Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Bắc Dương Kiêu Hùng - Chương 374: Tài chính chi Phụng Thiên

Việc Tô hệ thu được bao nhiêu nguồn tài chính tại các vùng lãnh thổ kiểm soát vào năm 1907 là một vấn đề khá phức tạp. Bởi lẽ, khi ấy, phạm vi kiểm soát của Tô hệ đang trong giai đoạn mở rộng nhanh chóng. Ngoại trừ tình hình thu thuế tại ba tỉnh Đông Bắc tương đối ổn định, việc thu thuế ở các vùng mới kiểm soát khác đều tồn đọng rất nhiều vấn đề.

Hơn nữa, công tác thu thuế cũng còn nhiều bất cập, đặc biệt tại ba tỉnh rộng lớn mới được kiểm soát là Trực Lệ, Sơn Đông và Hà Nam. Tình trạng thu quá mức, thu thiếu, thu trùng lặp và bỏ sót diễn ra phổ biến. Nhiều khoản thuế cơ bản không được nộp vào Bộ Tài chính, mà bị chính quyền cấp tỉnh, thậm chí chính quyền phủ huyện địa phương trực tiếp trưng dụng. Tương tự, vì là vùng mới kiểm soát, còn tồn tại nhiều tình trạng tịch thu tài sản, thậm chí cướp bóc.

Do đó, tình hình thu chi tài chính tổng thể của Tô hệ năm 1907 là một mớ sổ sách hỗn loạn. Ngay cả Hùng Hi Linh cũng không thể làm rõ các chi tiết. Tình hình thu chi của Bộ Tài chính Trung ương may mắn là có thể kiểm soát, nhưng đối với tài chính địa phương thì lại rất khó làm rõ. Hùng Hi Linh và Chu Học Hi cùng những người khác chỉ có thể đưa ra cho Triệu Đông Vân số liệu về số tiền hiện có trong Bộ Tài chính và số nợ bên ngoài. Còn tổng thu nhập và chi tiêu của năm 1907 thì đừng nói là không rõ, thậm chí còn không c�� số liệu ước chừng.

Vì vậy, muốn dựa vào tình hình thu chi tài chính của Tô hệ năm 1907 để phán đoán tình hình năm 1908 về cơ bản là không thể nào.

Để làm rõ tình hình thu chi tài chính của Tô hệ năm 1908, công tác quan trọng nhất là phổ biến áp dụng chế độ cải cách thuế đã được thực hiện vài năm tại Phụng Thiên cho các tỉnh Trực Lệ, Sơn Đông, Hà Nam.

Trước đây, Tô hệ đã phổ biến chế độ cải cách thuế tại Phụng Thiên và toàn bộ ba tỉnh Đông Bắc với hai mục đích chủ yếu. Thứ nhất là tập trung quyền lực tài chính về trung ương, tức là chính quyền địa phương không còn quyền trực tiếp thu thuế, mà thay vào đó, Bộ Tài chính sẽ thống nhất trưng thu các loại thuế. Sau đó, một phần các khoản thuế này sẽ được phân bổ làm thuế đất để lại cho chính quyền địa phương sử dụng, phần còn lại thì là thuế quốc gia nộp vào quốc khố của Bộ Tài chính.

Thứ hai là hợp nhất các loại thuế, đơn giản hóa hình thức thu thuế, loại bỏ vô số loại thuế tạp nham, phi lý và sưu cao thuế nặng. Các khoản thuế được tái cơ cấu thành c��c hạng mục như thuế nông nghiệp, thuế doanh thu, thuế giá trị tài sản, thuế rượu bia thuốc lá, v.v. Lấy tỉnh Phụng Thiên sau cải cách thuế làm ví dụ, nông dân từ nay về sau chỉ cần nộp một loại thuế duy nhất là thuế nông nghiệp, còn các loại thuế tạp nham và sưu cao thuế nặng khác đều bị bãi bỏ.

Sau khi thử nghiệm, chế độ cải cách thuế không phải là giảm mạnh tỉ lệ thuế mà nông dân phải nộp. Trên thực tế, xét về mức thuế suất, so với thời Thanh trước đây còn có phần tăng lên. Điều này đã khiến thu nhập tài chính không những không giảm mà ngược lại còn tăng lên đáng kể nhờ việc thống nhất thu thuế.

