra không ít xôn xao. Ngay cả đến hiện tại, những tin đồn tương tự vẫn còn tồn tại. Trước đây, Bộ Giao thông cũng đã từng đề xuất một kế hoạch tương tự: xây dựng tuyến đường sắt từ Ninh Ba, qua Ôn Châu, rồi đến Phúc Châu, kéo dài đến Hạ Môn và cuối cùng là Quảng Châu – tức là một tuyến đường sắt chạy dọc bờ biển các tỉnh Đông Nam.
Tuy nhiên, kế hoạch này vừa được đưa ra đã bị đông đảo chuyên gia đường sắt tư nhân bác bỏ ngay lập tức. Họ đưa ra nhiều số liệu để chứng minh sự khó khăn trong việc xây dựng tuyến Phúc-Hàng (Phúc Châu – Hàng Châu), đồng thời lập luận rằng vận tải đường biển giữa Phúc Châu và Thượng Hải đã rất phát triển, việc xây dựng đường sắt ven biển sẽ không thể thúc đẩy phát triển kinh tế Phúc Kiến một cách căn bản. Nếu như không mang lại lợi ích kinh tế đáng kể, vậy chỉ còn lại giá trị quân sự. Trong trường hợp Trung – Nhật khai chiến, với thực lực Hải quân Trung Quốc hiện tại, thậm chí mười năm sau cũng không thể đối chọi lại sự phong tỏa đường biển của Nhật Bản. Khi đó, các tuyến vận tải biển ra nước ngoài của Phúc Kiến sẽ bị cắt đứt hoàn toàn. Nếu có một tuyến đường sắt ven biển, nó có thể duy trì giao thông giữa Phúc Kiến với các tỉnh ngoài, đặc biệt là với khu vực tam giác Trường Giang.
Tuy nhiên, tuyến đường sắt ven biển còn tiềm ẩn một vấn đề cực kỳ quan trọng: nếu quân Nhật đổ bộ tại bất kỳ đoạn nào của tuyến đường này, họ có thể cắt đứt hoàn toàn đường sắt, khiến giá trị chiến lược của nó nhanh chóng giảm sút. Phúc Kiến cần một tuyến đường sắt phục vụ mục đích phòng bị chiến tranh, nhưng tuyến đường này không thể là Phúc-Hàng (Phúc Châu – Hàng Châu), cũng không thể là Phúc-Quảng (Phúc Châu – Quảng Châu). Thứ mà Phúc Kiến thực sự cần là một tuyến đường sắt từ Nam Xương đến Phúc Châu, phục vụ cho công tác chuẩn bị chiến đấu ở vùng duyên hải Phúc Kiến, đồng thời vẫn có thể đáp ứng tốt nhu cầu phát triển kinh tế của tỉnh. Còn về tuyến đường sắt ven biển Đông Nam, hãy cứ gác lại để tính sau!
Dựa trên những lý do đó, tuyến đường sắt Phúc-Hàng đã nhanh chóng bị bác bỏ ngay sau khi được đề xuất. Tuy nhiên, vẫn có những thông tin rò rỉ khiến nhiều người cho rằng Trần Kính Vân chưa hề từ bỏ ý định xây dựng đoạn đường sắt này.
Tuy nhiên, những điều này cũng chứng minh một khía cạnh khác: vào thời điểm đó, người dân vẫn rất nhạy cảm với các vấn đề xây dựng đường sắt. Chỉ một chút tin tức nhỏ về đường sắt cũng có thể thu hút sự chú ý của mọi người. Không chỉ quan tâm đến tình hình đường sắt ven biển Đông Nam, họ còn đặc biệt chú ý đến các tuyến Việt-Hán và Chiết-Cán.
Tuyến đường sắt Việt-Hán, do cả Hồ Nam và Hồ Bắc đều nằm dưới sự kiểm soát của Bắc Dương, nên trong thời gian ngắn, đây không phải là việc Quốc Dân Quân có thể tự mình quyết định. Toàn tuyến không thể khởi công khi chưa giành được hai tỉnh này. Tuy nhiên, việc xây dựng đoạn đường ở Quảng Đông và phía nam Hồ Nam có thể được triển khai. Sau khi hai đoạn này hoàn thành, Quốc Dân Quân có lẽ đã kiểm soát được Hồ Nam, còn Hồ Bắc thì phải tùy tình hình mà tính.
