(Đã dịch) Đại Thời Đại 1958 - Chương 634: Song trụ chiến lược
Bề ngoài, bức thư không có vẻ gì là một chuyện trọng đại, nhưng những thông tin bên trong lại không hề đơn giản như vậy. Chính sách của Mỹ đối với Cuba là vô điều kiện tiếp nhận người tị nạn Cuba, nhưng những tù nhân của khối Liên Xô ở Cuba chắc chắn không thuộc diện này. Việc những người này một khi nhập quốc tịch Cuba cho thấy kế hoạch mà Serov và Castro từng bàn bạc từ rất lâu trước đây đã bắt đầu có hiệu quả. Anh em nhà Castro đang chuẩn bị lợi dụng nhóm người này để phản công Mỹ.
Không lâu sau đó, tại La Habana, Raul Castro nhận được thư hồi âm của Serov. Trong thư không nói gì nhiều, chỉ đề cập việc bản thân không ngại những người này nhập quốc tịch Cuba, hàm ý là phủi bỏ trách nhiệm của mình trong vụ việc này. Đồng thời, ở một vài đoạn mập mờ, Serov cũng nhắc nhở về việc chú ý an toàn, ngầm thừa nhận rằng những người này đã là công dân Cuba, ý tứ bề ngoài là họ có thể tùy ý xử lý những người này.
“Tôi đã liên lạc với Đồng chí Serov, ủy viên đoàn chủ tịch Trung ương Liên Xô, ông ấy đã ngầm chấp thuận việc những người này nhập quốc tịch Cuba, chúng ta có thể theo kế hoạch đưa những người này sang Mỹ.” Raul Castro lập tức báo lại chuyện này với anh trai mình, khẳng định rằng Liên Xô sẽ không ngăn cản. Liên Xô dĩ nhiên sẽ không ngăn cản, kế hoạch này sớm nhất là do Serov đề xuất, chỉ là mấy năm nay Liên Xô không nhắc lại, trong khi phía Cuba vẫn luôn băn khoăn về vấn đề này.
Các tù nhân từ Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, Romania và các quốc gia khác thuộc khối Warszawa ở Cuba có khoảng một triệu người. Trong số đó có những người mắc bệnh tâm thần phân liệt, tội phạm, cùng với một số nhân sĩ tôn giáo và trí thức. Số trí thức này chủ yếu đến từ các quốc gia ngoài Liên Xô. Serov có phần e ngại khi mạnh tay với giới trí thức trong nước Liên Xô, nhưng ông ta không hề chậm trễ chỉ đạo Bộ Nội vụ các nước khác dọn dẹp những phần tử bất phục tùng này, đưa tất cả họ đến Cuba để lao động cải tạo.
“Nếu như Che Guevara còn ở đây, anh ấy cũng nhất định sẽ đồng ý với quyết định của chúng ta.” Raul Castro thấy anh trai mình vẫn còn do dự, tiến thêm một bước, nhắc đến một người chiến hữu khác của họ là Che Guevara, người đã hy sinh tại Bolivia. Đối với hai anh em nhà Castro, Che Guevara là một người bạn cực kỳ quan trọng. Dù sau này có những bất đồng, nhưng Castro vẫn luôn rất coi trọng người bạn này. Khi Che Guevara bị bắt, ông cũng từng nghĩ cách cứu viện, nhưng cuối cùng vẫn không thể cứu được ng��ời chiến hữu của mình.
“Được rồi, đúng như Serov đã nói, phải chú ý an toàn. Đưa những người này sang Mỹ. Mở tất cả các bến cảng, bao gồm Mariel, cung cấp toàn bộ thuyền bè dọc bờ biển, chờ thời điểm thích hợp để đưa họ đi. Tất cả thuyền bè đều treo cờ của chúng ta, như vậy chính phủ Mỹ sẽ không thể ngăn chặn.” Castro thở dài, hạ quyết tâm nói. “Serov rõ ràng không muốn gánh vác trách nhiệm này, vậy chúng ta cứ trực tiếp thừa nhận đây là quyết định đơn phương của chúng ta, tin rằng sau này ông ta sẽ tìm cơ hội bồi thường cho chúng ta. Tập trung tất cả những người mắc bệnh tâm thần và phần tử tội phạm trong cả nước lại, lần này đưa họ đi, để sau này họ không còn gây cản trở cho đất nước chúng ta nữa…”
Sau khi cách mạng Cuba giành thắng lợi, Mỹ đã liên tục phong tỏa, cấm vận, trừng phạt Cuba, tìm cách lật đổ chính quyền Cuba và thiết lập một chính quyền thân Mỹ. Đồng thời, Mỹ không ngừng dụ dỗ người dân Cuba bỏ trốn, bôi nhọ Cuba trên khắp thế giới, huấn luyện những người Cuba lưu vong, chiêu mộ lính đánh thuê, mong muốn lật đổ chính quyền Cuba. Người Mỹ còn cung cấp sự che chở chính trị cho người dân Cuba, khiến cho sau khi cách mạng Cuba thành công, một lượng lớn dân chúng bỏ trốn sang Florida. Mỗi năm có hàng trăm nghìn người Cuba theo nhiều con đường khác nhau từ La Habana đến Miami. Những người này đều là tầng lớp tinh hoa nhất của Cuba, bao gồm trí thức, bác sĩ và công nhân lành nghề.
