A Song of Blossoms and Thorns - Chương 22: Chapter 22: Những thứ bị lãng quên
Chúng tôi bước vào khu nhà kính, một gian nhà bằng khung sắt và những tấm kính mờ đục, đã bị ố vàng bởi thời gian và hơi ẩm. Trần nhà cao vòm, ánh sáng mờ mờ xuyên qua lớp kính bụi mờ tạo thành một quầng sáng nhạt nhòa phủ lên lớp gạch ướt dưới chân. Không khí bên trong ấm hơn hẳn bên ngoài, mùi mốc đặc trưng của giấy cũ quyện với mùi hơi nước đọng lại.
Cả hai cùng hạ dù xuống, nước mưa nhỏ tí tách trên nền gạch. Chúng tôi hạ dù và cởi bỏ áo mưa vốn đang ẩm ướt, treo gọn vào móc sát tường nơi có tấm biển gỗ viết nguệch ngoạc: “Áo mưa, dù – Để tại đây.” Một người đàn ông lớn tuổi ngồi phía quầy thu tiền phía trước ngẩng lên nhìn, không nói gì, chỉ khẽ gật đầu rồi cúi xuống tiếp tục đọc cuốn sách trên tay.
Bên trong nhà kính yên tĩnh đến mức có thể nghe rõ tiếng giở từng trang sách. Những giá gỗ cũ kỹ xếp sát nhau, đầy ắp các tập giấy được bọc nilon để tránh ẩm. Mỗi bước đi là một tiếng kẽo kẹt của sàn, mỗi ngóc ngách đều như đang cất giữ những câu chuyện đã bị thời gian làm nhòe đi.
Matthew lững thững đi giữa những hàng kệ, bước chân nhẹ nhàng như sợ làm xáo động không khí êm đềm hiếm hoi trong căn nhà kính. Hắn đưa tay lướt nhẹ qua từng gáy sách, những ngón tay khô và lành lạnh chạm vào lớp bụi mỏng bám trên bìa bọc ni lông. Thỉnh thoảng, hắn dừng lại trước một kệ, nghiêng đầu nhìn tiêu đề đã mờ đến mức khó đọc, rồi cẩn thận rút ra một cuốn. Hắn lật vài trang, cười khẽ rồi lại đặt lại đúng vị trí cũ. Hắn di chuyển từ kệ này sang kệ khác, có khi ngẩng lên nhìn trần kính mờ phủ rêu, rồi lại cúi xuống, chăm chú lần giở từng trang sách một cách nhẹ nhàng, gần như thành kính. Rồi hắn quay lại phía tôi và nói:
“Ở đây đúng là có nhiều sách hiếm thật.” Matthew nói nhỏ, mắt lướt qua các tựa sách loang lổ, “nhưng hầu hết là sách cũ và tài liệu kỹ thuật thì phải.”
“Ừ, chủ yếu là sách tồn từ thời trước, có vài cuốn ghi chép về thảo dược, thiết kế máy móc, với mấy thứ nhật ký vặt vãnh của người ta. Nhưng thỉnh thoảng cũng có thể tìm được vài thứ hay ho, nếu kiên nhẫn.”
“Chắc phải nói thật lòng là sau khi xem qua một lúc, tôi không thể không thán phục, cậu đúng là một thiên tài đấy. Cả cái thung lũng này chắc khó kiếm được chỗ nào có giá sách ra hồn như chỗ cậu đấy. Như thể mấy cuốn sách tốt đều bị cậu mua hết vậy.”
“Anh đánh giá cao gu của tôi hay đánh giá thấp sách ở nơi này vậy.”
“Cả hai. Mà giờ vẫn chưa vội kết luận được, phải lục thêm vài kệ nữa đã.”
Matthew lại bước sâu hơn giữa các kệ sách, tay lướt nhẹ trên gáy sách cũ, mắt long lanh như trẻ con bước vào tiệm kẹo. Ánh đèn tù mù rọi qua những trang giấy vàng ố, bụi bay lững lờ trong không khí. Còn tôi thì lặng lẽ đi sau, mắt vẫn để ý những vệt nước nhỏ từ chiếc áo còn ướt nhỏ giọt dọc lối đi.
