(Đã dịch) Bắc Dương Kiêu Hùng - Chương 231: Thẩm Dương xưởng binh khí
Suốt mấy tháng cuối năm 1906 và đầu năm 1907, sau khi trở lại Quan Ngoại Phụng Thiên, Triệu Đông Vân đã dồn hết tâm sức chủ yếu vào công cuộc chỉnh đốn nội bộ khu vực. Về mặt quân sự, ông bổ sung đầy đủ quân số cho ba sư năm lữ, đồng thời tận dụng số binh lực hữu hạn để bố phòng ba tỉnh Đông Bắc. Ông chỉnh biên đội quân tuần cảnh, biến họ thành mười hai đoàn tuần cảnh với gần hai vạn người, và cũng tiến hành tiễu sát một lượng lớn thổ phỉ trong nội địa ba tỉnh Đông Bắc. Việc này vừa để tăng cường kinh nghiệm thực chiến cho quân đội, vừa quét sạch nạn trộm cướp ở địa phương.
Về chính vụ, ông đã tổ chức Nha Tuần Duyệt Sứ ba tỉnh Đông Bắc, định ra một lượng lớn cơ cấu hành chính, đồng thời thuận theo thời cuộc mà thành lập thêm một số cơ cấu hành chính kiểu mới. Từ đó, ông đặt nền móng vững chắc cho cơ cấu hành chính quân chính hiện đại hóa của ba tỉnh Đông Bắc. Lấy Nha Tuần Duyệt Sứ ba tỉnh Đông Bắc làm đầu, Bộ Tư lệnh Lục quân ba tỉnh Đông Bắc cùng Quốc vụ viện tồn tại song song, lại có Bí thư trưởng Văn phòng làm đầu mối hành động, cùng với việc đôn đốc giám sát tư pháp tại các cơ quan, từ đó hình thành một hệ thống hành chính do quân đội, quan văn, đầu mối và tư pháp cùng nhau xây dựng.
Về kinh tế, Triệu Đông Vân đã tổ chức Ngân hàng Phụng Thiên, phát hành tiền đồng và tiền giấy Phụng Thiên. Đồng thời, ông cũng ra sức ủng hộ ngành tài chính dân gian, thúc đẩy các hiệu đổi tiền truyền thống và ngân hàng tư nhân tiến hành cải cách ngân hàng hiện đại hóa.
Còn trong lĩnh vực công thương, ngoài việc tiếp tục phát triển khu công nghiệp Hồ Lô Đảo, ông còn chuẩn bị mở khu công nghiệp Doanh Khẩu, hô vang khẩu hiệu xây dựng 'căn cứ công nghiệp đậu nành đẳng cấp thế giới'. Ông lấy nguồn đậu nành dồi dào của Đông Bắc làm cơ sở, phát triển sâu rộng ngành công nghiệp chế biến đậu nành, và xuất khẩu hai sản phẩm chế biến chính của đậu nành là bột đậu và dầu đậu nành sang Nhật Bản, Châu Âu, mang về nguồn ngoại tệ cực kỳ quý giá cho ba tỉnh Đông Bắc.
Ngoài việc phát triển sâu rộng ngành công nghiệp đậu nành, Triệu Đông Vân đương nhiên sẽ không từ bỏ hay xem nhẹ các ngành công nghiệp khác. Ví dụ như ngành dệt may, suốt hai năm qua đây vẫn luôn là hạng mục công nghiệp trọng điểm được ba tỉnh Đông Bắc ưu tiên hỗ trợ. Cục Công Thương đã đặt ra hai mục tiêu lớn: một là trọng điểm phát triển ngành tơ tằm ở khu vực An Đông. Ngành tơ tằm ở An Đông dù không sánh bằng quy mô của các khu vực phía Nam như Chiết Giang, Giang Tô, nhưng ở khu vực phía Bắc thì vẫn coi là tạm ổn. Hơn nữa, tơ tằm là một trong số ít sản phẩm đương thời của Trung Quốc có thể tạo ra ngoại tệ trên phạm vi lớn, nên không kể quy mô lớn nhỏ, cứ phát triển trước đã, kiếm được bao nhiêu ngoại tệ thì hay bấy nhiêu.
Thứ hai chính là trọng điểm phát triển ngành bông dệt lấy khu công nghiệp Hồ Lô Đảo làm hạt nhân, bao gồm các sản phẩm bông dệt như sợi tơ, vải dệt, nhuộm vải và các loại khác. Tuy nhiên, ngành bông vải chịu áp lực khá lớn, chúng không chỉ cạnh tranh với vải dệt máy từ Nhật Bản, Anh Quốc mà còn phải cạnh tranh với các sản phẩm dệt may nội địa phía Nam, điển hình là vải dệt thủ công Nam Thông.