Trong khi đó, tuyến đường sắt Chiết-Cán lại khác. Giang Tây và Chiết Giang đều nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của Quốc Dân Quân, nên việc xây dựng tuyến Chiết-Cán là một việc Quốc Dân Quân hoàn toàn có thể tự quyết định. Do đó, mọi người càng chú ý hơn đến tuyến đường sắt Chiết-Cán trong truyền thuyết này.
Tuy nhiên, những tin đồn này không kéo dài quá lâu. Rất nhanh sau đó, Bộ Giao thông của Chính phủ Cộng hòa Nam Kinh đã công bố thông cáo, tuyên bố thành lập Công ty Đường sắt Trung Quốc, với các công ty con là Công ty Đường sắt Hỗ-Hàng, Công ty Đường sắt Chiết-Cán và Công ty Đường sắt Việt-Hán. Thông cáo này chính thức công khai ý định xây dựng các tuyến đường sắt Việt-Hán và Chiết-Cán của Chính phủ Cộng hòa bằng văn bản.
Đồng thời, chính phủ cũng tuyên bố sẽ đầu tư vào hai tuyến đường sắt này và hoan nghênh vốn đầu tư trong và ngoài nước tích cực tham gia. Ngay khi tin tức vừa công bố, các bên nước ngoài còn chưa kịp phản ứng, thì hơn mười tập đoàn tài chính từ Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, Mỹ, Nhật Bản, Nga đã bày tỏ ý muốn tham gia.
Đây chỉ là hiện tượng kinh doanh bề mặt. Đằng sau đó, Trần Kính Vân liên tục gặp Tổng lãnh sự Mỹ tại Thượng Hải Doyle, rồi Huân tước Fraser – Tổng lãnh sự Anh tại Thượng Hải, và các quan chức ngoại giao từ Nhật Bản, Đức, Nga... Tất cả đều xoay quanh một vấn đề duy nhất: vay vốn xây dựng đường sắt.
Dù là tuyến Việt-Hán hay Chiết-Cán, Trần Kính Vân đều không cho phép tư bản dân gian tự mình xây dựng, cũng không tự bỏ tiền túi ra. Bất kể có muốn hay không, ông vẫn phải đi theo con đường vay vốn.
Tuy nhiên, để tránh bị chỉ trích bán đứng quyền lợi đường sắt, ông cũng dùng một số thủ đoạn để đánh lừa dư luận. Chẳng hạn, Công ty Đường sắt Trung Quốc, cùng các công ty con trực thuộc là Công ty Đường sắt Hỗ-Hàng, Công ty Đường sắt Chiết-Cán, Công ty Đường sắt Việt-Hán. Thoạt nhìn, những công ty này dường như đều là doanh nghiệp nhà nước. Nhưng trên thực tế, trong ba công ty con chính của Công ty Đường sắt Trung Quốc, chỉ có Công ty Đường sắt Hỗ-Hàng là hoàn toàn do vốn nhà nước sở hữu. Hai công ty còn lại thì được chuẩn bị để vốn nước ngoài tham gia, và phần vốn nước ngoài sẽ chiếm đa số cổ phần. Đồng thời, Chính phủ Cộng hòa sẽ phát hành trái phiếu công trình đường sắt để huy động một phần tài chính, chiếm một tỷ lệ nhỏ trong các công ty con đường sắt này.
Nhờ vậy, các tập đoàn nước ngoài đã có được quyền kiểm soát tuyệt đối cổ phần mà họ mong muốn, tức là quyền kinh doanh đường sắt. Tuy nhiên, Công ty Đường sắt Trung Quốc cũng nắm giữ một lượng cổ phần đáng kể tại Công ty Đường sắt Chiết-Cán và Công ty Đường sắt Việt-Hán, đồng thời về mặt danh nghĩa vẫn duy trì mối quan hệ cấp trên – cấp dưới với các công ty con này. Điều này cũng nhằm tránh để người trong nước chỉ trích Trần Kính Vân bán đứng quyền lợi đường sắt. Hơn nữa, sau khi các tập đoàn nước ngoài kinh doanh đường sắt và thu được đầy đủ lợi nhuận trong vài chục năm, đến một niên hạn nhất định, họ sẽ phải chuyển nhượng toàn bộ cổ phần đường sắt đang nắm giữ cho Chính phủ Cộng hòa mà không kèm theo bất kỳ ràng buộc nào.
