(Đã dịch) Liên Xô 1991 (Tô Liên 1991) - Chương 852: Chính sách phương Đông mới tan vỡ
Chuyện này phải do một người có kinh nghiệm ngoại giao phong phú đảm nhận. Dobrynin, người có hàng chục năm kinh nghiệm làm Đại sứ Liên Xô tại Mỹ, đương nhiên đã trở thành lựa chọn hàng đầu của Yanayev.
Dobrynin, người đảm nhận vị trí cố vấn ngoại giao đặc biệt của Yanayev, cảm thấy gánh nặng trách nhiệm đè trên vai. Gánh nặng ấy không chỉ đến từ mệnh lệnh của Điện Kremlin mà còn khiến ông nhớ về cuộc gặp lịch sử giữa Molotov và Hitler năm 1940. Dù đã đoán biết ý đồ chiến tranh của đối phương, vẫn không thể nắm bắt chính xác thời điểm, dẫn đến sai lầm chiến lược nghiêm trọng.
Tuy nhiên, chiến thuật của Krenz lại cao minh hơn. Ông khéo léo lợi dụng mâu thuẫn giữa Mỹ và Liên Xô để khơi gợi hiệu ứng “bầy sói”. Điện Kremlin muốn biết đối phương sẽ đi xa đến đâu.
Vào tuần thứ tư sau khi cuộc bầu cử vừa kết thúc, Berlin, vốn dĩ đã dần trở lại bình yên, lại chào đón một làn sóng bất an mới.
Cuối đông, bầu trời qua những cành cây khô trụi lá phơi ra một màu xanh u ám, cùng những vệt tuyết trắng chưa tan, trông thật yếu ớt và tái nhợt. Mặc dù mây mù trên bầu trời đã tan, nhưng nét mặt mọi người lại không hề giãn ra chút nào. Trái lại, càng thêm nặng trĩu.
Đây là ánh sáng cuối cùng trước khi rơi vào bóng tối.
Một cơn bão tuyết đáng sợ hơn đang đến gần.
Ga tàu và các tuyến đường quanh Berlin đã bị phong tỏa. Đoàn xe Mercedes-Benz cấp quốc gia đã chờ sẵn bên ngoài, đón vị khách đặc biệt tới Berlin. Cùng với đó là một nhóm quan chức cấp cao trong bộ vest chỉnh tề. Ngoài Bộ trưởng Ngoại giao Đức, còn có một nhân vật cấp cao khác: Chủ tịch Quốc hội Jonischkis.
Theo sự sắp xếp của Krenz, họ ở đây để đón tiếp vị khách đặc biệt này.
Khi đoàn tàu đặc biệt tiến vào ga, tấm cửa sổ đen đã che khuất tầm nhìn của Jonischkis. Cho đến khi đoàn tàu dừng lại, một nhóm người từ trong toa xe bước ra. Ngay sau một tùy tùng, một người đàn ông có thân hình không cao không béo, khuôn mặt điển hình của người Slav, dáng vẻ rất nho nhã xuất hiện.
Dobrynin từ từ bước về phía Jonischkis. Chiếc vest màu xám nhạt khiến ông ta trông giống một giáo sư ��ại học hiền lành. Nhưng những ai từng tiếp xúc với ông ta đều hiểu rõ, một người có thể cân bằng cục diện giữa hai siêu cường Mỹ và Liên Xô suốt bao năm như vậy, chắc chắn không phải kẻ tầm thường.
Vẻ ngoài bình dị ấy lại ẩn chứa sự lạnh lẽo hơn cả tuyết mùa đông Berlin.
Gạt bỏ mọi suy nghĩ miên man, Jonischkis tiến lên một bước, chìa tay ra, thân thiện chào: “Ông Dobrynin, xin chào. Tôi là Chủ tịch Quốc hội Jonischkis.”
Dobrynin sững lại, không vội bắt tay. Ông ta chỉ gật đầu với Jonischkis, coi như đã chào hỏi.
Một thoáng ngượng nghịu bao trùm. Tuy nhiên, Dobrynin vừa đặt chân đến đã mỉa mai chất vấn: “Không ngờ ngay cả Chủ tịch Quốc hội cũng đích thân đến. Nước Đức đang làm gì vậy? Sợ hãi về những gì mình đã làm ư?”
Jonischkis nhíu mày. Với bản chất của một quân nhân, ông không khỏi khó chịu trước lời mỉa mai của Dobrynin. Bộ trưởng Ngoại giao đứng cạnh đó sững sờ. Nhận thấy tình hình không ổn, lo sợ Jonischkis sẽ làm hỏng chuyện, ông ta vội vàng chen vào một câu.