Bất chợt, Matthew dừng lại, đưa tay vào một cái kệ ở giữa và lấy ra một quyển sách. Hắn phủi bụi rồi cầm lên, lật giở từng trang một cách chăm chú, ánh mắt trầm lại, tập trung đến mức quên cả xung quanh. Thấy vậy, tôi tò mò liếc qua, nhưng gáy sách đã mờ, tựa sách chẳng còn đọc được nữa, chỉ còn một mảnh giấy ố vàng phai nét mực.
“Tôi sẽ lấy quyển này. Tính tiền ở đâu vậy?”
“Đi theo tôi.” Tôi khá bất ngờ nhưng cũng chỉ cho hắn quầy thu ngân.
Khi chúng tôi ra quầy tính tiền, Matthew đặt cuốn sách xuống. Ông lão ở quầy cầm lên, ngắm nghía khá lâu.
“Nè nè cậu có tiền không?” Bất chợt Matthew quay sang hỏi.
“Anh không có sao?”
“Không, tôi cạn túi rồi. Mua cho tôi đi, xin cậu đó!”
“Thôi được, xem như quyển sách đầu tiên tôi tặng anh.”
Bỗng người tính tiền lắc đầu bảo:
“Cuốn này không phải sách của tiệm, chẳng có mã hay giá, chắc ai đó đem theo rồi bỏ quên ở kệ sách.”
“Nhưng tôi rất thích nó, bao nhiêu tiền tôi cũng trả!” Matthew vẫn khăng khăng.
“Nè, tôi đâu có giàu đến vậy?” Tôi quay sang chất vấn trước khi bị hắn rút sạch túi.
Ông già thấy thế thở dài, nhún vai, rồi cười móm mém mà bảo:
“Thôi, nếu cậu đã thích đến thế thì cứ cầm lấy đi.”
“Ông cho tôi sao?”
“Đúng vậy, cậu cứ cầm lấy đi.”
“Vậy cảm ơn ông nhiều nhá.”
Matthew nhẹ nhàng nhận lấy rồi tiếp tục đi về phía các kệ sách.
Khi đi hết dãy kệ cuối cùng, một cánh cửa sắt cũ hiện ra trong màn sương mỏng đang thấm qua lớp kính bạc màu. Đó là lối ra phía sau của khu nhà kính, lối đi mà chỉ những kẻ tò mò hoặc những người muốn lặng lẽ tránh đám đông mới dùng tới. Bên ngoài, mặt đất loang lổ những vũng nước đọng, nhão nhoét như bùn cháo, trải dài tới sát bức tường đá xám, ranh giới cuối cùng ngăn cách thung lũng với thế giới bên ngoài.
“Lúc mới vào đây tôi không để ý kĩ, giờ nhìn lại mới thấy kỳ lạ thật,” Matthew nói, mắt nheo lại. “Vật liệu làm nên bức tường kia trông đâu phải thứ quá kiên cố. Nó đúng là khá cao, nhưng nếu thật sự muốn vượt qua cũng không phải là không có cách. Vậy tại sao người dân nơi đây lại không thử vượt qua nó nhỉ, họ chưa bao giờ nghĩ đến việc đó à?”
“Nó không đơn giản như anh nghĩ đâu.” Tôi thở dài, ánh mắt không rời khỏi bức tường âm u giữa màn sương lạnh. “Đừng nói tới những người xung quanh, chính bản thân tôi cũng từng nghĩ tới việc vượt qua bức tường đó. Không ít lần. Nhưng đâu phải chỉ cần vượt qua cái bức tường đó là xong. Cứ cho là tôi có thể vượt qua được bức tường đó, nhưng sau đó thì sao? Không còn nhận được trợ cấp từ quân cảnh vệ, không có lương thực, tiền bạc thì phải sống thế nào đây. Đúng là bức tường đó không phải quá cao, nhưng mỗi người dân nơi đây đều đã dựng nên một bức tường cao hơn nhiều lần trong đầu mình.