Nhưng tại sao chế độ cải cách thuế, vốn trên thực tế nâng cao mức thu thuế, lại được nông dân và giới công thương hoan nghênh? Đó là bởi vì từ nay về sau, dân chúng chỉ cần nộp thuế chính thống, không cần phải đóng thêm các loại thuế tạp nham và sưu cao thuế nặng nữa!

Đối với dân chúng, điều khiến họ sợ hãi từ trước đến nay không phải là quốc gia thu thuế chính thống, mà là việc chính quyền phủ huyện, thậm chí cá biệt quan lại mượn danh nghĩa quốc gia để trắng trợn vơ vét tài sản. Trong các triều đại từ giữa đến cuối thời kỳ trước Thanh, khoản thuế mà quốc gia trực tiếp thu từ nông dân thực ra không cao, nhưng tại sao vẫn oán than khắp nơi? Đó chính là vì quan lại mượn danh nghĩa quốc gia để thực hiện sưu cao thuế nặng.

Tô hệ thực hiện chế độ cải cách thuế mới, một mặt có thể thống nhất tài chính trung ương, gia tăng thu thuế; mặt khác cũng giúp Tô hệ nhận được sự ủng hộ của dân chúng, giảm thiểu tình trạng sưu cao thuế nặng.

Việc Tô hệ phổ biến chế độ cải cách thuế, ở một mức độ nhất định, có thể chấn chỉnh tình hình thu thuế, gia tăng một phần thu thuế trung ương. Tuy nhiên, chế độ cải cách thuế chỉ giúp việc thu thuế thuận lợi hơn một chút, khiến các khoản thuế vốn chảy vào túi quan viên trở về quốc khố, chứ không thể làm cho thu thuế gia tăng đột biến một cách đáng kể.

Tuy nhiên, tổng số thuế mà Tô hệ có thể thu được từ các vùng lãnh thổ kiểm soát lại có một mức độ có thể dự đoán được.

Theo phỏng đoán c��a nhiều quan chức Bộ Tài chính, tổng số thuế mà Tô hệ có khả năng thu được ở các tỉnh vào năm 1908 đại thể như sau!

Trong đó, nổi bật nhất chính là tỉnh Phụng Thiên. Nhờ sự đầu tư mạnh mẽ của Triệu Đông Vân trong vài năm gần đây, công cuộc di dân khai hoang tại Phụng Thiên đã đạt được hiệu quả đáng kể. Không chỉ gia tăng thu nhập thuế nông nghiệp, mà sản lượng nông sản tăng đáng kể còn thúc đẩy ngành chế biến nông sản phát triển nhanh chóng, tiêu biểu nhất chính là ngành công nghiệp đậu nành.

Kể từ khi đậu nành Đông Bắc thâm nhập thành công thị trường châu Âu, kim ngạch xuất khẩu đậu nành Đông Bắc tăng vọt, gần như có thể dùng từ "phi như tên lửa" để hình dung. Năm 1905, kim ngạch xuất khẩu đậu nành chỉ khoảng bảy, tám vạn tấn, khi đó thị trường chủ yếu của đậu nành Đông Bắc vẫn là trong nước.

Nhưng đến năm 1906, nhờ thị trường châu Âu được mở ra thành công, đậu nành Đông Bắc đã xuất khẩu sang châu Âu và Nhật Bản tổng cộng khoảng 30 vạn tấn. Một năm sau, vào năm 1907, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm li��n quan đến ngành đậu nành Đông Bắc lại tăng gấp đôi, đạt khoảng 60 vạn tấn. Bộ Công Thương dự kiến, sang năm, kim ngạch xuất khẩu ngành đậu nành Đông Bắc có hy vọng vượt 80 vạn tấn.

Mặc dù giá đậu nành trên thị trường quốc tế hai năm qua có phần sụt giảm, nhưng không thể ngăn được lượng xuất khẩu đậu nành Đông Bắc liên tục tăng gấp bội trong mấy năm qua. Hơn nữa, cùng với việc giá đậu nành giảm, giá dầu nành sau khi chế biến lại tiếp tục tăng cao. Điều này không làm giảm tổng kim ngạch xuất khẩu của các ngành liên quan đến đậu nành Đông Bắc. Năm 1907, ngành đậu nành của ba tỉnh Đông Bắc, bao gồm đậu nành trực tiếp xuất khẩu, dầu nành sơ chế, bã đậu và các sản phẩm khác, có tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 42 triệu viên. Sang năm, con số này có hy vọng đột phá lên 60 triệu viên.

