(Đã dịch) Lộc Đỉnh Nhậm Ngã Hành - Chương 174: Đến Đông Bắc Chung Quỳ cầm quỷ (24)
Hạm đội phương Bắc sau ba ngày nghỉ ngơi và hồi phục tại “Thần Long đảo” đã một lần nữa giương buồm. Sau khi đi qua căn cứ đảo Xà, họ tiếp tục đến đảo Jeju, nơi do nhà Lý Triều Tiên quản lý.
Năm 1388, nhà Minh thiết lập Thiết Lĩnh Vệ tại phủ Tổng quản Song Thành của triều Nguyên (từng bị Triều Tiên chiếm đóng vào năm 1356) ở Nam Đoan, tỉnh Hàm Kính Nam đạo, đồng thời ra chiếu chỉ thông báo cho Triều Tiên. Sau khi nhà Minh đưa ra yêu cầu xác định ranh giới Thiết Lĩnh, lại sai Liêu Đông Đô Ti phái binh đến thiết lập, "chiêu an di dân phía đông sông Áp Lục", chuẩn bị thành lập Thiết Lĩnh Vệ. Hành động này đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ Triều Tiên. Triều Tiên dâng tấu trình rằng: "Phía bắc Thiết Lĩnh, từ xưa đến nay, các châu Văn, Cao, Hòa, Định, Hàm, bao gồm cả các vùng hiểm yếu mà binh lính chiếm cứ, đều là đất của bổn quốc." Dưới sự xúi giục của đại thần Thôi Oánh, Quốc vương Triều Tiên (U Vương) đã quyết định liều mình, đánh đòn phủ đầu tấn công nhà Minh. Tháng 4 năm ấy, Đô thống sứ Lý Thành Quế của phe Tân Du vượt sông Áp Lục tiến đánh Liêu Đông. Sau khi vượt sông Áp Lục, Lý Thành Quế nhận thấy hành quân khó khăn, lương thực thiếu thốn, sĩ khí sa sút, vì vậy ông đã điều quân trở về kinh đô Tùng Kinh, phế truất U Vương, và lưu đày Thôi Oánh. Sau đó, Lý Thành Quế lập Tân Xương, con trai của U Vương, làm vua, nhưng rồi lại phế truất, sửa lập Vương Ngọc (Cung Nhượng Vương) thuộc tông thất Triều Tiên. Ngày 16 tháng 7 năm 1392, dưới sự đề nghị và ủng hộ của Tả Thị Trung Bùi Khắc Liêm cùng với Trịnh Đạo Truyền, Triệu Tư Tộ và những người khác, Lý Thành Quế lên ngôi tại cung Thọ Xương ở Tùng Kinh (Khai Thành). Lý Thành Quế sai sứ dâng biểu lên Minh triều, xưng rằng Quốc vương Triều Tiên mê muội, còn bản thân ông được ủng hộ nên không thể không lên ngôi. Chu Nguyên Chương thì lạnh nhạt nói: "U Vương ngươi chết, nói ông ấy có con, xin lập, sau lại bảo không phải. Lại dùng Vương Ngọc là dòng dõi vương thất chính thống, xin lập, nay lại phế. Liên tục sai người đến, đại khái là muốn tự ý làm vương. Ta không hỏi, cứ để hắn tự làm, tự quản dân chúng, giao thông qua lại." Không lâu sau, Lý Thành Quế định ra hai quốc hiệu: "Triều Tiên" (tên quốc gia cổ) và "Quỳnh Ninh" (vùng đất của bậc sĩ ẩn dật). Để nhận được sự ủng hộ của nhà Minh, Lý Thành Quế sai sứ nhờ Chu Nguyên Chương quyết định, và Chu Nguyên Chương đã chọn hai chữ "Triều Tiên". Tuy nhiên, Chu Nguyên Chương lại cho rằng Lý Thành Quế "ngang ngược xảo trá", nên không sắc phong. Đến năm 1401, con trai ông là Lý Phương Viễn được nhà Minh sắc phong làm Triều Tiên Quốc Đại Vương, trở thành một phiên thuộc quốc của nhà Minh. Lý Triều thực hành chính sách ủng hộ Nho giáo, bài xích Phật giáo, và áp dụng chính sách thờ phụng nước lớn với Trung Nguyên. Năm 1636, quân Hậu Kim công chiếm toàn bộ Triều Tiên, Quốc vương Triều Tiên Lý Tông đầu hàng, sau đó thần phục và triều cống nhà Hậu Kim, trở thành nước được nhà Thanh sắc phong.