Thứ thật sự ngăn cách họ với thế giới bên ngoài lại là chính bản thân họ. Họ sợ, ai cũng sợ sự thay đổi cả. Họ sợ cái cuộc sống hiện tại sẽ bị xáo trộn, họ sợ thứ họ tìm thấy bên kia những bức tường không phải là một cuộc sống tốt hơn như họ đã nghĩ. Là thế đó. Ai cũng đều muốn an phận bên trong này, dần dần tôi cũng bị cuốn theo những suy nghĩ đó, và cũng dần không mơ tưởng về thế giới bên ngoài nữa.”
Chúng tôi rời khu nhà kính, vòng qua con hẻm nhỏ đầy rêu trơn trượt, nơi nước mưa nhỏ xuống từng giọt từ những máng xối gãy nát. Tôi đưa Matthew đi qua những điểm thiết yếu của thung lũng – những nơi mà ai sống ở đây đều đã quá quen thuộc, đến mức không cần nhìn cũng nhớ rõ từng viên gạch nứt dưới chân.
Đầu tiên là trạm y tế, nằm lọt thỏm giữa hai tòa nhà ẩm thấp. Bức tường vôi bong tróc, tấm bảng hiệu đã hoen gỉ chỉ còn sót vài chữ đọc được. Bên trong, không gian hẹp, nồng mùi thuốc sát trùng lẫn với hơi ẩm và tiếng ho khan rền rĩ. Một y sĩ già ngồi sau chiếc bàn gỗ cũ, ánh mắt lờ đờ nhưng vẫn cố gắng mỉm cười khi thấy chúng tôi bước vào rồi bước ra.
Chúng tôi cứ thế đi băng qua dãy nhà tập thể sũng nước, nơi mùi ẩm mốc lẩn khuất trong từng khe gạch nứt. Lũ trẻ con chạy chân trần trên nền xi măng, quần áo dính bết bùn, tiếng cười của chúng vang lên lạc lõng giữa tiếng mưa như roi quất vào mái tôn. Qua khu xử lý nước, chỉ là một chiếc bồn chứa tạm bợ lọc nước mưa tí tách từ mái nhà, nơi vài người dân vẫn kiên nhẫn hứng từng giọt như thể đó là vàng. Rồi đến khu may vá, một gian chòi nhỏ lợp bạt, nơi vài bà cụ ngồi khâu lại áo choàng cũ bằng tay run rẩy, đèn dầu leo lét soi không nổi cả mặt bàn. Dọc đường, chúng tôi đi qua vài trạm điện nhỏ, nơi mỗi cơn mưa to là lại chập chờn như sắp ngắt. Một ông già đang sửa dây điện, lưng còng, miệng ngậm ống thuốc đã tắt, nhìn chúng tôi qua làn hơi nước mà không nói một lời.
Chúng tôi đi tiếp lên con dốc nhỏ phía sau khu trạm y tế cũ – lối mòn này gần như không có ai qua lại, trơn trượt và phủ rêu vì ẩm lâu ngày. Những bậc đá mòn lõm dưới dấu chân hàng năm trời. Tôi quen lối, còn Matthew thì thỉnh thoảng phải vịn tay vào thân cây mục bên đường để khỏi trượt.
Cuối cùng, cả hai dừng lại ở một mỏm đất nhô ra khỏi triền đồi, nơi không còn mái che, không còn khói bếp hay tiếng người. Chỉ có mưa rơi thưa hạt dần, gió quất lạnh buốt bên tai, và cả thung lũng trải dài bên dưới, xám xịt, loang lổ, như một tấm chăn cũ rách phủ lên những ngày tháng mục ruỗng. Những mái nhà xiêu vẹo in dưới nền trời tro. Dòng nước mưa chảy thành suối nhỏ men theo con đường lồi lõm. Tiếng chó sủa vang vẳng từ đâu đó vọng lên, nghe xa và đơn độc. Matthew đứng lặng một lúc, không nói gì. Gió thổi khiến chiếc áo choàng của hắn bay phần phật sau lưng, còn mặt nạ thì phản chiếu ánh sáng mờ nhạt như một vệt sáng lạc lõng giữa màu tro chì.