Hơn nữa, tính cả các mặt hàng xuất khẩu khác của ba tỉnh Đông Bắc, tổng kim ngạch xuất khẩu của ba tỉnh này sang năm có hy vọng vượt 90 triệu viên. Đến lúc đó, kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu viên cũng không còn xa.

Giá đậu nành giảm, giá dầu nành tăng cũng trực tiếp khiến các nhà kinh doanh ngành đậu nành Đông Bắc bắt đầu chuyển từ xuất khẩu đậu nành trực tiếp sang ngành chế biến đậu nành. Chỉ riêng trong năm 1907, tại hai khu công nghiệp Hồ Lô Đảo và Doanh Khẩu đã có tới 38 nhà máy ép dầu lớn nhỏ mới được khai trương.

Ngoài ngành đậu nành trụ cột, ngành dệt mới nổi tại Phụng Thiên trong mấy năm gần đây cũng phát triển tương đối nhanh chóng. Kể từ sau chiến tranh Nga-Nhật, vải dệt máy của ngoại thương gần như hoàn toàn bị đẩy khỏi thị trường ba tỉnh Đông Bắc. Những thị trường bỏ trống này gần như bị các doanh nghiệp dệt tư nhân miền Bắc chiếm giữ, tiêu biểu là Nhà máy Vải Phúc Đồng, Công ty Dệt Hồ Lô Đảo.

Khi chiến tranh Nga-Nhật kết thúc, vải dệt máy muốn một lần nữa tiến vào thị trường Đông Bắc, nhưng họ phát hiện thị trường này đã bị các doanh nghiệp dệt tư nhân bản địa với nguồn vốn miền Bắc, như Nhà máy Vải Phúc Đồng, Công ty Dệt Hồ Lô Đảo, kiểm soát hoàn toàn.

Ngành đậu nành, ngành dệt, cùng với ngành chưng cất rượu truy��n thống, đó là những ngành kinh tế trụ cột hiện tại của Phụng Thiên. Còn về quặng sắt, mỏ than, mặc dù đã có mỏ than Phủ Thuận, nhưng vào thời đại này, Đông Bắc vẫn chưa phải là một cơ sở công nghiệp nặng. Tỉ trọng của công nghiệp nặng trong kinh tế Phụng Thiên là không đáng kể.

Sự phát triển nhanh chóng của ngành đậu nành và ngành dệt một cách tự nhiên cũng kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp khác như vận tải, tài chính, thậm chí cơ khí và than đá.

Trong Trung Quốc đương đại, một nơi có sự phát triển kinh tế nhanh chóng như vậy chỉ có Phụng Thiên. Trước chiến tranh Nga-Nhật, Phụng Thiên vẫn chỉ là một tỉnh bình thường. Nhưng chỉ trong vỏn vẹn ba bốn năm, Phụng Thiên đã phát triển thành một trong những tỉnh có nền kinh tế mạnh nhất cả nước.

Theo thống kê sơ bộ của Bộ Tài chính, năm 1907, Phụng Thiên với thu nhập tài chính cả năm đạt 37 triệu viên, đứng thứ ba trong cả nước, chỉ sau hai tỉnh Giang Tô và Quảng Đông, nhưng đã vượt qua Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Chiết Giang, Sơn Đông, Trực Lệ (không tính khu hành chính Đường Sơn).

Vậy còn sang năm thì sao?

Bộ Tài chính dự đoán, sang năm, riêng tỉnh Phụng Thiên sẽ có thu nhập tài chính là 50 triệu viên. Cộng thêm hai tỉnh Hắc Long Giang và Cát Lâm, thu nhập tài chính của ba tỉnh Đông Bắc có hy vọng đột phá 70 triệu viên.

Không hề nghi ngờ, ba tỉnh Đông Bắc, hay cụ thể hơn là tỉnh Phụng Thiên, chính là nền tảng để Tô hệ tranh giành bá quyền trong nước!

Hơn nữa, còn có một điểm đáng để làm rõ là: Mặc dù sự phát triển nhanh chóng của Phụng Thiên có liên quan đến sự ủng hộ của Triệu Đông Vân, nhưng đó không phải là nhân tố quyết định. Triệu Đông Vân chỉ là biết thời thế mà thôi, nói trắng ra là ông ta chỉ việc nhặt tiền trên đống tiền đã có sẵn.