Nói cách khác, nếu không có bất kỳ sự cố bất ngờ nào xảy ra, không có Thế chiến thứ nhất hay thứ hai, thì sau vài chục năm Trung Quốc thành thật phát triển, những tuyến đường sắt này vẫn sẽ được quốc hữu hóa hoàn toàn. Đương nhiên, nếu có biến cố gì xảy ra trong quá trình đó thì không ai có thể đoán trước được. Chẳng hạn, nếu Trung Quốc và Nhật Bản nổ ra chiến tranh, chắc chắn mọi tài sản của Nhật Bản tại Trung Quốc sẽ bị tịch thu trực tiếp, cổ phần các công ty đường sắt này cũng sẽ bị thu hồi. Hoặc nếu Trung Quốc khai chiến với tất cả các cường quốc, thậm chí cả với Mỹ, thì tài sản của các nước liệt cường ở Trung Quốc chắc chắn sẽ bị mất trắng, và những tuyến đường sắt đó cũng sẽ trực tiếp trở thành tài sản quốc hữu.
Chính vì có những biến số và tình huống khó lường như vậy, Trần Kính Vân mới ra chỉ thị không cho phép tư bản dân doanh trong nước trực tiếp đầu tư vào đường sắt. Nếu muốn đầu tư vào đường sắt, chỉ có thể thông qua hình thức mua trái phiếu công trình đường sắt, tức là chỉ mua trái phiếu chứ không có cổ phần c��ng ty đường sắt.
Cách làm này của Trần Kính Vân đã vấp phải sự phản đối từ một bộ phận thương nhân. Tuy nhiên, bản thân Trần Kính Vân cũng không trông chờ có thể huy động hơn trăm triệu đồng vốn trong nước để tiến hành xây dựng hai tuyến đường sắt này; có được một hai chục triệu đồng đã là tốt lắm rồi. Do đó, ông không cần quá bận tâm đến những tiếng nói phản đối đó. Trên thực tế, Trần Kính Vân muốn cũng không có cách nào huy động hơn trăm triệu đồng vốn trong nước. Không phải là giới thương nhân trong nước không có nhiều tiền đến vậy, mà là tư bản dân gian Trung Quốc vẫn khá dồi dào. Số lượng phú hào chôn vàng bạc thành từng khối lớn dưới đất không ít, và những người có giá trị tài sản vượt trăm vạn thì đếm không xuể.
Thế nhưng, phần lớn trong số họ thuộc hai nhóm đối tượng. Một nhóm là địa chủ, điền chủ, họ chỉ tin vào vàng bạc chôn dưới gầm giường hoặc đất đai; tiền của họ hoặc là cất giữ, hoặc là dùng để mua đất. Nhóm còn lại là thương nhân. Những người này cũng có không ít tiền và cũng thích đầu tư. Song, giới thương nhân vốn dĩ là những người không có lợi sẽ không dậy sớm; họ cần tiền của mình phải sinh lời, và họ chuộng những hoạt động công nghiệp nhẹ hoặc thương mại có khả năng thu hồi vốn nhanh, chu kỳ quay vòng nhanh. Đối với các dự án công nghiệp nặng, khai khoáng hay đường sắt – những lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn, chu kỳ dài, lợi nhuận tương đối mỏng – họ chắc chắn sẽ thiếu hứng thú. Điều này đúng cho cả thời cuối nhà Thanh lẫn thời hiện đại sau này.
Đây cũng là lý do vì sao sau cuộc cải cách năm Canh Tý vào cuối nhà Thanh, công thương nghiệp tuy phát triển nhanh chóng nhưng hầu hết lại tập trung vào các ngành công nghiệp nhẹ, đặc biệt là dệt may. Trong khi đó, các ngành công nghiệp nặng như quân sự, sắt thép lại trượt dốc từng năm, hầu như không có bất kỳ tư nhân nào đầu tư, ngoại trừ vốn nhà nước.
