(Đã dịch) Tân Hợi Đại Quân Phiệt - Chương 391: Nước Đức cùng vônfram (V) mỏ
Dựa theo kế sách của Trần Kính Vân, Bộ Ngoại giao đã chủ động đẩy mạnh các cuộc tiếp xúc với Đức. Hai bên, bên cạnh những vấn đề liên quan đến đường sắt, vẫn còn bàn luận về sự ổn định ở Viễn Đông, đồng thời đề cập đến các loại vật tư chiến lược cấp bách mà Đức đang cần như quặng vonfram, quặng đê, lông lợn, dầu trẩu, v.v.
Việc chính phủ cộng h��a chủ động và tích cực trong ngoại giao khiến các nhân viên ngoại giao Đức khá bất ngờ. Lý do rất đơn giản, bởi vì trước đây, thậm chí cả hiện tại, chính sách đối ngoại của Đức cũng giống như thời kỳ Tân Hợi, đó là bảo vệ lợi ích cốt lõi của Đức tại Thanh Đảo và toàn bộ Sơn Đông. Bất kỳ mối đe dọa nào đến lợi ích của Đức tại Sơn Đông đều bị xem là kẻ thù của Đức. Thời kỳ Tân Hợi, Sơn Đông bùng phát các cuộc khởi nghĩa đòi thu hồi Thanh Đảo và hủy bỏ các hiệp ước bất bình đẳng, điều này đã gây ra uy hiếp lớn cho Đức. Trong phạm vi thực lực của mình, Đức đã thẳng tay bắt giết và xua đuổi những người cách mạng, từ đó tạo ra thái độ bài xích đối với những người cách mạng ở phía nam. Đây cũng là lý do tại sao Đức lại ủng hộ Viên Thế Khải trước đây. Cần biết rằng Đức đã ủng hộ Viên Thế Khải sớm hơn cả Anh. Khi Viên Thế Khải nhậm chức Nội các Thủ tướng đại thần của nhà Thanh, công sứ Đức tại Trung Quốc thậm chí còn đích thân đến thăm.
Trong hai năm gần đây, Đức vẫn là người ủng hộ Viên Thế Khải, tương đối kém hơn về quan hệ với nhiều quân phiệt ở phía nam. Ít nhất là Đức không có tiếp xúc gì với Trần Kính Vân. Còn việc Trần Kính Vân mua số lượng lớn quân giới đã xuất ngũ của Đức vào năm Tân Hợi hoàn toàn là giao dịch thương mại giữa cá nhân và thương nhân phương Tây, giống như việc lãnh sự Anh tại Phúc Châu vì lợi ích cá nhân đã liên hệ với các ngân hàng Anh để cung cấp khoản vay tư nhân rủi ro cao cho Trần Kính Vân, điều này không hề liên quan trực tiếp đến chính sách ngoại giao chung của quốc gia.
Cho nên, từ trước đến nay, quan hệ giữa Quân đội Quốc dân và Đức vẫn rất bình thường, chưa nói đến hữu nghị, đương nhiên cũng không đến mức Anh Quốc đối với Quân đội Quốc dân bằng thái độ phản cảm trước đây, mà là một thái độ có cũng được mà không có cũng không sao. Điều này có liên quan lớn đến việc phạm vi lợi ích của Đức tập trung ở Sơn Đông. Chỉ cần quân đội Quốc dân không tiến vào phạm vi Sơn Đông, thì Đức sẽ không quá để tâm. Lần này, nếu không phải vì đấu thầu đường sắt, có lẽ hai bên vẫn chưa liên lạc được với nhau.
Mối quan hệ vốn dĩ bình thường đó, giờ đây Chính phủ Cộng hòa lại chủ động tích cực liên hệ với Đức, hơn nữa, ngoài việc đàm phán về đường sắt, còn đề cập đến vấn đề cung cấp các loại vật tư chiến lược mà Đức vốn rất chú trọng như khoáng sản quý hiếm. Nước Đức bản thân thiếu thốn nhiều tài nguyên chiến lược, lại không giống như Anh có thuộc địa trải rộng toàn cầu, cho nên trong một số tài nguyên chiến lược đã bị hạn chế đến cùng cực. Các thương nhân Đức hầu như phải bôn ba khắp thế giới để mua sắm các loại nguyên liệu công nghiệp.
