Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Lưu Bị Đích Nhật Thường - Chương 126: Giáp kỵ cụ trang

1. Một Trăm Hai Mươi Sáu Bộ Giáp Kỵ Binh

Dựa trên cổ pháp Tiên Tần và kết hợp với công nghệ hiện đại, những người thợ lành nghề đã chế tạo ra bộ giáp Lâu Tang, mang tên Đà Long Giáp.

Đà Long Giáp được cấu thành từ ba bộ phận chính: thân giáp, giáp váy và tay giáp. Mỗi bộ giáp còn đi kèm một mũ giáp bằng da (da nón trụ) ghép từ các tấm giáp, tạo thành m���t bộ giáp hoàn chỉnh.

Thân giáp gồm giáp ngực, giáp lưng, giáp vai, giáp sườn và giáp che cổ. Các tấm giáp ngực, lưng, vai và sườn được cố định với nhau, có hình dạng khác nhau tùy theo từng bộ phận. Chúng được tạo hình tỉ mỉ, trông giống như phần lưng của áo khoác trong các thời kỳ sau này. Trên viền tấm giáp vai, phần giáp che cổ lớn được nối liền và vươn lên theo đường chéo. Giáp váy được tạo thành từ bốn hàng giáp phiến. Mỗi hàng ngang gồm mười bốn tấm, có hình thang hơi loe ra (trên hẹp, dưới rộng), được cố định với nhau. Chúng xếp chồng lên nhau theo thứ tự từ trái sang phải, tạo thành một hình tròn với miệng hẹp, đáy rộng. Các hàng giáp phiến có kích thước hơi khác nhau: hàng dưới lớn hơn một chút so với hàng trên. Mép trên của hàng giáp dưới vừa vặn ôm lấy mép dưới của hàng giáp phía trên, sau đó được liên kết linh hoạt với nhau thông qua một loạt lỗ khoét giữa các tấm giáp.

Nhờ vậy, khi chiến sĩ cúi người, hàng giáp váy phía dưới có thể đẩy chồng lên mép ngoài của hàng giáp váy phía trên, giúp họ cử động đầu v�� thân trên một cách tự nhiên. Tay giáp được ghép từ mười ba hàng giáp phiến hình bán nguyệt nhỏ. Mỗi hàng ngang được cố định với nhau, tạo thành hình tròn nhưng không khép kín ở phía dưới. Ngoại trừ hàng giáp cuối cùng dùng làm ống tay áo, các hàng còn lại đều gồm năm mảnh giáp phiến.

Hàng giáp phiến trên cùng ở vai có kích thước lớn nhất. Các hàng giáp phía dưới nhỏ dần theo thứ tự. Chúng được liên kết linh hoạt với nhau, tạo thành một tay áo trên to dưới nhỏ nhưng vẫn đảm bảo khả năng co duỗi. Hai ống tay giáp trái, phải được nối liền với giáp vai trái, phải của thân giáp, tạo thành một bộ giáp da hoàn chỉnh. Mũ giáp cũng được ghép từ nhiều loại giáp phiến. Giữa đỉnh đầu là một sống lưng lăng nhô dọc lên, hai bên là các tấm giáp đỉnh hình bán cầu liên kết lại, tạo thành mái vòm. Phần trán được gắn tấm giáp hộ trán hình chữ "Lõm" cong nhẹ. Hai bên mặt kéo dài về phía sau là hai hàng giáp phiến rủ xuống, che chắn tai và cổ. Tổng cộng hơn một trăm tám mươi tấm giáp được ghép lại thành bộ giáp da này.

Nó có khả năng bảo vệ hiệu quả cơ thể chiến sĩ từ cổ đến đầu gối. Dù giáp váy dài và nặng nề không thuận lợi cho bộ binh di chuyển đường dài, nhưng lại vô cùng phù hợp với kỵ binh.

Áo lót cũng được chế tác từ da rồng đà.

Mũ giáp ngựa được ép khuôn từ một khối da thuộc nguyên vẹn. Phần sống mũi gần như phẳng, đỉnh đầu được dập nổi hình xoáy tròn, hai bên có khoét lỗ tai và mắt. Má được ép thành tấm hộ má lồi với các đường vân. Mũ giáp được sơn đen đều cả trong lẫn ngoài. Áo lót giáp ngựa, bao gồm giáp cổ và giáp thân, được ghép nối tương tự như tay giáp của người. Nó gồm năm hàng giáp phiến, mỗi hàng năm mảnh, tổng cộng hai mươi lăm mảnh. Các hàng được cố định với nhau, hàng trên đè lên hàng dưới và được liên kết linh hoạt, giúp bảo vệ ngực và cổ ngựa. Thân giáp được chia thành hai phần trái và phải. Mỗi phần gồm bốn hàng, mỗi hàng sáu mảnh, tạo thành một tấm giáp hình chữ nhật. Do có một lỗ tròn được khoét, nên một miếng giáp tròn gồm ba mảnh được đính lên để che. Mỗi phần thân giáp sử dụng hai mươi bảy mảnh giáp, tổng cộng toàn bộ thân giáp dùng đến năm mươi bốn mảnh.