“Không phải như vậy, ngài đã hiểu lầm rồi. Đây là cách chúng tôi thể hiện sự tôn trọng đối với mối quan hệ hợp tác giữa Liên Xô và Đức. Dù sao đi nữa, chúng ta vẫn là đồng minh trên cùng một chiến tuyến, phải không?”
Nhấn mạnh mối quan hệ đồng minh trên cùng một chiến tuyến, Bộ trưởng Ngoại giao ngụ ý rằng đối phương sẽ không thể nói những lời quá đáng hơn.
Nhìn Bộ trưởng Ngoại giao mỉm cười đáp lời một cách tự nhiên, Dobrynin gật đầu, không nói gì. Bộ trưởng Ngoại giao hay Chủ tịch Quốc hội đều không phải là trọng tâm của chuyến đi này. Vì thế, ông tỏ thái độ lạnh nhạt trước những lời tâng bốc từ phía đối phương. Điều ông ta thực sự quan tâm là cuộc nói chuyện với Krenz, và phản ứng của Krenz khi ông đưa ra những câu hỏi mà Yanayev đã giao phó.
Hiện tại, ông vẫn có thể giữ vẻ bình tĩnh. Một khi sự thật bị vạch trần, Liên Xô sẽ không nương tay chỉ vì tình hữu nghị giai cấp. Phản ứng của Krenz sẽ quyết định bước đi tiếp theo của Yanayev.
Liệu là hủy diệt Krenz, hay hủy diệt toàn bộ Đảng Phục hưng Dân chủ Đức. Dù thế nào, Liên Xô vẫn còn một ���quân cờ” khác ẩn mình trong nội các cấp cao của Đức.
Sau khi đón Dobrynin, điểm đến của đoàn xe cấp quốc gia là Văn phòng Thủ tướng Đức.
Trên đường đi, Jonischkis liên tục bày tỏ quan điểm về tình hữu nghị Xô-Đức với Dobrynin. Thậm chí, ông còn đề cập đến những chính sách tiếp theo liên quan đến việc phân chia Đông Âu. Chẳng hạn như việc liên minh giữa Đức với Ba Lan và các quốc gia Trung Âu khác, đồng thời Liên Xô liên minh với phần còn lại của Đông Âu. Biến các nước Đông Âu thành những “con cừu béo bở” có thể dễ dàng kiểm soát thông qua dầu mỏ, kinh tế, tài nguyên, v.v.
“Tôi có thể đảm bảo rằng, Liên Xô hợp tác với Đức là lựa chọn đúng đắn nhất. Nếu các ngài chọn đối tác khác, thì đó sẽ là tổn thất của Moscow. Tôi hy vọng hai bên sẽ không vì những lời đồn thổi mà phá vỡ mối quan hệ tốt đẹp này.”
Mặc dù Jonischkis cố gắng hết sức lái câu chuyện sang hướng khác, Dobrynin vẫn không hề để tâm đến những lời lẽ của Jonischkis. Ông ta hỏi thẳng thừng: “À, đúng rồi. Ngài còn nhớ chính sách ngoại giao Halstein của Cộng hòa Liên bang Đức không?”
Jonischkis nhìn đối phương một cách kỳ lạ.
Học thuyết Halstein được thiết lập bởi Quốc vụ khanh Cộng hòa Liên bang Đức, Walter Hallstein. Ông ta tuyên bố rằng Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức là đại diện hợp pháp duy nhất của toàn bộ nước Đức, không công nhận Cộng hòa Dân chủ Đức lúc bấy giờ, và không thiết lập hay duy trì quan hệ ngoại giao với bất kỳ quốc gia nào có quan hệ ngoại giao với Cộng hòa Dân chủ Đức. Ngoại trừ Liên Xô, một trong bốn cường quốc chiến thắng có trách nhiệm đối với sự thống nhất nước Đức.
“Đương nhiên, tôi sẽ không quên thời kỳ khó khăn ấy của nước Đức.”
Jonischkis nhận thấy giọng điệu của Dobrynin đã thay đổi, nhưng không rõ đối phương định làm gì tiếp theo.