Đậu nành và dệt may, hai ngành công nghiệp lớn này chính là những ngành công nghiệp trụ cột được Triệu Đông Vân xác định cho hiện tại và tương lai của ba tỉnh Đông Bắc. Ngoài hai ngành này, còn có các ngành như sản xuất giấy, bột mì, chưng cất rượu, khai thác mỏ, cơ khí, hóa chất. Tuy nhiên, quy mô của những ngành này vẫn chưa lớn, tạm thời chưa thể trở thành trụ cột kinh tế của ba tỉnh Đông Bắc.
Ngày nay, ba tỉnh Đông Bắc vẫn chưa phải là căn cứ công nghiệp nặng như đời sau, mà là một khu vực kinh tế nông nghiệp điển hình. Sản phẩm chủ yếu nhất của nó trên thực tế không phải sắt thép hay than đá, mà là lúa mì và đậu nành. Và sự phát triển công nghiệp trên thực tế cũng chủ yếu dựa vào hai loại nông sản này.
Triệu Đông Vân không phải không muốn xây dựng vài nhà máy thép quy mô cực lớn để phát triển công nghiệp nặng, nhưng vấn đề là ông không có tiền để đầu tư. Lùi một bước, cho dù có tiền đầu tư, số sắt thép luyện ra đó ông sẽ bán cho ai đây?
Bất kỳ sản xuất công nghiệp nào cũng cần có thị trường chống đỡ. Không thể nói Triệu Đông Vân há miệng ra, phất tay một cái là có thể dựng lên một loạt nhà xưởng lớn, rồi những nhà máy đó sẽ sản xuất sản phẩm để mang lại thuế cho ông. Những sản phẩm do các nhà máy này sản xuất ra còn phải có thị trường tiêu thụ nữa.
Lấy ví dụ về vải vóc mà mọi người quen thuộc nhất, loại vải được sản xuất ra không phải cứ nói bán là có thể bán được ngay. Anh còn phải cạnh tranh với vải dệt máy, và các thương gia vải vóc nội địa khác nữa.
Nói về sắt thép, nhu cầu sắt thép trong nước đầu năm nay chủ yếu tập trung vào hai lĩnh vực: một là đường sắt, một là công nghiệp quân sự. Còn các khoản tiêu thụ sắt thép dân dụng khác thì gần như không đáng kể. Trong lĩnh vực công nghiệp quân sự cũng không sử dụng nhiều. Nhà máy thép phụ thuộc của Nhà máy cơ khí Phúc Đồng, tức là Nhà máy thép Đường Sơn, hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu sắt thép của Nhà máy cơ khí Phúc Đồng. Sở dĩ Nhà máy cơ khí Phúc Đồng vẫn cần nhập khẩu không ít vật liệu sắt thép là vì những vật liệu cần nhập khẩu này đều là thép hợp kim chất lượng cao, ví dụ như vật liệu dùng cho nòng pháo, mà trong nước, kể cả Nhà máy thép Đường Sơn, đều không thể luyện chế loại thép dùng cho nòng pháo này.
Về ray đường sắt, hiện tại trong nước không có nhiều tuyến đường sắt được xây dựng. Các tuyến đường sắt như Kinh Hán và Việt Hán ở phía Nam đều do Nhà máy thép Hán Dương độc quyền cung cấp ray. Còn đường sắt Kinh Trương ở phía Bắc cùng hai tuyến đường sắt chính ở ba tỉnh Đông Bắc thì do Nhà máy thép Đường Sơn đảm nhiệm.
Về nhu cầu sắt thép dân dụng, tình hình ở phía Đông Bắc lại khá hơn. Việc Triệu Đông Vân dốc sức phát triển Khu Cộng Hòa Hồ Lô Đảo và khu công nghiệp Doanh Khẩu cũng đòi hỏi một lượng lớn sắt thép. Tuy nhiên, lượng sắt thép này Nhà máy thép Đường Sơn đã có thể đáp ứng.
Nhà máy thép Đường Sơn, tức là nhà máy thép phụ thuộc của Nhà máy cơ khí Phúc Đồng, có quy mô đầu tư không hề nhỏ. Sau nhiều năm đầu tư, tổng số vốn đầu tư vào Nhà máy cơ khí Phúc Đồng đã vượt quá 3 triệu lạng bạc. Dù sản lượng hiện tại vẫn chưa bằng Nhà máy thép Hán Dương, nhưng đã được xem là nhà máy thép lớn thứ hai Trung Quốc.