Đảo Jeju là hòn đảo lớn nhất ở phía nam của Lý Triều Tiên (sau đây gọi tắt là Lý Triều), từ năm 1273 đến năm 1392 thuộc bản đồ của triều Nguyên Trung Quốc. Năm 1231, trong chiến tranh Triều Tiên - Mông Cổ, Quốc vương Triều Tiên phải chạy trốn đến đảo Giang Hoa. Đến năm 1258, chính quyền họ Thôi sụp đổ, Quốc vương đầu hàng hãn quốc Mông Cổ, Mông Cổ sau đó đồng ý rút quân. Năm 1273, quân đội Nguyên triều Trung Quốc chiếm đóng đảo Jeju, chiến tranh Triều Tiên - Mông Cổ chấm dứt. Triều Tiên trở thành phiên thuộc quốc của Nguyên triều Trung Quốc. Chính phủ Nguyên triều Trung Quốc đã thiết lập Đam La Quân Dân Tổng Quản Phủ tại đảo Jeju để quản lý các vấn đề của quân đội Nguyên triều đóng trên đảo và cư dân trên đảo. Dưới quyền còn thiết lập một số cơ quan chính phủ, ví dụ như Mục Mã Phủ của Nguyên triều đóng tại đảo Đam La, quan viên cao nhất của Mục Mã Phủ là người Nguyên. Mặc dù khi Cung Mẫn Vương giành lại quyền lực vào năm 1356, triều đình Triều Tiên mới một lần nữa nắm giữ quyền thống trị, nhưng phải đến vài thập kỷ sau khi Nguyên triều Trung Quốc diệt vong, các quan viên Nguyên triều trên đảo mới chịu đầu hàng Triều Tiên. Thời kỳ Lý Triều, nơi đây đều là nơi lưu đày chính trị và chăn nuôi ngựa.
Đối với bán đảo Triều Tiên và các vùng lân cận, kể cả đảo Jeju ở phía nam bán đảo Triều Tiên, ảnh hưởng này là cực lớn: Trung Quốc đã nắm giữ chủ quyền đối với phần phía bắc bán đảo Triều Tiên trong tổng cộng hơn 800 năm, kéo dài từ thời Tây Hán đến Tam Quốc Tào Ngụy, và qua các triều đại Liêu, Kim, Nguyên. Bản đồ Triều Tiên chỉ bao gồm khu vực phía nam bán đảo. Hán tứ quận (108 TCN - 313 SCN) là bốn quận được Hán Vũ Đế thiết lập ở phía bắc và trung bộ bán đảo Triều Tiên sau khi bình định Vệ Mãn Triều Tiên vào năm 108 TCN, gồm: Lạc Lãng quận, Huyền Thố quận, Chân Phiên quận, Lâm Đồn quận. Các quận này có ảnh hưởng rất lớn đến các bộ lạc ở miền nam Triều Tiên và Nhật Bản. Mặc dù về tổng thể, đường biên giới có xu hướng lùi dần từ nam lên bắc, nhưng trong hơn 400 năm thời Liêu, Kim, Nguyên, nó cơ bản ổn định tại vùng Vĩnh Hưng quận, tỉnh Giang Nguyên của Triều Tiên ngày nay. Đến năm Nguyên thứ 19 (1282), Nhật Bản quấy nhiễu các vùng duyên hải của Triều Tiên. Theo thỉnh cầu của Quốc vương Triều Tiên, quân Nguyên đã đóng giữ Kim Châu. Năm sau, Nguyên triều Trung Quốc chính thức thiết lập Chinh Đông Hành Tỉnh Thư tại Triều Tiên, sử dụng Quốc vương Cao Ly và tướng quân Nguyên A-la-tháp Bái cùng cai quản các công việc của hành tỉnh. Cho đến cuối thời nhà Nguyên, nội chính và ngoại giao của Triều Tiên đều bị Nguyên triều kiểm soát. Ngay cả bán đảo Triều Tiên còn bị Nguyên triều kiểm soát, huống hồ gì đảo Jeju ở phía nam bán đảo Triều Tiên.
