(Đã dịch) Lưu Bị Đích Nhật Thường - Chương 112: Đỗ lâu chỗ đậu
Việc xây dựng đỗ lâu không hề có độ khó về mặt kỹ thuật. Vấn đề là có cần đến nó hay không. Thời bấy giờ, đất đai rộng lớn, dân cư thưa thớt, nên thường không cần đến những công trình như vậy. Trừ phi là những nơi như Lâu Tang, đất chật người đông.
Lâu Tang là nơi tấc đất tấc vàng. Dù vậy, việc xây dựng một tòa đỗ lâu chuyên dụng để đậu xe tại khu vực phồn hoa trong ấp là điều không thể. Đứng trước mô hình thu nhỏ trong thư phòng, Lưu Bị nghĩ đi nghĩ lại, đành phải cải biến lại tòa đưa lâu.
Đưa lâu được xây ở phía nam của Lâu Tang. Tòa lầu cao năm tầng này, từ phía sau song khuyết nhìn vào là có thể thấy được. Nó vốn là một kiến trúc dạng cổng lâu, bắc ngang qua quan đạo. Phía trong dùng làm nơi truyền bưu dịch, chia thành hai khu riêng biệt. Hậu viện còn có chuồng ngựa và nhà để xe. Tổng thể vốn vô cùng hùng tráng.
Giờ đây, dãy phòng dài ở tầng một phía bên trái đã được cải tạo thành xe quán. Phía bên phải do phục vụ công việc truyền tin, bưu dịch nên không thể đụng đến. Từ tầng hai trở lên, phần lớn là nơi làm việc. Việc di dời không khó. Vấn đề nằm ở chỗ, nếu di dời công sở, thì số quan lại đang làm việc tại đó sẽ chuyển đi đâu?
Lưu Bị nhìn quanh, quyết định xây thêm một tòa lầu phía sau đưa lâu. Tòa lầu này bắc ngang qua quan đạo, song song với bắc môn khuyết. Như vậy, đưa lâu sẽ trở thành một tổ hợp kiến trúc hình chữ "Hồi". Phía trước có cổng khuyết, ba mặt còn lại là các tòa lầu bao quanh.
Tại giao điểm của lầu hai bên trái, bên phải và hậu lâu, mỗi bên đều mở một lối đi. Trong lối đi đó có đường dốc nghiêng phủ mái che, giúp xe ngựa có thể đi thẳng lên các tầng trên. Nhờ vậy, tầng hai, ba, bốn đều được dùng làm đỗ lâu. Tầng năm là quan thự. Để thuận tiện cho quan lại đi lại lên xuống, Lưu Bị còn xây hai 'thang nâng thẳng đứng' tại hậu lâu.
Thực ra đó chính là một hệ thống ròng rọc vận chuyển nặng, với một toa gỗ cứng được treo vào.
Ròng rọc vận chuyển nước, từ thời Xuân Thu Chiến Quốc đã được dùng để đưa quặng đồng thạch từ giếng lên. Trong «Nông sách» còn ghi chép một loại ròng rọc kép: dây thừng quấn trên trục ống, hai đầu treo hai vật chứa. "Thuận chiều hay ngược chiều đều có thể chuyển đổi, vật chứa trống sẽ đi xuống, vật chứa đầy sẽ đi lên, cứ thế thay phiên lên xuống không ngừng, công việc tiến hành rất nhanh."
Trong «Thế thuyết tân ngữ» của Nam Triều cũng có ghi: Khi Ngụy Minh Đế thời Tam Quốc xây dựng Lăng Tiêu Quan, lỡ treo tấm biển chưa ��ề chữ lên cao, "chính là dùng lồng thịnh vận chuyển, ròng rọc có dây thừng lớn kéo lên". Lưu Bị đã áp dụng chính loại ròng rọc kép vận chuyển nặng này.
Đương nhiên, Lưu Bị cũng có những cải tiến cần thiết. Chẳng hạn, việc cố định ròng rọc giúp cho việc đậu xe ở các tầng lầu trở nên thuận tiện hơn. Ông còn đặt bàn kéo bên trong toa. Trong toa có người chuyên vận hành bàn kéo. Để lên xuống các tầng, chỉ cần xoay chuyển ròng rọc đã được cố định, vô cùng tiện lợi.
Thao tác lên xuống cũng rất hiệu quả.
Cái gọi là 'thang trời' lên xuống do Thiếu Quân Hầu phát minh, đã được dân ấp bắt chước xây dựng. Kết quả là, những 'Vân Tiêu thang trời' thẳng đứng từ trên xuống dưới, với đài ngắm cảnh cao vút, đã trở thành một trong những cảnh quan của Lâu Tang. Nó được xếp vào một trong tám cảnh đẹp của Lâu Tang.