Những người thực sự hứng thú với các dự án lớn trị giá hàng chục triệu, thậm chí hàng tỷ đồng này chính là các tập đoàn ngân hàng nước ngoài. Họ cần lợi nhuận ổn định và lâu dài. Bởi vì hình thức đầu tư hàng trăm triệu đồng hoàn toàn khác với vài chục nghìn đồng. Đầu tư hàng trăm triệu đồng đòi hỏi lợi nhuận ổn định và dài hạn, không cần quá cao, chỉ cần duy trì được mười phần trăm mỗi năm là đã có nguồn thu nhập khổng lồ, lợi nhuận hàng năm được tính bằng hàng chục triệu. Trong khi đó, đầu tư vài chục nghìn đồng lại mong muốn hiệu quả nhanh, thu lời trong ngắn hạn, nếu không thì mười phần trăm lợi nhuận mỗi năm còn không đủ chi phí sinh hoạt.
Hơn nữa, số tiền mà các tập đoàn này bỏ ra không phải là tiền của riêng họ, mà đều được huy động thông qua góp vốn ngân hàng, phát hành trái phiếu công trái và các hình thức khác. Các tập đoàn này cần phải trả lợi ích cho những nhà đầu tư đó, và lợi nhuận của chính các tập đoàn chính là khoản chênh lệch giá. Đây cũng là lý do vì sao các tập đoàn đó rất ưa thích các loại khoản vay, đặc biệt là các khoản vay quốc gia.
Đương nhiên, hình thức kinh doanh này chỉ dành cho các tập đoàn lớn. Bởi vì đằng sau những khoản đầu tư khổng lồ như vậy, nếu không có vô số đại bác và chiến hạm chống đỡ, thì 100% sẽ bị “nước đổ lá môn” (mất trắng). Ví dụ, nếu một quốc gia yếu kém nào đó ở châu Phi khai quật được một ngôi đền chứa hàng trăm tấn vàng và nói rằng sẽ dùng số vàng đó để Trần Kính Vân đầu tư đường sắt, thì khỏi cần nói, Trần Kính Vân sẽ lập tức nuốt lời và trở mặt. Khi liên quan đến lợi ích quốc gia trần trụi, cường đạo và quân tử không có gì khác nhau. Nhưng đối với các tập đoàn của các cường quốc phương Tây, khi họ bỏ vốn đầu tư, Trần Kính Vân tuyệt nhiên không dám động đến một chút nào, ít nhất là bây giờ. Còn về sau thì lại là chuyện khác. Nếu đến khi Trần Kính Vân có được vũ khí hạt nhân, sở hữu năng lực hủy diệt Trái Đất bất cứ lúc nào, ông sẽ không ngại trở thành một cường đạo toàn cầu. Hơn nữa, cách “ăn” cũng không cần quá khó coi, mà thông qua các chính sách kinh tế như kế hoạch liên kết đồng đô la và dầu mỏ để biến Hoa Nguyên thành đồng tiền lưu hành thế giới, thành tiền dự trữ của tất cả mọi người và mọi quốc gia. Khi đó, Trung Quốc có thể dùng những tờ tiền giấy in ra để mua sắm tài nguyên, sản phẩm của các quốc gia đó, và dựa vào những tài nguyên, sản phẩm này để duy trì sức mạnh quân sự bách chiến bách thắng khắp dải Ngân Hà của Trung Quốc. Về cơ bản, điều này cũng giống như nước Mỹ đời sau: chỉ cần người sao Hỏa không xâm lược, không có Thế chiến thứ ba, và hệ thống đồng đô la đẹp đẽ như vậy không sụp đổ, thì Mỹ có thể vĩnh viễn dùng tiền in thêm để cướp đoạt tài nguyên và sản phẩm của các quốc gia khác.
Đôi khi, Trần Kính Vân cảm thấy những người đã đưa ra Kế hoạch Marshall và kế hoạch liên kết đồng đô la Mỹ với dầu mỏ quả thực là thiên tài!
Hiện tại, các tập đoàn đó, dựa vào sức mạnh quốc gia đứng sau lưng, có thể yên tâm huy động lượng lớn tài chính để đầu tư vào kế hoạch đường sắt của Trung Quốc. Chỉ có điều, một số người trong số họ không thể ngờ rằng, những khoản đầu tư này rất có thể sẽ không thể thu hồi được.
Bản quyền dịch thuộc về truyen.free, nơi những dòng chữ này được thổi hồn sống động.