Đảo Jeju nằm ở trung tâm khu vực Viễn Đông, phía bắc cách bờ biển phía nam Hàn Quốc hơn 90 km, phía đông đối diện đảo Kyushu của Nhật Bản qua biển. Nơi đây án ngữ cửa ngõ eo biển Triều Tiên, có vị trí địa lý cực kỳ trọng yếu, thuộc phủ Jeju. Từ ba năm trước, Vi Nhân đã chú ý đến hòn đảo này. Không chỉ vì vị trí địa lý của hòn đảo này rất quan trọng, mà còn bởi vì triều đình kiểm soát ngựa chiến rất nghiêm ngặt. Ông biết rằng vào thời kỳ này, dù súng đạn đã dần được sử dụng rộng rãi trong các cuộc chiến tranh trên thế giới, và do sự xuất hiện của mình, thời đại vũ khí nóng cũng sẽ sớm xuất hiện trong lịch sử chiến tranh của Trung Quốc, nhưng hiện tại chiến tranh vẫn đang trong giai đoạn kết hợp vũ khí lạnh và vũ khí nóng. Việc triển khai tác chiến hoàn toàn bằng vũ khí nóng là điều không thể trong thời gian ngắn. Do đó, ông cần một đội kỵ binh hùng mạnh hơn, điều này đòi hỏi một cơ sở chăn nuôi ngựa. Chính vì vậy, ông nghĩ đến đảo Jeju.
Theo sử ký ghi chép, họ Trịnh ở Đài Loan và Nhật Bản có hoạt động thương mại trên biển rất sôi động. Khi nhà Thanh nhập quan, họ Trịnh rút về Đài Loan. Dựa vào thế lực biển hùng mạnh của mình, họ hoàn toàn kiểm soát việc "thông thương hàng hải" với Nhật Bản, Triều Tiên, Chân Lạp, Chiêm Thành và các quốc gia như Tam Phật Tề, "tích trữ vô số của cải". Gia tộc thương nhân biển họ Trịnh buôn bán khắp hai đại dương Đông và Tây, có quan hệ mật thiết nhất với Nhật Bản. Bởi vì tổ tiên Trịnh Chi Long đã cưới con gái của Tagawa Kasahwang, một người dân bình thường giàu có ở Nhật Bản, tên là Tagawa Matsu, sinh ra con trai là Phúc Tùng, tức Trịnh Thành Công. Trịnh Chi Long đi theo các cự phú thương nhân biển lúc bấy giờ là Lý Đán và Nhan Tư Tề. Sau khi hai người này qua đời, ông kế thừa địa vị "Thập trại chi chủ" của tập đoàn thương nhân biển vũ trang. Từ đó, ông sở hữu một đội thuyền buôn vũ trang và tham gia buôn bán trên biển. Vào thời điểm đó, người Nhật Bản đến Trung Quốc buôn bán cần nhờ Trịnh Chi Long giúp đỡ. Năm 1624, Trịnh Chi Long cùng Nhan Tư Tề và những người khác đã liên minh ở Nhật Bản nhằm chống lại sự thống trị của Mạc phủ Tokugawa. Khi sự việc bại lộ, bị quan lại Mạc phủ truy đuổi, ông bèn lên thuyền ra biển và chạy trốn đến Đài Loan. Tháng 9 năm Sùng Trinh nguyên niên (nhà Minh), Trịnh Chi Long tiếp nhận chiêu an của nhà Minh. Nhờ có công bình định hải tặc và chống lại quân xâm lược Hà Lan, ông được thăng chức Tổng binh Phúc Kiến. Vì vậy, ông dựa vào quyền thế, càng lũng đoạn việc buôn bán trên biển, "mỗi năm thu vào hàng vạn, giàu có sánh ngang quốc gia", "uy danh vang lừng khắp bảy Mân". Ông hoạt động giao thương trên biển ròng rã nửa thế kỷ. Từ đó, họ Trịnh sở hữu một nhóm lớn các căn cứ bến cảng từ đại lục đến hải đảo, một hạm đội viễn dương khổng lồ cùng với lực lượng vũ trang hộ tống. Bởi vậy, họ đã trở thành gia tộc thương nhân biển hùng mạnh nhất về kinh tế, chính trị và quân sự trong lịch sử Đông Nam Trung Quốc.