Kích thước từng mảnh giáp và số lượng được ghép nối đều dựa trên hình dáng cơ thể kỵ sĩ và ngựa, được đo đạc cẩn thận mà chế tạo, không câu nệ vào một khuôn mẫu cố định nào.

Chiến mã phủ lên bộ giáp sơn nặng nề, có khả năng bảo vệ hiệu quả đầu, cổ và thân thể, ngăn ngừa binh khí địch làm tổn thương.

Để tránh đùi ngựa bị thương, Lưu Bị còn ra lệnh cho thợ thủ công chế tạo thêm giáp ống chân (hộ thối).

Đây là lớp giáp ngoài của bộ trang bị Đà Long, tất cả đều là kỹ nghệ thời Tiên Tần.

Vào thời đó còn có kỹ thuật "Hợp Giáp".

Kỹ thuật "Hợp Giáp" là việc kết hợp hai lớp da: một lớp trong và một lớp ngoài, ép chặt lại với nhau.

Lớp ngoài dùng da lưng rồng đà cứng cáp mà dẻo dai, lớp trong dùng da bụng rồng đà tương đối mềm mại và mỏng hơn.

Hai lớp giáp phiến, sau khi được sơn riêng biệt, ngay khi sơn chưa khô, chúng sẽ được đưa vào công đoạn "Thủy áp" để hợp giáp. Thủy áp là một công cụ nén ép do Lưu Bị sáng chế, dựa tr��n nguyên lý sắp xếp nước. Các tấm giáp gỗ tráng men sau khi hợp lại và ép chặt cũng được thực hiện bằng thủy áp.

Sau khi hợp giáp, lớp giáp ngoài bằng da rồng đà sẽ được sơn ba lần.

Lớp sơn dầu dùng cả trong lẫn ngoài đều được pha chế tinh xảo từ bột tráng men. Sơn không chỉ bám chặt trên bề mặt da rồng đà mà còn thấm sâu vào các lỗ hổng, kết dính chặt chẽ với lớp giáp trong. Khi giáp hoàn thành, Lưu Bị liền cho Hoàng Trung thử nghiệm. Mũi tên từ cung ba thạch mạnh mẽ, vậy mà chỉ có thể xuyên thủng một chút xíu!

Đao búa chém xuống cũng khó lòng xuyên phá!

Ngoại trừ lửa, nước, sấm sét,

Thì còn gì phải sợ nữa!

Rồng đà sinh sống nhiều ở Đan Dương. Lưu Bị phái người thân tín mang theo số tiền lớn đến đó để mua bán. Đồng thời, ông cũng viết thư cho Điền Thiều ở Liêu Đông, nhờ hỏi thăm các thương gia giàu có ở Giang Nam để thay mình chọn mua.

Việc chế tạo giáp đã có những người thợ giỏi lo liệu. Lưu Bị phần lớn thời gian đều bận rộn với việc gặt lúa.

Quả đúng như lão tộc trưởng dự đoán. Năm nay sản lư���ng cao hơn năm ngoái, mỗi mẫu ruộng thu hoạch được sáu thạch (thạch = 10 đấu) lúa.

Nhà nhà đều hân hoan.

Dù dân cư trong ấp đều thuộc một đình, nhưng đất đai ruộng vườn lại có nhiều điểm không nhất quán. Thôn Lâu Tang cách huyện Trác mười dặm về phía nam, và mười dặm nữa về phía nam là Ly Đình. Những người dân đã nhập hộ khẩu vào Lâu Tang nhưng vẫn sinh sống giữa Ly Đình và Lục Thành Đình, sở hữu nhiều ruộng đất nằm xen kẽ giữa hai đình này, thậm chí cả trong Ly Đình. Khi hộ tịch được chuyển về Lâu Tang, ruộng đất của họ đương nhiên cũng được chuyển quyền sở hữu về Lâu Tang. Vì thế, diện tích ruộng nước của Lâu Tang không chỉ giới hạn trong mười dặm. Do những ngôi làng cũ bị bỏ hoang sau khi dân cư chuyển đến Lâu Tang, số đất đai đó dứt khoát được chuyển đổi thành ruộng nước, mang lại thu nhập khá.

