(Đã dịch) Kinh Khủng Thế Giới - Chương 6: nguy cơ
Gã mục sư bước vào bếp, mở tủ lạnh lấy một chai nước rồi nhấp vài ngụm. Tiện tay, gã đặt cuốn Thánh Kinh lên bàn bếp rồi đi thẳng lên phòng ngủ.
Bấy giờ là ba giờ hai mươi phút sáng, nhưng công việc của gã vẫn chưa hoàn tất. Gã về nhà để lấy thêm vài món đồ. Cởi bỏ áo choàng mục sư, hắn cất nó vào ngăn tủ thứ ba. Gã muốn thay một bộ đồ bình thường để tránh sự chú ý. Kéo ngăn tủ ở giữa, hắn lấy ra một chiếc quần dài và một chiếc áo sơ mi trắng rồi mặc vào. Hắn định lấy một chiếc áo khoác như mọi khi, nhưng hôm nay gã muốn một chút thay đổi. Ngày thường, gã chỉ mặc những chiếc áo khoác vải đơn điệu, có phần nhàm chán. Vì thế, gã nảy ra ý định lấy chiếc áo khoác da đã lâu không dùng đến. Chợt, gã giật nảy mình.
Dưới ánh đèn từ trần nhà hắt xuống, mục sư nhìn lên chiếc áo khoác da. Nó bám chút bụi bặm, nhưng trên phần vai lại có vài vệt ngón tay lướt qua. Gã hoảng hốt chạy sang phòng cầu nguyện bên cạnh. Mọi thứ vẫn như cũ, duy chỉ có một cái bình thủy tinh trống rỗng nằm lăn lóc trên sàn nhà.
Chết tiệt! Gã thốt lên.
Nhớ đến món đồ trên gác xếp, gã cầm lấy một bình thủy tinh khác còn đầy nước. Mở nắp, gã uống một nửa, nửa còn lại thì trực tiếp xối lên đầu. Hai tay gã vò mái tóc ướt sũng. Gã tiến đến gần cây thánh giá treo trên tường, gỡ xuống. Mặt sau thánh giá có một cái rãnh chứa một chiếc chìa khóa bằng đồng với hình dáng khá quái dị.
Gã xoay người, kéo tay n��m cửa gác mái. Chiếc cầu thang gỗ trượt xuống. Gã leo vội lên thang, ngó vào bên trong gác xếp. Móc điện thoại từ trong túi quần, gã bật đèn pin. Ánh sáng tỏa ra chiếu rọi căn gác trơ trọi, chỉ còn lại chiếc vali, bộ sưu tập đồng hồ của hắn đã biến mất.
Không bận tâm đến những chiếc đồng hồ đã mất, mục sư khom người bước vào trong gác xếp. Gã cầm lấy chiếc vali đang nằm đổ, cắm chìa khóa vào ổ rồi khẽ xoay. Một tiếng "tách" nhỏ vang lên. Bức tranh vẫn còn bên trong, nhưng vị trí lại bị đảo ngược so với lúc ban đầu gã đặt vào.
Kẻ trộm đã xem qua bức tranh nhưng không mang đi, hơn nữa còn một lần nữa đóng khóa rồi ném nó về một góc. Mục sư cảm giác được điều chẳng lành đã xảy ra.
Mang theo vali cùng bức tranh, gã đi xuống khỏi gác mái, vào phòng. Lấy chiếc áo khoác da mặc lên người, gã cũng chẳng buồn phủi đi lớp bụi bặm. Gã xách vali ra nhà xe, mở cửa cuốn rồi phóng vụt ra khỏi khu nhà ở.
Nửa tiếng sau, chiếc Chevrolet đỏ của mục sư dừng lại trước nhà thờ Trinity ở Boston (Nhà thờ Chúa Ba Ngôi). Gã đi tới cửa, gõ liên tục. Vài giây sau, cánh cửa vẫn đóng, nhưng một giọng nói vang lên từ bên trong:
– Bây giờ hẳn còn sớm, vẫn chưa đến giờ mở cửa. Xin hãy quay lại sau.
Mục sư hắng giọng:
– Ta là James Richie, người hành pháp (enforcer) của Giáo hội, có việc gấp cần gặp Cha sứ Anselm.
Cánh cửa hé mở, để lộ gương mặt non nớt của một cậu bé chừng tám tuổi phía sau. Cậu bé dò xét James vài giây rồi mở rộng cửa cho hắn lách vào.
– Ngài đợi một chút, tôi sẽ đi gọi Cha sứ Anselm. Nói rồi, cậu bé đi mất.
James đi vào giáo đường, ngồi xuống băng ghế gỗ, chắp tay trước ngực và cúi đầu trước Chúa.
Mong là ta vẫn chưa quá muộn. Nếu tên trộm xui xẻo kia chết sớm, thì tình hình ở Boston vốn đã loạn lạc sẽ càng thêm rối ren. Giáo hội hiện nay đã rất thiếu nhân sự, không thể phân thêm người đi hỗ trợ Boston được nữa.