Lâu Tang bát cảnh: Sương lúa mùa sóng, kiều lâu về thị, ba chân giơ cao sóng, ba hũ lung nguyệt, Bạch Hồ Thủy Tạ, thanh ao dạng nguyệt, Tây Lâm Phong Cổ, Vân Tiêu thang trời. Dần dần được nhiều người biết đến.
Việc ph��i đi một chuyến đến Bắc Bình khiến Lưu Bị mang một tâm trạng khá mâu thuẫn đối với chuyến đi xa này.
Rời xa Lâu Tang, nơi mình tự tay đốc thúc xây dựng, Lưu Bị kiểu gì cũng sẽ bị đủ loại tâm trạng tiêu cực dọc đường làm cho mệt mỏi. Ngay cả khi trở về phủ, chàng cũng thi thoảng nhớ lại đôi mẹ con đã nhảy giếng tự vẫn kia, và không tự chủ được liên tưởng đến tình cảnh bi thảm đến tột cùng nào đã xảy ra lúc ấy.
Lâu Tang giàu có phồn hoa, của rơi không nhặt, đêm không đóng cửa. Nhưng thử hỏi, thiên hạ có được bao nhiêu Lâu Tang như vậy?
Phải chăng vạn vạn Lâu Tang mới làm nên một Hoa Hạ? Nhưng liệu Hoa Hạ có được bao nhiêu vạn vạn Lâu Tang?
Mẫu thân nói, Lưu Bị lớn lên nhất định sẽ tạo phúc một phương. Nhưng thưa mẫu thân, thiên hạ có mười phương, vậy chín phương còn lại sẽ ra sao?
Cuối xuân đầu hè, nắng gắt như đổ lửa.
Bạch Hồ Thủy Tạ đã gần hoàn thành. Hơn phân nửa dân ấp đã chuyển vào nhà mới. Việc sắp xếp chỗ ở lúc này không cần Lưu Bị phải lo liệu nữa. Người dân tự nguyện trao đổi nơi ở. Rất nhiều người ngại nước đã đổi chỗ ở với những người thích nước. Miễn là việc trao đổi được đăng ký lại là được.
Ba người trở lên tụ tập uống rượu vô cớ sẽ bị phạt bốn lượng tiền. Bốn người trở lên uống rượu, ắt phải có lý do chính đáng.
Chỉ qua những điều này thôi cũng đủ biết vì sao Lâu Tang lại tấp nập ngựa xe, du khách như dệt cửi. Giống như việc không có cửa ấp, mọi người ra vào tự do. Đến Lâu Tang, người ta tìm thấy chính sự tự do hiếm có này.
Chẳng ai biết, những vị khách đang uống rượu ở nhã tọa sát vách mang thân phận ra sao. Thời gian nghỉ ngơi chỉ có một ngày. Khi đèn hoa vừa thắp sáng, những cỗ xe ngựa vốn đậu trong đỗ lâu ban ngày, giờ đây đã xếp hàng ngay ngắn trước các nhà tắm nước nóng, tửu lầu, khách xá... chờ đón chủ nhân của mình.
Những người dân ấp bận rộn cả ngày, giờ đây tốp năm tốp ba ra đường, tận hưởng sự thái bình thịnh vượng của ấp mà họ đã dày công gây dựng.
Gần đây có một nghề nghiệp hoàn toàn mới xuất hiện, khiến Lưu Bị khá hứng thú.
Dù cùng được gọi là 'con buôn', nhưng lại tương tự với các nghề như 'bang nhàn', 'môn khách', 'dẫn đường', 'hướng dẫn du lịch' của hậu thế, hay 'môn khách', 'nuôi sĩ' đương thời. Những người này vừa thông thạo Lâu Tang, lại vừa khéo ăn nói. Cách đối nhân xử thế có phong thái riêng, không mất đi vẻ hài hước đời thường. Rất được những người mới đến hoan nghênh.
Chỉ từ khi nghề 'con buôn' này mới ra đời, đã đủ để thấy Lâu Tang thực sự phồn hoa đến mức nào.
Vừa hạ thủy xong việc xây dựng, vụ lúa năm nay lại sắp sửa bắt đầu.
Gần đây, Lưu Bị thường đến ụ tàu Bạch Hồ để đốc thúc việc đóng những chiếc thuyền mới chuyên dùng cho vụ lúa.