Việc mỗi năm đất nước mất đi hàng trăm nghìn người đã tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực rất lớn cho Cuba. Vì vậy, trong mấy năm nay, Castro thường xuyên nhớ đến lời Serov từng nói khi mới đến Cuba, và mong muốn thực hiện một hành động phản công Mỹ càng trở nên cấp thiết. Nếu không có Serov, sớm muộn gì Castro cũng sẽ nghĩ đến vấn đề này, nhưng lời nhắc nhở của ông ta đã khiến sự kiện di cư Mariel trong lịch sử diễn ra sớm hơn mười năm, với quy mô cũng được mở rộng gấp mười lần.
Castro giao cho em trai mình bí mật lên kế hoạch hành động. Tất nhiên, việc này còn cần sự phối hợp từ một người khác. Serov chỉ đạo Cyniow luân chuyển nhân viên tình báo KGB tại Cuba, nới lỏng mức độ giám sát đối với Cuba. Là một cơ quan thực thi pháp luật, lần này KGB buộc phải “mở một lỗ hổng” để Castro tự do phát huy.
“Sau này Miami sẽ trở thành một thành phố Đông Âu, thật là một điều phấn khích biết bao! Cuối cùng tôi cũng đưa được các băng nhóm tội phạm trong nước Liên Xô sang Mỹ. Sau này, Mafia Liên Xô hoành hành khắp thế giới sẽ không còn tồn tại nữa, trong khi các băng đảng Mỹ sẽ chào đón nguồn máu tươi mới. Người Mỹ đừng cảm ơn tôi, dù sao các bạn cũng là hy vọng của nhân loại.” Serov, hoàn toàn thờ ơ với những chuyện này, chỉ vào khoảng cách đường chim bay giữa Cuba và Miami trên bản đồ, cảm thấy thế giới thật là tuyệt vời.
Lúc đó, tỷ lệ tội phạm ở Miami tăng vọt cũng chỉ là chuyện nhỏ, phải biết rằng trong hơn một triệu người này, không ít kẻ có thể bị mua chuộc. Những người này sau khi đến Mỹ sẽ không làm được gì. Giới trí thức sẽ phát hiện Mỹ cũng không phải thiên đường. Các nhân sĩ tôn giáo có thể truyền bá Hồi giáo tại Mỹ. Còn về những phần tử tội phạm, họ chỉ giỏi làm những việc phạm pháp. Mỹ chẳng hề đề phòng, tin rằng những “tổ tông Mafia” này sẽ phát triển ở Mỹ nhanh hơn cả ở Liên Xô.
KGB đã sớm chuẩn bị khá nhiều điều kiện cần thiết, chẳng hạn như tích trữ tại Cuba rất nhiều thuyền bè đã gần đến tuổi thanh lý, và đủ số áo phao cứu sinh. Chỉ cần Cuba quyết định thực hiện, chắc chắn sẽ không phải lo lắng về vấn đề thiếu thuyền bè.
“Nhóm người này đã bị tôi giam giữ gần mười năm, lần này tôi đền bù cho các bạn, đưa các bạn đến đất nước tự do.” Cuba có thể chủ động làm việc này, cũng coi như là giúp Liên Xô trút bỏ một gánh nặng lớn. Trong mắt Liên Xô, những người này từ lâu đã là “khuất mắt khuất lòng”, chỉ mong họ vĩnh viễn ở Cuba và đừng bao giờ trở về.
Chẳng mấy chốc, cơ hội đã đến. Trong khi Castro đang tiến hành các công tác chuẩn bị liên quan, Tổng thống Mỹ Nixon đã lên đường thăm Iran. Tại Tehran, ông được Quốc vương Iran Pahlavi nhiệt liệt chào đón, hai bên tái khẳng định mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Mỹ và Iran. Mỹ cũng rất tr��n trọng đồng minh Iran này, và mong đợi Iran có thể phát huy sức mạnh lớn hơn, đóng vai trò quan trọng hơn trong tình hình Trung Đông.
Lúc này, Pahlavi đang ở thời điểm then chốt của Cách mạng Trắng, Iran vẫn đang trong giai đoạn phát triển tích cực. Đối với Pahlavi đang tràn đầy hùng tâm lúc này, ông cần một người công nhận thành quả của mình, và không ai thích hợp hơn Tổng thống Mỹ. Và Nixon cũng đúng lúc cần sức mạnh của Iran. Nếu Mỹ vẫn cứ cứng rắn đối đầu Liên Xô, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước. Điều này đã là sự thật được nội bộ Mỹ công nhận. Nhưng Mỹ không thể nhanh chóng “cao chạy xa bay” mà không nói tiếng nào, thay vào đó, họ muốn kéo dài thời gian với Liên Xô bằng cách xây dựng một hệ thống phòng thủ, để bản thân có cơ hội thở dốc.