Tháng 5 năm 1645, quân Thanh đánh vào Nam Kinh, chính quyền Nam Minh của Phúc Vương diệt vong. Tin tức này đã được sứ thần Lý Triều biết vào tháng 11 năm đó và báo cáo gấp cho Quốc vương Lý Triều. Tháng 6 năm ấy, tại Thiệu Hưng lại thành lập chính quyền của Lỗ Vương Chu Dĩ Hải. Đồng thời, Trịnh Chi Long lại ủng lập Đường Vương xưng đế tại Phúc Châu, lấy niên hiệu Long Vũ. Lý Triều lại biết được tin tức về Trịnh Chi Long từ miệng các thương nhân lưu lạc ở Ph��c Kiến. Theo 《Lý Triều thực lục》 ghi chép, vào tháng 7 năm Nhân Tổ thứ 25 (tức năm Thuận Trị thứ 4, 1647), Tổng quản Kim Ứng Hải của Lý Triều đã tiếp nhận 51 thương nhân lưu lạc từ Phúc Kiến. Qua phiên dịch và lời kể của Từ Thắng, một trong số đó, biết được: "Ta là chủ thuyền, người huyện Tấn Giang, phủ Tuyền Châu, Phúc Kiến... Trịnh Chi Long và các tướng lĩnh khác đã tôn Đường Vương lên ngôi hoàng đế vào ngày mùng một tháng 7, định đô ở Phúc Kiến, lấy niên hiệu Long Vũ. Đường Vương là con trai thứ 24 của Thần Tông. Mẹ là Lý phi, (Đường Vương) là chú của Sùng Trinh... Các võ tướng thì có Trịnh Chi Long, Trịnh Chi Báo, Lâm Xá, v.v., đều là những người tài giỏi của ông ấy... Hoàng đế phong Chi Long làm Thái Sư, tước Bình Lỗ Hầu, thống lĩnh 40 vạn quân, mong muốn khôi phục Nam Bắc Kinh... Chi Long kinh phí không đủ, đã thỉnh cầu hoàng đế cho phép chúng tôi nhận quan bạc để buôn bán, dùng làm quân lương..."
Trịnh Thành Công vào năm 1647 đã xuất binh từ Nam Ao, liên tiếp công chiếm nhiều địa phương ven biển Mân Nam như Đồng An, Hải Trừng và Tuyền Châu. Sau đó, ông tiến đến Kim Môn và Hạ Môn, dùng hai nơi này làm căn cứ địa kháng Thanh, tiến hành cuộc đấu tranh kháng Thanh phục Minh. Năm 1648, Trịnh Thành Công sai sứ sang Nhật Bản, thương nghị các vấn đề liên quan đến việc kháng Thanh phục Minh, đồng thời tổ chức các thuyền buôn để hoạt động thương mại trên biển với Nhật Bản.
Năm 1659, Trịnh Thành Công thất bại trong chiến dịch quân sự và rút về Kim Môn, Hạ Môn. Năm 1662, quân của Trịnh Thành Công đã đánh đuổi thành công thực dân Hà Lan, thu phục Đài Loan. Sau khi Trịnh Thành Công qua đời vì bệnh, con trai ông là Trịnh Kinh lên ngôi. Đặc biệt là sau khi đóng quân ở Đài Loan, ông đã tích cực triển khai và mở rộng cuộc đấu tranh phản Thanh phục Minh. Để quyên góp quân phí, ông tiếp tục tiến hành nhiều hoạt động thương mại trên biển.