Tuy nhà máy này được quy hoạch xây dựng với tư cách là nhà máy thép phụ thuộc của Nhà máy cơ khí Phúc Đồng, nhưng sản lượng sắt thép của nó quá lớn. Nhà máy cơ khí Phúc Đồng chỉ có thể tiêu thụ một phần, phần lớn còn lại vẫn được tiêu thụ bởi đường sắt Kinh Trương và các tuyến đường sắt khác ở ba tỉnh Đông Bắc. Thật ra, nếu không có hai thị trường lớn là đường sắt Kinh Trương và tuyến đường sắt An Phụng đang tiến hành cải tạo khổ đường tiêu chuẩn hiện nay chống đỡ, Nhà máy thép Đường Sơn sẽ rơi vào tình thế khó xử là vừa mới xây xong đã phải ngừng s��n xuất.
Vì vậy, trong tình hình thị trường không lớn, đồng thời đã có một Nhà máy thép Đường Sơn, Triệu Đông Vân lẽ nào lại bỏ thêm vài triệu lạng bạc nữa để xây dựng một nhà máy thép khác cạnh tranh với Nhà máy thép Đường Sơn? Cho nên, tạm thời mà nói, ngành công nghiệp sắt thép không phải là ngành được Triệu Đông Vân ưu tiên phát triển.
Đương nhiên, không ưu tiên phát triển sắt thép không có nghĩa là Triệu Đông Vân không phát triển các ngành công nghiệp nặng khác. Ví dụ như ngành than đá, ông cũng rất ủng hộ. Vì sao? Bởi vì lượng than đá khai thác ra có thị trường tiêu thụ. Nền công nghiệp trong và ngoài nước ngày nay có thể nói là nền công nghiệp hơi nước. Tàu hỏa vận hành cần than đá, nhà máy vận hành cần than đá, đội thuyền vận hành cũng cần than đá. Thị trường than đá trong nước vẫn luôn được mở rộng liên tục. Cho dù bên Đường Sơn đã có vài nhà máy than đá quy mô lớn, nhưng Triệu Đông Vân vẫn kiên quyết quyết định khai thác than đá quy mô lớn ở Phụng Thiên, chuẩn bị cung cấp cho khu công nghiệp Hồ Lô Đảo và khu công nghiệp Doanh Khẩu trong tương lai.
Trọng điểm khai thác của ông chính là Phủ Thuận. Trong Chiến tranh Nga - Nhật, Phủ Thuận đã sản xuất một lượng lớn than đá, và than của nó được sử dụng rộng rãi trong quân đội Nga. Quân Nga cũng đóng quân khá nhiều binh lính tại Phủ Thuận, bởi vì quân Nhật ở mặt trận Liêu Dương mãi không thể đột phá, nên Phủ Thuận vẫn nằm dưới sự kiểm soát của quân Nga. Sau khi Chiến tranh Nga - Nhật kết thúc, quân Nga rút lui, tất cả các mỏ quặng ở Phủ Thuận khôi phục hoạt động bình thường, và Triệu Đông Vân cũng thành lập 'Cục Mỏ Phủ Thuận' tại đây để quản lý toàn diện việc sản xuất than ở khu vực mỏ.
Ông còn tiến cử Công ty Mỏ Bắc Dương Loan Châu, cũng chính là một trong hai tiền thân của mỏ than Khai Loan danh tiếng lẫy lừng trong lịch sử. Tuy nhiên, công ty này hiện đã khác với lịch sử. Trong lịch sử, công ty này thuộc sở hữu nhà nước, nhưng do sự gia nhập của công ty Phúc Đồng, nó đã trở thành một doanh nghiệp thương mại. Chỉ là, giống như nhiều doanh nghiệp thương mại khác, nó có một điều khoản rằng 'người phương Tây không được trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia góp cổ phần'. Công ty mỏ này chủ yếu do Chu Học Hi chủ quản, cùng với cửa hàng bạc Thiên Tân quan và công ty Phúc Đồng góp vốn đầu tư ban đầu.
Ngoài việc tiến cử Công ty Mỏ Loan Châu để thành lập chi nhánh tại Phủ Thuận, Triệu Đông Vân còn chỉ thị Cục Công nghiệp và Thương mại trực thuộc Bộ Công thương bỏ vốn cùng với công ty Phúc Đồng và vài nhà thương nhân khác hợp vốn thành lập mỏ than Phủ Thuận, đồng thời trực tiếp thôn tính và thu mua vài công ty mỏ than nhỏ hiện có ở Phủ Thuận, ví dụ như công ty Hoa Hưng Lợi do Vương Thừa Hiểu chủ quản.