Tiếng bước chân vang lên, James ngẩng đầu nhìn Cha sứ Anselm đang đứng trước mặt mình.
Cha sứ Anselm năm nay đã năm mươi mốt tuổi, cao chỉ một mét sáu mươi tám, có phần hơi lùn so với chiều cao trung bình của người Mỹ. Mái tóc đen của ông đã điểm vài sợi bạc, được chải ngược ra sau. Đôi mắt màu nâu hạt dẻ ánh lên vẻ bình tĩnh mà kiên nghị. Miệng ông luôn trực nở nụ cười.
Kết hợp với bộ phục sức cha sứ màu trắng cổ đỏ, trên ngực in hình cây thánh giá ánh vàng kim, trông rất hài hòa.
– James, đã lâu không gặp. Lần cuối chúng ta gặp nhau thế mà đã ba năm trôi qua rồi nhỉ?
Cười vài tiếng, Cha sứ Anselm nháy mắt nói với hắn:
– Khi ấy, cậu vẫn rất cứng đầu, luôn miệng nói sẽ không làm việc cho Giáo hội, nhất quyết chạy thật xa sang nước Anh sinh sống. Tôi nghe Cha sứ Colin kể rằng cậu gặp phải phiền phức rất lớn, phải chạy thục mạng đến phân bộ Giáo hội ở nước Anh cầu cứu, rồi tình nguyện làm một mục sư. À chà... ha ha, cười chết tôi mất! Nhưng ai mà ngờ được, ba năm sau, dưới sự chỉ bảo của Giáo hội, cậu lại học được một thân bản lĩnh, leo lên vị trí người hành pháp, được Giáo hội giao cho nhiệm vụ liên lạc với các thợ săn.
James cười khổ lắc đầu.
– Tạm thời khoan hãy nói về việc ấy. Tôi đang cần tìm một kẻ vừa đột nhập vào nhà mình.
Cha sứ Anselm giật mình:
– Hắn lấy đi thứ kia?
James vỗ tay lên chiếc vali đặt cạnh mình rồi nói:
– Không, bức tranh vẫn còn ở đây. Nhưng tên trộm đã mở khóa và xem bức tranh. Tôi nghi ngờ có thứ gì đó đã thoát ra từ cái lỗ trong bức tranh rồi bám vào người tên xui xẻo đó. Anselm, ông cũng biết, những con quỷ mới bò lên nhân giới cần một khoảng thời gian để khôi phục sức mạnh. Việc ăn thịt người sống, cắn nuốt linh hồn sẽ rút ngắn thời gian hồi phục của chúng. Một khi có lại được sức mạnh, lũ này sẽ săn giết con người để lột xác tiến hóa. Hiện tại, Boston vẫn chưa có thợ săn đủ sức đối đầu với ác ma... Hơn nữa, con quỷ này bò ra từ cái hố trong bức tranh. Anselm, ông cũng biết, những con quỷ thoát ra từ thứ này khác hẳn với mấy con "long nhong" trên nhân giới.
Cha sứ Anselm hít một hơi dài:
– Có thông tin gì về tên trộm không? Vật kia cần có môi giới để hoạt động.
James chỉ vào chiếc áo khoác và chiếc vali.
– Tên đó đã chạm vào hai thứ này, dùng được chứ, Cha Anselm?
Anselm gật đầu, vẫy tay ra hiệu rồi đi ra sau giáo đường. James đi theo sau ông. Lúc này trời vẫn còn chưa sáng hẳn, ánh trăng lờ mờ chiếu qua cửa sổ. Họ đi qua hành lang, rẽ ngoặt vài lần. Cha Anselm dừng lại trước một căn phòng có cánh cửa gỗ với ba ổ khóa. Ông lấy từ trong bộ phục sức ra một chùm chìa khóa.
James trợn mắt:
– Anselm, làm cách nào ông nhớ được hết đống chìa khóa đó vậy!
– Khi tôi còn là người tập sự, Cha sứ Fuller đã bắt tôi phải nhớ được hết tất cả các chìa khóa. Mỗi ngày, Cha Fuller kiểm tra, chỉ cần tôi cắm sai chìa cho một cánh cửa nào đó là hôm đó sẽ không được ăn tối. Sau hai tháng nằm ngủ với cái bụng đói meo, tôi cũng nhớ được hết tất cả chìa khóa dùng cho cánh cửa nào. Vừa nói, Cha Anselm vừa mở cửa.
– Không đến mức đó chứ, Cha Anselm? Chỉ là một cánh cửa thôi mà.
– Sau những cánh cửa này cất giữ rất nhiều đồ vật. Biết đâu một ngày nào đó, đây sẽ là phòng tuyến cuối cùng của Boston. Mọi thứ đều có cái giá của nó. Cũng như cậu đã phải trả giá để nhận được sự che chở của Giáo hội, tôi cũng ph���i đánh đổi nhiều thứ.
Rất nhanh sau đó, cánh cửa gỗ mở ra, Anselm cùng James bước vào trong.
Bản văn này được biên tập bởi truyen.free, mọi hành vi sao chép không được cho phép đều là vi phạm bản quyền.