Mỹ muốn Iran làm gì? Thứ nhất, kiềm chế Liên Xô; thứ hai, bảo đảm lợi ích của các công ty dầu mỏ phương Tây tại Iran. Đối với yêu cầu thứ nhất, Pahlavi đã hoàn thành rất tốt. Đối với một nước láng giềng của Liên Xô, mối đe dọa từ Liên Xô không cần bất c��� ai phải nhấn mạnh. Tuy nhiên, đối với điểm thứ hai, Pahlavi lại có những tính toán riêng của mình.
Với tư cách một nhà lãnh đạo quốc gia, Pahlavi trước hết là một người theo chủ nghĩa dân tộc. Trong nhiệm kỳ của mình, Pahlavi thậm chí đã tổ chức lễ kỷ niệm 2500 năm thành lập Đế chế Ba Tư. Là một người Ba Tư, ông cảm thấy vô cùng tự hào. Nhưng trong mắt người dân Iran, dù ông ta có phô trương sự vĩ đại của người Ba Tư đến đâu, thì sự thật ông ta là con rối do Mỹ dựng lên cũng không hề thay đổi.
Tại cung điện hoàng gia Iran, Nixon đã có bài phát biểu, lần đầu tiên bày tỏ quan điểm về tầm quan trọng của Iran, nói: “Chúng tôi cho rằng dưới sự cai trị của Quốc vương Pahlavi, Iran hoàn toàn có thể thay thế vai trò của Mỹ, trở thành người thiết lập quy tắc tại Vịnh Ba Tư. Chúng tôi sẽ xây dựng mối quan hệ bình đẳng với Iran, nước Mỹ chúng tôi là bạn của Iran, và sẽ ủng hộ Iran trở thành cường quốc trên thế giới.”
Sau đó, trong cuộc hội đàm riêng, Nixon bày tỏ tầm quan trọng của Iran đối với Mỹ, không hề kém cạnh Israel. Và s��� lập tức cung cấp một gói viện trợ quân sự cho Iran, giúp Iran trở thành cường quốc quân sự ở Trung Đông.
“Sau khi Anh rút quân, Iran hoàn toàn có thể thay thế lực lượng phòng thủ của Anh, đóng góp vào việc ổn định Trung Đông.” Pahlavi cũng trình bày ý tưởng của mình, ông hy vọng Iran sẽ lấp đầy khoảng trống quân sự do Anh để lại, trở thành cảnh sát của Vịnh Ba Tư.
Nixon bày tỏ đồng ý, trong tình huống Anh chắc chắn phải rút quân, việc Iran đứng ra lấp đầy khoảng trống này là điều tốt nhất.
Nixon lúc này đã vạch ra xong điểm tựa chiến lược của Mỹ ở Trung Đông. Đối mặt với tình hình các cường quốc quân sự ở Trung Đông phổ biến thân Xô, Nixon đặt hy vọng vào Iran. Dùng dầu mỏ Ả Rập Xê Út để kích thích kinh tế, dùng sức mạnh quân sự của Iran để bảo vệ Ả Rập Xê Út, nhằm bảo đảm lợi ích của Mỹ. Đây chính là chiến lược “song trụ”, nền tảng để ổn định Trung Đông.
Ông ta không hề hay biết rằng phía Moscow đã quyết định, chỉ cần chờ Iraq ổn định và kiểm soát được toàn bộ đất nước, Liên Xô sẽ viện trợ quân sự cho ba nước Syria, Iraq và Ai Cập để hoàn thành chiến lược ba bên của mình. Xét về sức mạnh quân sự, phe Liên Xô vẫn chiếm ưu thế nhất định. Trong khi phe Mỹ chỉ có Thổ Nhĩ Kỳ và Iran; còn về Ả Rập Xê Út, sức chiến đấu của họ có thể xem là không đáng kể. Nhưng cả Thổ Nhĩ Kỳ và Iran đều tiếp giáp với Liên Xô, và ưu thế của Liên Xô chính là ưu thế về mặt địa lý.
Chuyến công du Trung Đông của Nixon chủ yếu nhằm xây dựng một mạng lưới phòng thủ chống lại Liên Xô. Mỹ có tổng cộng ba mạng lưới kiềm chế Liên Xô: một là NATO ở châu Âu, đây là cái quan trọng nhất; hai tổ chức còn lại thì một ở Đông Nam Á, một ở Trung Đông. Nhưng tất cả đều là các tổ chức không hoàn chỉnh: Đông Nam Á thiếu Indonesia, còn Trung Đông thiếu Iraq. Những tổ chức phòng thủ như vậy đều tồn tại sơ hở. Nixon chỉ có thể lùi một bước, cố gắng hết sức để bù đắp.
Trong lúc Nixon đang thực hiện chuyến công du nước ngoài, anh em nhà Castro đã hoàn tất mọi công tác chuẩn bị ở Cuba. Đến khi Nixon đặt chân đến Ả Rập Xê Út, hai anh em quyết định h��nh động.
Truyện này được bản quyền tại truyen.free, mọi hành vi sao chép không được phép sẽ bị xử lý.