Bởi vì trong dòng thời gian gốc không có Triệu Đông Vân, nhưng tỉnh Phụng Thiên vẫn phát triển nhanh chóng. Trước khi Thanh triều diệt vong, tỉnh này đã trở thành tỉnh kinh tế lớn thứ ba trong cả nước, và sau khi Thanh triều diệt vong, thậm chí còn vượt qua Quảng Đông và Giang Tô để trở thành tỉnh kinh tế mạnh nhất cả nước.

Ngoài Phụng Thiên, nền tảng của Tô hệ, khu hành chính Đường Sơn, trên danh nghĩa vẫn thuộc tỉnh Trực Lệ nhưng đã trực tiếp thuộc quyền quản lý của trung ương, cũng có tầm quan trọng không thể thay thế đối với Tô hệ.

Khu hành chính Đường Sơn, bao gồm phủ Vĩnh Bình, phủ Thường Đức của Trực Lệ và một phần khu vực Mông Cổ, có diện tích trực thuộc không hề nhỏ. Dù chưa chính thức thành lập tỉnh, nhưng hiện tại, h�� thống hành chính và tài chính của khu vực này đã không còn liên quan nhiều đến Trực Lệ.

Khu vực Đường Sơn nổi tiếng trong nước tự nhiên là nhờ ngành công nghiệp nặng hàng đầu của mình, hay nói thẳng ra là Nhà máy Cơ khí Phúc Đồng!

Tầm quan trọng của Nhà máy Cơ khí Phúc Đồng đối với Tô hệ thì không cần nhấn mạnh thêm nữa. Song, tầm quan trọng của Nhà máy Cơ khí Phúc Đồng đối với chính quyền địa phương khu hành chính Đường Sơn cũng không thể xem nhẹ; nói rằng chỉ một nhà máy này đã chống đỡ toàn bộ sự phát triển kinh tế của khu vực Đường Sơn cũng không quá lời.

Ngoài xưởng binh khí vốn có, Nhà máy Cơ khí Phúc Đồng còn nắm giữ toàn bộ cổ phần của hơn mười công ty con như Nhà máy Sắt thép Đường Sơn, Nhà máy Diêm Đường Sơn, Nhà máy Hóa chất Đường Sơn, v.v. Phần lớn các công ty con này trước đây đều là các bộ phận trực thuộc Nhà máy Cơ khí Phúc Đồng; ví dụ, nhà máy diêm được tách ra từ nhà máy thuốc súng. Ngoài ra, Phúc Đồng còn sở hữu Đại học Công nghiệp Đường Sơn, Bệnh viện trực thuộc Phúc Đồng và Nhà máy Điện Đường Sơn.

Trong đó, Nhà máy Sắt thép Đường Sơn phát triển càng nhanh chóng. Ban đầu, nhà máy này đã cung cấp đường ray cần thiết cho việc xây dựng nhiều tuyến đường sắt trong nước như Kinh Trương, Trung Đông. Sau khi hợp đồng đường sắt Tân Phổ, Long Hải được ký kết, căn cứ quy định hợp đồng, vật liệu cần thiết để xây dựng đường sắt phải ưu tiên mua sắm từ Trung Quốc, chỉ khi Trung Quốc không thể sản xuất mới được nhập khẩu. Công ty Sắt thép Đường Sơn, với tư cách là một trong hai doanh nghiệp sắt thép duy nhất của Trung Quốc, đồng thời cũng là doanh nghiệp sắt thép duy nhất mà Tô hệ kiểm soát, đương nhiên không nghi ngờ gì đã nhận được các đơn đặt hàng lớn.

Nhà máy Vật liệu Gỗ trực thuộc Nhà máy Cơ khí Phúc Đồng cũng thu lợi không nhỏ từ các đơn đặt hàng tà vẹt gỗ, còn Nhà máy Cơ khí trực thuộc cũng nhận được rất nhiều đơn đặt hàng máy móc.

Nếu nói trong các dự án đường sắt Tân Phổ và Long Hải, ngoài người nước ngoài ra, ai là người hưởng lợi lớn nhất, thì không hề nghi ngờ đó chính là Nhà máy Cơ khí Phúc Đồng.

Sự tinh túy của ngôn từ và tình tiết truyện chỉ có thể tìm thấy tại truyen.free, qua bàn tay biên dịch công phu.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free