Tại ụ tàu rộng lớn, trên hai đường trượt song song, phía bên trái đặt một chiếc thuyền mới đang đóng, bên phải là một chiếc thuyền cũ chờ cải tạo. Thuyền mới đang được gấp rút đóng, thuyền cũ thì chờ được cải tạo.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa thuyền mới và những chiếc thuyền con thông thường là trong khoang thuyền được dựng lên những 'ương thế' bằng gỗ xếp tầng. Ương th�� này tương tự như ngăn kéo. Chúng được xếp thành từng tầng, có thể tùy ý kéo ra rút vào. Một chiếc 'thế thuyền' có thể vận chuyển mười mẫu mạ non.
Để thuận tiện cho nông dân làm việc tại các cánh đồng lân cận, trong khoang thuyền còn bố trí giường, tủ đựng thức ăn, bồn cầu và các vật dụng sinh hoạt thiết yếu khác.
Vô cùng tiện lợi.
Lưu Bị cùng Hoàng Trung và những người khác, khá hứng thú theo dõi các thợ đóng thuyền khoan, đóng đinh, nêm khe hở và sơn phết dưới đáy thuyền.
Bên cạnh xưởng gia công gỗ, các thợ thủ công đang hạ vật liệu, phác họa, cưa gỗ, bận rộn quên cả thời gian. Chỉ đợi 'thế thuyền' trên đường trượt hoàn thành, họ sẽ bắt đầu đóng thuyền mới và cải tạo thuyền cũ. Cứ lặp đi lặp lại như vậy, thuyền sẽ được hạ thủy liên tục.
'Thế thuyền' cũng là một loại thuyền con, dùng để nông dân đi lại giữa Thanh Khê và con đường. Loại thuyền này hẹp nhưng có mái che. Dài không quá năm trượng, rộng chưa đến năm thước, tải trọng không quá mười thạch. Việc đóng và cải tạo những chiếc thuyền nhỏ như vậy với hai ụ thuyền lớn có vẻ như là 'đại tài tiểu dụng'. Thế nhưng đối với Thiếu Quân Hầu và dân ấp của chàng, điều này lại vô cùng quan trọng.
Bắc Địa mỗi năm chỉ có một mùa gặt. Chỉ cần có sai sót nhỏ, tâm huyết cả năm sẽ đổ sông đổ biển. Năm sau chắc chắn sẽ không có gạo để nấu. Bởi vậy, không thể không thận trọng hết mực.
Bởi vì cái gọi là 'thuyền nhỏ dễ quay đầu', cánh chim của Lưu Bị ngày càng đầy đặn. Với quy mô như Lâu Tang hiện giờ, muốn phá bỏ làm lại là điều gần như không thể.
Đối với những đại sự như vụ lúa, Lưu Bị thế tất phải tự mình đốc thúc, tuyệt đối không nhờ vả tay người khác.
Ngoại trừ thời gian học buổi chiều, gần như toàn bộ thời gian của Lưu Bị đều dành cho vụ lúa.
Ân sư cũng biết chàng bận rộn trăm công nghìn việc, nên không giao quá nhiều bài tập, mà để chàng tùy sức mình. Đêm đó, vừa rời khỏi Lâu Tang Học Đàn, Lưu Bị liền bị Công Tôn Toản và những người khác vây chặt. Hỏi ra mới biết, Diêm Nhu ngày mai sẽ lên đường. Biết Lưu Bị ban ngày không rảnh lo chuyện khác, mọi người liền lôi kéo chàng đi dự tiệc tối.
Ân sư của Lưu Bị nổi tiếng là người thích rượu. Lưu Bị lẽ nào lại không thể uống rượu?
Chỉ có điều, tuổi còn nhỏ, mẫu thân nghiêm cấm.
Ngay lúc này, tửu lầu cũng đã chật kín khách quý. Phong tình chợ đêm, nếu không đích thân đến thì không thể nào trải nghiệm hết. Công Tôn Toản đã thuê một gian sương riêng. Dưới sự bảo vệ của hai đội quân, một đội tinh nhuệ Bạch Nhĩ và một đội quân Lâu Tang Thứ Gian, Lưu Bị nhờ thang trời mà đi thẳng lên lầu ba.
Dọc hành lang, chàng đi đến gian phòng thuê tên 'Tùng Đào', đẩy cửa nhìn vào, bằng hữu cũ đều đã có mặt đông đủ.
Trần Dật, Hồ Phụ, huynh trưởng Lưu Văn, Nhị huynh Lưu Vũ, Tứ đệ Lưu Tu, cùng Công Tôn Toản và Diêm Nhu.
Mọi bản dịch chất lượng cao của chúng tôi đều thuộc truyen.free, hãy đón đọc để không bỏ lỡ.