Vậy ở thời đại này, Trung Quốc có gì mà Đức mong muốn? Trong các khoáng sản quý hiếm có quặng vonfram, quặng mangan, quặng đê, quặng thiếc, v.v. Ngoài ra còn có vật tư chiến lược đặc sản của Trung Quốc là "lông lợn", và vật tư xuất khẩu truyền thống là dầu trẩu.
Thời đại này, Trung Quốc là một quốc gia nông nghiệp lạc hậu điển hình. Trong tay chỉ có các loại nguyên liệu công nghiệp có thể được các cường quốc để mắt đến. Nếu buôn bán với nước ngoài, cũng chỉ có thể xuất khẩu những nguyên liệu công nghiệp này, sau đó đổi lấy các sản phẩm công nghiệp từ các nước. Tuy Trung Quốc thường nói "đất rộng của nhiều" từ hàng ngàn năm, nhưng trên thực tế tài nguyên không nhiều. Quặng sắt, mỏ than, dầu mỏ cũng không đáng kể. Khoáng sản quý hiếm và cây nông nghi��p đặc thù cũng không nhiều. Nếu nói Trung Quốc có khoáng sản nào nhiều hơn một chút, thì đó chỉ có thể là quặng vonfram mà thôi.
Vào thời nhà Thanh, sản lượng vonfram tinh của Trung Quốc đứng đầu thế giới, sản lượng hàng năm chiếm hơn một nửa tổng sản lượng toàn cầu. Mà số lượng này vẫn chỉ dựa trên thiết bị khai thác lạc hậu và khai thác quy mô nhỏ của Trung Quốc. Nếu đầu tư thiết bị hiện đại hóa, xây dựng các khu khai thác quặng vonfram quy mô lớn, thì sản lượng có thể tăng vọt gấp nhiều lần, chiếm hơn chín mươi phần trăm sản lượng thế giới là hoàn toàn khả thi. Nói về ưu thế của quặng vonfram Trung Quốc, có thể kể từ thời nhà Thanh cho đến thế kỷ 21. Ví dụ, trong kế hoạch hợp tác Đức-Trung gọi là "ba mươi năm thay đổi" (thập niên 30), quặng vonfram chính là hạng mục quan trọng nhất. Đức đã phải dốc hết tiền vốn để có được đủ quặng vonfram từ Trung Quốc. Nếu không có quặng vonfram thì những chuyên gia kỹ thuật Đức đó căn bản sẽ không xuất hiện. Sau Thế chiến thứ hai, vật tư quan trọng nhất mà Liên Xô nhập khẩu từ Trung Quốc cũng là quặng vonfram! Mặc dù Liên Xô và các nước phụ thuộc có không ít tài nguyên vonfram, nhưng so với sản lượng quặng vonfram của Trung Quốc thì vẫn chưa thấm vào đâu. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, do bị phong tỏa kinh tế, NATO do Mỹ dẫn đầu không thể tiếp cận được quặng vonfram của Trung Quốc. Mặc dù Mỹ có vô số tài nguyên khác, nhưng lại thiếu hụt vonfram. Trong những năm đó, Mỹ đã khiến không biết bao nhiêu nhà khoa học phải vắt óc tìm kiếm vật liệu thay thế cho hợp kim vonfram, và cuối cùng bất đắc dĩ phải phát triển và trang bị số lượng lớn các loại giáp Uranium nghèo và đạn xuyên giáp Uranium nghèo.
Tổng thể mà nói, quặng vonfram của Trung Quốc có vai trò cực kỳ quan trọng trên phạm vi thế giới, và quặng vonfram lại là nguyên liệu công nghiệp cực kỳ thiết yếu, cũng là thứ mà Đức cần. Trước đây, Đức cũng liên tục nhập khẩu quặng vonfram từ Trung Quốc, mỗi năm đều nhập khẩu vài nghìn tấn vonfram tinh. Tình hình này không hề thay đổi ngay cả sau khi huyện Đại Dư, Giang Tây – khu vực khai thác vonfram quan trọng nhất của Trung Quốc – rơi vào tay Quân đội Quốc dân.
Ngoài quặng vonfram, một số kim loại hiếm khác cũng là thứ mà Đức cần, chẳng qua chúng không quan trọng bằng vonfram mà thôi.