Mưa không dứt, nhưng lúc này nó chỉ còn là một lớp màn mỏng giăng qua tầm mắt, đủ để khiến không khí trở nên lạnh hơn chứ không làm nhòa đi cảnh vật. Mặt trời chưa bao giờ thật sự xuất hiện suốt những năm tháng tôi sống ở đây, nó chỉ tồn tại như một khái niệm xa xôi, một vệt sáng nhòe nhoẹt sau tầng mây dày đặc, vĩnh viễn không thể xuyên thủng. Giờ chắc đang là giữa trưa, khi mặt trời đã leo tới đỉnh đầu. Nhưng nó chỉ là một lớp xám bẩn phủ lên bầu trời, như bụi than nguội vương khắp không gian, đặc quánh, âm ỉ mà chẳng chịu tan.
“Cảnh ở đây đúng là… đẹp thật đó.” Matthew ngẩng đầu nhìn trời, ánh mắt đượm chút gì đó gần như luyến tiếc.
“Ừ.” Tôi gật đầu, cũng nhìn theo ánh mắt hắn. “Lúc nhỏ tôi vẫn thường hay tới đây, vào những ngày mưa không quá lớn. Có lẽ vì ở đây cao, nên ta có thể nhìn thấy được cả thung lũng mà không bị che khuất… Cảm giác giống như đang đứng ngoài cuộc sống dưới kia một chút.”
Tôi im lặng một thoáng, rồi khẽ nói:
“Tới đây là hết rồi.”
“Hết rồi sao?” hắn quay sang, có chút tiếc nuối.
“Ừ.” Tôi gật đầu. “Tôi đã dẫn anh đi hết những chỗ tôi biết, những chỗ tôi từng sống, từng đi qua. Không còn gì đặc biệt nữa đâu.”
Matthew khẽ cười, một nụ cười nhẹ nhưng không hề chế giễu. “Vậy sao. Thế thì hôm nay đúng là một ngày ý nghĩa. Cảm ơn cậu.”
Một cơn gió quét qua đỉnh đồi, mang theo cái lạnh âm thầm len vào tận bên trong lớp áo. Hơi nước phảng phất trong không khí khiến làn da tê dại. Dưới chân đồi, những mái nhà ướt sũng lại bắt đầu co ro chờ đêm. Mưa vẫn chưa dừng, từng hạt rơi đều đặn xuống con đường đất đã nhão nhoẹt suốt cả ngày. Không ai nói gì trong giây lát.
Matthew nhìn xuống khung cảnh ấy một lúc lâu. Hắn không nói gì. Chỉ là đứng đó, mắt nhíu lại như đang cố lưu giữ điều gì vào trí nhớ. Rồi như sực tỉnh, hắn quay sang tôi, môi nhếch nhẹ thành một nụ cười vừa đủ để xua tan khoảng lặng.
“Vậy là tham quan cũng đủ rồi.” Hắn nói, giọng nhẹ nhưng rõ ràng. “Chúng ta đi thôi.”
“Đi? Đi đâu?”
“Đi làm điều cậu muốn làm chứ còn gì.”
“Tới lúc rồi sao?”
Hắn gật đầu, không cần nói thêm gì nữa.
Tôi siết chặt tay, như thể trong phút chốc đã trở nên tỉnh táo hẳn ra giữa lớp mưa lất phất. Bầu trời vẫn xám, gió vẫn thổi, mưa vẫn rơi. Nhưng trong lòng tôi lúc ấy có gì đó vừa thay đổi. Không phải vì hy vọng, thứ ấy đã mục ruỗng từ lâu, mà là vì tôi biết: kể từ giờ, mọi bước chân sẽ không còn chỉ là những vòng lặp vô nghĩa quanh thung lũng nữa.
“Đi thôi.”
Chúng tôi rời bước. Lưng quay về phía thung lũng đang chìm dần vào màn mưa chiều. Chuyến tham quan cứ thế khép lại, và cùng nó, là một khởi đầu khác, lặng lẽ nhưng không thể đảo ngược.