Thậm chí, để khai thác than đá Phủ Thuận, Công ty Đường sắt Phụng Thiên còn đầu tư xây dựng tuyến đường sắt nhánh từ Phụng Thiên đến Phủ Thuận.
Nếu nói đối với ngành than đá, Triệu Đông Vân chỉ hỗ trợ ở mức độ nhất định, thì đối với ngành công nghiệp quân sự, ông hoàn toàn dốc toàn lực ủng hộ.
Bởi vì Triệu Đông Vân, giống như Viên Thế Khải năm đó, là muốn xây dựng xưởng binh khí nhưng trong tay không có tiền. Muốn xây dựng một xưởng binh khí có quy mô tương đương với Nhà máy cơ khí Phúc Đồng, riêng chi phí mua sắm thiết bị phần cứng đã phải bỏ ra ít nhất ba đến năm triệu lạng bạc. Mà Cục Tài chính ba tỉnh Đông Bắc hiện tại còn không thể chi ra 4 triệu quân phí cần thiết để tăng cường quân bị, lấy đâu ra tiền mà xây xưởng binh khí? Bởi vậy, ông vẫn phải đi theo con đường thương mại hóa.
Nếu Nhà máy cơ khí Phúc Đồng năm đó không thương mại hóa, không thu hút một lượng lớn tư bản từ các thương nhân phương Bắc cùng đầu tư, thì xưởng binh khí với tài sản hơn chục triệu lạng bạc này dù chỉ dựa vào Bắc Dương hay bản thân Triệu Đông Vân cũng không thể nào xây dựng được.
Cho nên, ông đã dùng các biện pháp hành chính để khiến Nhà máy cơ khí Phúc Đồng điều động tài chính và nhân sự đến Thẩm Dương để thành lập phân xưởng. Thế nhưng, việc thành lập phân xưởng này đòi hỏi số vốn đầu tư lên đến vài triệu, Nhà máy cơ khí Phúc Đồng trong một thời gian ngắn không thể chi ra nhiều tiền mặt đến vậy. Triệu Đông Vân li��n chỉ đạo Ngân hàng Phụng Thiên cung cấp khoản vay hỗ trợ cho họ, đồng thời kết nối để tìm kiếm các thương nhân có thực lực cùng góp vốn.
Cuối cùng, đã hình thành tỷ lệ đầu tư trong đó Nhà máy cơ khí Phúc Đồng chiếm sáu phần mười cổ phần, và các thương nhân khác chiếm bốn phần mười.
Việc này đã tốn không ít công sức mới có thể xây dựng được xưởng binh khí Thẩm Dương một cách tự hào. Hiện tại đã bước vào giai đoạn xây dựng nhà xưởng, lắp đặt một số thiết bị cơ bản. Còn nhiều thiết bị khác đã được đặt hàng từ Anh, Đức và thậm chí cả Mỹ, dự kiến trong vài tháng tới sẽ được vận chuyển về nước để lắp đặt và thử nghiệm. Dự kiến đầu năm sau có thể thử sản xuất quy mô nhỏ, còn việc đạt được sản lượng thiết kế thì phải là chuyện của những năm sau nữa.
Ngoài xưởng binh khí Thẩm Dương đang chuẩn bị mở cửa, Triệu Đông Vân còn thiết lập ba cơ sở sửa chữa trong nội bộ quân đội, lần lượt là cơ sở sửa chữa Cáp Nhĩ Tân, cơ sở sửa chữa Cẩm Châu, và cơ sở sửa chữa Thẩm Dương. Ba cơ sở sửa chữa này đã tiếp nhận một số xưởng binh khí nhà nước cũ cùng với một phần thiết bị cũ kỹ và nhân sự của các xí nghiệp khác ở khu vực Đông Bắc từ thời tiền Thanh. Quy mô và kỹ thuật tự nhiên không thể lớn đến mức nào, nhưng việc sửa chữa súng ống vẫn không phải là vấn đề lớn. Cũng không thể vì súng trường hỏng mà phải mang đến Nhà máy cơ khí Phúc Đồng để sửa chữa được.
Và khi Triệu Đông Vân đang phát triển công thương, mở rộng quân đội ở Đông Bắc, quân đội của Đoàn Kỳ Thụy và Vương Sĩ Trân lúc này cũng đang giao chiến với Liên bang phương Nam tại khu vực Lưỡng Giang, Hồ Quảng.
Bản dịch này được chắt lọc, gửi trao riêng đến những tâm hồn đồng điệu tại truyen.free.