Sau khi nói về khoáng sản, phải kể đến lông lợn. Thứ này nghe có vẻ rất đơn giản và bình thường, chính là lông của con lợn. Nói chính xác hơn, nó là lông cứng dài hơn năm phân gạo (khoảng 2cm) mọc ở cổ và lưng lợn. Công dụng của thứ này cũng rất đơn giản, đó chính là làm bàn chải: bàn chải dùng hàng ngày, bàn chải sơn, bàn chải máy móc, v.v. Vậy một vật bình thường như vậy tại sao lại được gọi là vật tư chiến lược? Rất đơn giản, bởi vì ở thời điểm hiện tại, đây là nguyên liệu duy nhất để làm bàn chải, không có vật liệu thay thế nào khác. Mà bàn chải, đừng coi thường nó, trong sản xuất công nghiệp, không có nó thì chắc chắn không được, đặc biệt là việc sơn phết vũ khí càng là một nhu cầu thiết yếu. Quan trọng hơn, lông lợn là mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Trung Quốc, sản lượng chiếm gần như toàn bộ sản lượng toàn cầu, tỷ lệ lên tới 95% trở lên. Nói cách khác, nếu không muốn vũ khí phải "chạy trần truồng" trên chiến trường, thì không thể thiếu lông lợn của Trung Quốc. Trong Thế chiến thứ nhất và Thế chiến thứ hai đều có sự hiện diện của lông lợn.
Quặng vonfram và lông lợn chính là số ít vật tư chiến lược mà Trung Quốc có thể kiểm soát! Mà đối với chính phủ cộng hòa ở phía nam, việc kiểm soát quặng vonfram là trực tiếp nhất, bởi vì ở thời đại này, vonfram tinh của Trung Quốc cơ bản đều nằm ở huyện Đại Dư, Giang Tây, ngoài nơi đây thì không còn chỗ nào khác. Cho nên, nếu muốn lợi dụng cái gọi là nguyên liệu công nghiệp để tiến hành mậu dịch với Đức, thì huyện Đại Dư, Giang Tây nhất định phải được kiểm soát. Nếu ngay cả Giang Tây còn chưa nắm được mà đã nói chuyện cung ứng khoáng sản quý hiếm cho Đức thì đó chỉ là chuyện viển vông. Còn về lông lợn, không chỉ ở phía nam có mà phía bắc cũng có. Người Đức có thể nhận được nguồn cung lông lợn đầy đủ từ Sơn Đông thậm chí Thượng Hải. Do đó, lông lợn nhiều lắm thì chỉ có một ít lợi thế đàm phán, chứ không thể kiểm soát tuyệt đối.
Bộ Ngoại giao của chính phủ cộng hòa, dựa theo kế sách của Trần Kính Vân, khi trao đổi với Đức cũng nhấn mạnh đến việc cung ứng nguyên liệu. Thậm chí chủ động đưa ra đề nghị mong muốn vay tiền từ Đức để xây dựng các khu khai thác quặng vonfram, quặng đê, quặng mangan, quặng thiếc và các loại khoáng sản quý hiếm khác mà Đức cần nhập khẩu. Ngoài ra, chính phủ cộng hòa phía nam sẽ thực hiện việc chỉnh đốn hệ thống sản xuất và cung ứng lông lợn tại khu vực trực thuộc, cố gắng mở rộng sản lượng và tăng cường cung ứng cho Đức.
Thái độ này của chính phủ cộng hòa đã khiến phía Đức cũng thay đổi thái độ xem thường trước đây, dù sao việc mở rộng nguồn cung các loại nguyên liệu công nghiệp như kim loại hiếm cũng mang lại lợi ích rất lớn cho Đức.
Cho nên một cục diện rất thú vị đã xuất hiện: mặc dù Bộ Ngoại giao của chính phủ cộng hòa và Đức bề ngoài nói chuyện về đường sắt Việt Hán, nhưng sau lưng lại bàn bạc về các vấn đề liên quan đến cung ứng các loại vật tư chiến lược nh�� kim loại hiếm.
Để phối hợp với cuộc đàm phán của Bộ Ngoại giao, Trần Kính Vân nhanh chóng chỉ thị Bộ Công Thương thành lập cục Tài nguyên, chuyên trách phụ trách việc thu mua, định giá và hạn ngạch bán ra thống nhất các tài nguyên chiến lược quý hiếm trong nước. Ngoài ra, Ngân hàng Trung Quốc cũng căn cứ chỉ thị của Trần Kính Vân nhanh chóng thành lập Công ty Khai thác Giang Dư, dùng để phát triển sản xuất và thăm dò các loại kim loại hiếm như quặng vonfram. Công ty khai thác mỏ này, mang tên Công ty Khai thác Giang Dư, chỉ vừa thành lập chưa đầy hai ngày đã mua toàn bộ quyền khai thác khu mỏ vonfram huyện Đại Dư, Giang Tây.