Thấy ruộng nước ở Lâu Tang ngày càng phát triển, dân làng xung quanh lũ lượt tìm đến lão tộc trưởng, với ý định mua giống lúa, thuê nông dân và chuyển đổi ruộng đất của mình thành ruộng nước. Lão tộc trưởng bèn đến hỏi ý Lưu Bị.

Chuyện này còn phải hỏi sao?

Thiếu Quân hầu Lưu Bị lập tức đồng ý. Chỉ có điều, vụ mùa này không còn kịp nữa. Muốn cải tạo thành ruộng nước thì phải đợi đến vụ mùa sau. Thiếu Quân hầu bèn yêu cầu dân làng và các ấp lân cận cử vài đại diện đến Lâu Tang để học hỏi kỹ thuật. Ông còn phái người thân tín tận tình truyền dạy.

Dù kho lương của Thiếu Quân hầu có thể chứa mười hai vạn năm ngàn thạch lúa, nhưng vụ mùa này chỉ nhập thêm được vài ngàn thạch.

Cộng với số lương thực tồn kho của năm trước, tổng cộng cũng chỉ khoảng một vạn thạch. Để lấp đầy kho thì vẫn còn rất lâu. Lương thực vào thời điểm đó chưa phải là quá quý giá, nhưng khi loạn lạc xảy ra, có thể ăn ba bữa mỗi ngày tuyệt đối là một điều vô cùng hạnh phúc. Việc Lưu Bị không thu tiền mà chỉ lấy thóc cũng là một cách đề phòng chu đáo.

Trước đây, để xây dựng nhà ấm trồng dược liệu sớm, Lưu Bị đã muốn mua da dê. Ô Liên đã gửi thư cho anh họ Ô Diên, và một lượng lớn lông dê, da dê đã được vận chuyển đến Th��y trại Bình Ba. Chỉ còn chờ thuyền buôn của Điền thị cập bến Lâu Tang. Thủy trại Bình Ba có vai trò rất quan trọng. Dù là buôn ngựa ở phía bắc hay buôn da lông dê bò, đây đều là một trạm trung chuyển cực kỳ thiết yếu. Ngay sau đó, Lưu Bị viết thư cho Trình Phổ, bày tỏ ý định mua đất trong thủy trại để xây dựng một khu lưu trữ chuyên biệt.

Trình Phổ đương nhiên lập tức đồng ý.

Tất cả những việc này đều diễn ra quanh thời điểm lập thu.

Đến khi những hạt lúa trĩu nặng về kho, trời đã vào lập đông.

Những tấm da dê từ thảo nguyên được chuyển đến, phần lớn đã được người thân tín và dân làng mang đi may nhà ấm. Lông dê sau khi cắt chất thành đống như núi. Mẫu thân hỏi: "Số lông này định dùng làm gì đây?"

Lưu Bị gãi đầu, hỏi ngược lại: "Liệu có thể xe thành sợi không?"

Mẫu thân khẽ gật đầu: "Tất nhiên rồi. Cây dâu tằm còn kéo được tơ, huống hồ là lông dê?"

Tài nữ công của mẫu thân thì không ai sánh bằng. Ngay lập tức, Lưu Bị đưa lông dê cho mẫu thân thử xử lý.

Mẫu thân trước tiên dùng nước nóng ngâm, lọc bỏ sợi cỏ, phân và nước tiểu. Sau khi phơi khô, bà dùng lược chải kỹ lưỡng cho lông tơi bông. Tiếp đó, bà dùng guồng quay tơ xe thành những sợi lông mịn màng.

Lưu Bị nhìn những sợi lông dê trắng muốt trên guồng quay tơ, không khỏi tấm tắc khen ngợi.

Mẫu thân bèn hỏi: "Rồi sao nữa?"

Lưu Bị thốt lên: "Sao không dệt thành thảm?"

Vào thời điểm đó, thảm cũng đã có rồi. Người đương thời gọi là Thảm len (qú S Hū) hoặc 毾? (tà d uyển g). Chúng thường được sản xuất ở Tây Vực. Mùa đông lạnh giá, đặc biệt là sàn nhà gỗ. Nếu trải một tấm thảm lông dê lên sàn gỗ thì thật là thoải mái.

Nghĩ đến thôi cũng đã thấy ấm áp rồi.

Con trai Kỳ Lân (Lưu Bị) luôn có những ý tưởng độc đáo, mỗi sáng kiến đều là điều phi thường. Mẫu thân cũng muốn thử sức. Các thị tỳ trong nhà đều đến giúp sức.

Tiếng khung cửi dệt vải vang lên không ngừng nghỉ suốt ngày đêm. Mọi bản quyền nội dung này thuộc về truyen.free, đề nghị không sao chép trái phép.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free