Dobrynin tháo kính ra, lẩm bẩm nói: “Bản chất của Học thuyết Halstein là Cộng hòa Liên bang Đức đại diện cho toàn bộ nước Đức, không công nhận Cộng hòa Dân chủ Đức lúc bấy giờ. Vì vậy, không thể thiết lập hay duy trì quan hệ ngoại giao với bất kỳ quốc gia nào có quan hệ ngoại giao với Đông Đức. Học thuyết Halstein cũng là cốt lõi trong chính sách ngoại giao của chính phủ Adenauer lúc bấy giờ. Nhưng sau đó, sự thật đáng xấu hổ đã phơi bày rằng việc thực hiện Học thuyết Halstein chỉ có thể trói buộc khả năng ngoại giao của chính Cộng hòa Liên bang Đức, khiến họ tự cô lập mình. Phải không?”
Jonischkis không biết phải đáp lời ra sao, đành miễn cưỡng nói “Vâng.”
“Sau đó là kỷ nguyên của Chính sách Phương Đông Mới. Chính phủ Brandt sau đó đã tích cực thúc đẩy Chính sách Phương Đông Mới, cải thiện mối quan hệ giữa Cộng hòa Dân chủ Đức và Cộng hòa Liên bang Đức. Năm 1972, các ngài đã ký Hiệp ước về Cơ sở Quan hệ giữa hai nước, với mục đích bình thường hóa quan hệ song phương. Cùng với đó là cải thiện quan hệ với các quốc gia Đông Âu khác. Và sau đó, vào tháng 12 năm 1973, các ngài lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Bulgaria và nhiều quốc gia khác. Nhờ đó, mối quan hệ lạnh nhạt giữa Đức và các quốc gia Đông Âu được xoa dịu, và các ngài đã thành công lôi kéo đại đa số các quốc gia lúc b���y giờ bằng tình hình kinh tế phát triển như vũ bão của Đức.”
Khen càng nhiều, ngã càng đau. Dobrynin thích lối nói “đề cao rồi hạ bệ”.
“Nhưng bây giờ thì sao?”
Đặc phái viên Liên Xô ngước nhìn lên. Cuộc phản công đã chính thức bắt đầu. Ông ta bắt đầu liệt kê từng hành vi bội tín của Đảng Phục hưng Dân chủ Đức.
“Những gì Đức đã làm với các quốc gia Đông Âu, chẳng phải đang tái hiện kỷ nguyên Học thuyết Halstein, từ bỏ Chính sách Phương Đông Mới sao? Các ngài tìm mọi cách để cản trở, cướp bóc các quốc gia Đông Âu, biến họ thành thị trường phụ thuộc để Đức tiêu thụ sản phẩm. Các ngành công nghiệp sản xuất của Romania, Séc và nhiều quốc gia khác đã sụp đổ. Những người dân thất nghiệp phải tha hương sang các nước châu Âu để rửa chén, cọ bồn cầu kiếm sống. Cũng dễ hiểu khi Yanayev đưa ra chính sách chia cắt, các ngài sẽ vui vẻ chấp nhận điều đó. Các ngài đã nóng lòng muốn ‘hút máu’ các quốc gia này rồi phải không?”
Sắc mặt Jonischkis có chút không tự nhiên. Sau khi Krenz lên nắm quyền, ông ta quả thực đã từ bỏ một số chính sách ngoại giao đã định hình trước đó, chuyển sang các biện pháp cấp tiến hơn. Chẳng hạn như việc cướp bóc nguyên liệu thô. Để đảm bảo giới tư bản Tây Âu kiểm soát thị trường một cách thuận lợi, không ít lần những chuyện bẩn thỉu như độc quyền một ngành công nghiệp nào đó đã xảy ra.
Các vấn đề kinh tế của Đức đã quyết định rằng một khi phe cánh hữu lên nắm quyền, các quốc gia Đông Âu sẽ không có ngày tháng tốt đẹp. Chính sách Phương Đông Mới đã trở thành một loại phương pháp cấp tiến pha trộn với Học thuyết Halstein.
Cuối cùng, ông ta khéo léo bổ sung thêm một câu “chí mạng”: “Với chính sách như vậy, chúng tôi cũng khó mà đảm bảo rằng các ngài sẽ không sử dụng những thủ đoạn mờ ám khi Liên Xô giải quyết vấn đề Đông Âu. Chẳng hạn như sự kiện Ngoại trưởng Mỹ vừa thăm Đông Âu. Đây có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên không?”
Dứt lời, Dobrynin nhìn đối phương với vẻ mặt hết sức bình tĩnh, cùng một nụ cười vô hại.
Ngài có nghĩ vậy không?
Bản dịch này thuộc về truyen.free, mang đến những dòng văn chương trau chuốt và hấp dẫn.