Khi Bộ Ngoại giao còn chưa đạt được thỏa thuận với Đức về đường sắt Việt Hán, hai bên đã đạt được thỏa thuận về quặng vonfram. Phía Đức sẽ cấp cho Công ty Khai thác Giang Dư một khoản vay thương mại lãi suất thấp lên đến 5 triệu mark, tương đương 2,5 triệu đồng bạc hoa. Khoản vay này sẽ được dùng toàn bộ để mua sắm các thiết bị công nghiệp khai thác liên quan của Đức. Đổi lại, Công ty Khai thác Giang Dư sau khi nhận được khoản đầu tư này sẽ cam kết hàng năm bán cho Đức một lượng vonfram tinh nhất định: năm nay cung cấp một nghìn tấn, sang năm cần tăng lên 2.500 tấn, và năm sau nữa tăng lên bốn nghìn tấn. Khoản vay tương ứng cũng sẽ được thanh toán bằng vonfram tinh.
Có lẽ quý vị khi nhìn thấy con số vài nghìn tấn sẽ cảm thấy rất nhỏ, có thể một chuyến tàu biển là vận chuyển xong. Nhưng đây là vonfram tinh đã qua tinh luyện. Hiện tại, sản lượng vonfram tinh hàng năm trên toàn cầu cũng chỉ vài nghìn tấn, trong đó Trung Quốc đã chiếm hơn một nửa. Vậy những vonfram tinh này đáng giá bao nhiêu? Trước Thế chiến thứ nhất, vonfram tinh 65% ở London và New York có giá khoảng 2.000 đến 3.000 đô la một tấn. Sau khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ, giá các loại tài nguyên khoáng sản tăng gấp đôi, khi đó một tấn vonfram tinh có giá từ 5.000 đến 6.000 đô la trở lên. Hơn nữa, đến lúc đó, những quốc gia như Đức có tiền cũng chưa chắc đã mua được.
Nói cách khác, hợp đồng cung ứng vài nghìn tấn vonfram tinh hàng năm đã có giá trị lên đến vài triệu đô la trở lên!
Nếu Thế chiến thứ nhất bùng nổ sau này, nhu cầu về các loại khoáng sản trên toàn thế giới gia tăng. Khi đó, sản lượng quặng vonfram của Trung Quốc cũng có thể thuận thế tăng lên đến hàng năm cung ứng hai, ba vạn tấn vonfram tinh, thì việc thu về hàng chục triệu đô la ngoại hối mỗi năm không phải là vấn đề. Tuy vẫn chưa sánh bằng những mặt hàng xuất khẩu truyền thống như tơ lụa, nhưng con số này cũng không hề nhỏ. Huống hồ, nếu đầu tư đầy đủ, sản lượng quặng vonfram sẽ tăng lên hàng năm, và nhu cầu trên thế giới cũng ngày càng nhiều, tốc độ phát triển sẽ rất nhanh.
Với hợp đồng vonfram này làm tiền đề, quan hệ giữa chính phủ cộng hòa và Đức đã hòa hoãn hơn rất nhiều, hơn nữa còn tạo tác động tích cực đến các cuộc đàm phán giữa hai bên về đường sắt Việt Hán. Mặc dù hợp đồng vonfram chỉ là một hợp đồng nhỏ trị giá 5 triệu mark, không thể so sánh với hợp đồng lớn về đường sắt Việt Hán với khoản đầu tư vượt hơn trăm triệu mark, nhưng nó đã đóng vai trò dẫn dắt.
Rất nhanh, phía Đức đã đàm phán thành công các điều kiện liên quan với chính phủ cộng hòa. Ngũ Đình Phương, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, cũng đã đưa bản điều ước vay tiền cho Trần Kính Vân xem xét, để ông đưa ra quyết định cuối cùng.
Trần Kính Vân lướt nhìn bản điều ước dày cộm trên tay, từng điều khoản được ông xem xét cẩn thận. Cùng lúc đó, trên bàn ông còn có các bản hợp đồng điều kiện từ một số quốc gia khác, bao gồm cả Mỹ, Anh, Bỉ, Hà Lan, v.v.
Trần Kính Vân đọc kỹ hợp đồng với Đức trong tay, trong lòng thầm trầm tư. Thật ra, so với hợp đồng của các quốc gia khác, hợp đồng của Đức không có ưu việt lớn nào, thậm chí một số điều khoản còn khá hà khắc.
Bản văn này thuộc quyền sở hữu độc quyền của truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.