Vào lúc bấy giờ, hoạt động thương mại trên biển giữa họ Trịnh và Lý Triều rất thưa thớt. Nhưng, mỗi khi thuyền buôn của người Đường lưu lạc đến đảo Jeju, Lý Triều lại không hề làm khó họ, mà ngược lại, còn đưa tiễn họ ra khơi.
Bởi vì vào thời điểm đó, Lý Triều một mặt là phiên thuộc quốc của Thanh triều, mặt khác họ lại tràn đầy hoài niệm và sùng kính đối với nhà Minh. Thanh triều thiết lập quan hệ tông phiên với Lý Triều thông qua chiến tranh chinh phục một cách cưỡng ép. Người Nữ Chân, những kẻ từng bị người Lý Triều coi là "lũ chó lợn", "đồ hung ác", vậy mà lại trở thành kẻ thống trị quốc gia của mình. Điều này thực sự khiến họ không cam lòng. Bề ngoài thì vẫn xưng thần cống nạp, thực hiện nghĩa vụ của một nước phụ thuộc, nhưng bên trong lòng thì chất chứa đầy đau khổ và cừu hận. Ngược lại, Đại Minh trong lịch sử đã có "ân tái tạo" đối với Lý Triều. Họ đánh giá rất cao vai trò lịch sử của Đại Minh trong cuộc đấu tranh chống Nhật viện trợ, bởi vì đây là một đại sự có vận mệnh gắn liền với Lý Triều. Nhận thức này của người Triều Tiên, và những người kế tục họ, càng ngày càng sâu sắc. Tình huống này nếu nói là mang tính chính trị, thì chi bằng nói nó mang tính tình thân, tín ngưỡng, đạo nghĩa, tâm lý dân tộc và văn hóa. Đại Minh diệt vong là nỗi đau lớn lao đối với Lý Triều, theo thời gian trôi qua dần biến thành "nỗi đau thầm kín", nhưng dù thế nào, "ân tái tạo" của Đại Minh là điều mà người Lý Triều sẽ vĩnh viễn không bao giờ quên. Bởi vậy, vào thời Thanh sơ, các đời quốc vương và trọng thần của Lý Triều đều có ý chí liên minh phản Thanh, chỉ là tình thế phát triển và lực bất tòng tâm, cuối cùng không thành công.
Lúc này, Quốc vương đương triều của Lý Triều là Hiển Tông, tên Lý Huyên, tự Cảnh Trực. Ông ra đời ngày 4 tháng 2 năm Sùng Trinh thứ 14 (năm Nhân Tổ thứ 19 của Triều Tiên, 1641) tại Tư quán Thế tử Triều Tiên ở Thẩm Dương. Năm Giáp Thân 1644, khi Thanh triều nhập chủ Trung Nguyên và phóng thích con tin Triều Tiên về nước, Lý Huyên còn nhỏ tuổi đã được cùng cha mình là Đại quân Phượng Lâm trở về tổ quốc. Năm Kỷ Sửu 1649, Lý Huyên tám tuổi được sắc phong làm Vương Thế Tôn. Cha ông là Triều Tiên Nhân Tổ định ra Thế tử Chiêu Hiển làm người thừa kế thì bất ngờ chết bệnh. Đến năm Tân Mão 1651 (năm thứ hai của Hiếu Tông), ông được tiến phong làm Vương Thế Tử. Ngày 9 tháng 5 năm Kỷ Hợi 1659, Lý Huyên lên ngôi tại Nhân Chính Môn, cung Xương Đức. Ông cũng là một Quốc vương Lý Triều mang trong lòng hoài bão Đại Minh, cừu hận Mãn Thanh.
Bản dịch này được thực hiện vì độc giả xứng đáng với những tác phẩm có giá trị.