(Đã dịch) Lưu Bị Đích Nhật Thường - Chương 30: hạn cực mà châu chấu
Một. Hạn cực mà châu chấu
Đợi Lưu Bị xem xong, ân sư lại lấy ra bức thư do Ngự Sử Lưu Đào tự tay viết. Trong thư nói triều đình có thể sẽ bổ nhiệm ân sư làm Nghị lang, phụ trách khảo đính kinh thư Nho học ở Đông Quan, và tham gia biên soạn tiếp tục bộ « Hán Ký » (sử gọi là « Đông Quan Hán Ký »).
"Đông Quan" (Đông Quán hay Đông Quan) vốn chỉ kiến trúc cao lớn dùng để quan sát từ trên cao.
Đông Quan nằm ở Nam Cung, Lạc Dương. Đây là một kiến trúc cao lớn, tráng lệ, tầng cao nhất có mười hai gian gác, xung quanh các điện các nhìn ra nhau, cây cối xanh tươi râm mát, cảnh quan u nhã. Đây là nơi chủ yếu để cung đình cất giữ bản đồ cương vực, sổ hộ tịch, và biên soạn sách sử.
Nghị lang, thời Hán, là một trong các lang quan thuộc Quang Lộc Huân. Phụ trách cố vấn đối đáp các việc không thường xuyên. Bổng lộc sáu trăm thạch. Thường do những sĩ nhân hiền lương, chính trực được trưng tập đảm nhiệm.
Lưu Bị cười nói: "Chức Nghị lang này thật là thanh nhàn."
Ân sư cũng cười: "Lần này được tham gia biên soạn tiếp « Hán Ký », đúng là hợp ý ta. Ta sẽ đi trước, đợi mọi việc trong ấp được an bài thỏa đáng, con liền tới Lạc Dương."
Lưu Bị gật đầu: "Vâng."
Đàn Thạch Hòe và tộc Tiên Ti đã trở thành mối họa lớn. Lưu Bị không nhớ có ai từng đánh bại được Đàn Thạch Hòe. Cuộc chinh phạt phương Bắc lần này, nhất định sẽ đại bại. May mắn thay, Đàn Thạch Hòe mất sớm khi còn tráng niên. Vì thế, tộc Tiên Ti chia thành ba bộ, không còn giữ được thế lực như trước.
Sau khi tan học, Lưu Bị trở về trong phủ. Triệu Ô Liên hỏi thăm mọi việc liên quan đến tộc Tiên Ti.
Ô Liên nói, từ khi Đàn Thạch Hòe thống nhất các bộ tộc Tiên Ti, ông ta chia lãnh thổ thành ba phần. Phía đông Bắc Bình là Đông bộ, từ Bắc Bình đến Thượng Cốc là Trung bộ, và phía tây Thượng Cốc là Tây bộ. Mỗi bộ đều có đại nhân quản lý, tất cả đều trực tiếp lệ thuộc Đàn Thạch Hòe.
Ô Liên còn nói, người Hồ sinh tồn chủ yếu dựa vào ba thứ: "Cây rong", "Sô cảo" và "Muối địa". Sau khi Đàn Thạch Hòe trở thành Đại nhân Tiên Ti, ông ta lập vương đình tại Đạn Hãn Sơn, bên bờ Tuyết Thù Thủy, cách Cao Liễu về phía bắc hơn ba trăm dặm. Binh lực rất hùng mạnh, các đại nhân của Đông bộ và Tây bộ đều quy phục tại đây. Về sau, phía nam chiếm giữ vùng biên cương, phía bắc chống lại Đinh Linh, phía đông phục tùng Phù Dư, phía tây tấn công Ô Tôn, chiếm trọn lãnh thổ cũ của Hung Nô, rộng hơn bốn ngàn dặm từ đông sang tây, hơn bảy ngàn dặm từ nam sang b��c, kết nối các vùng núi, sông, đầm lầy, hồ muối. Thanh thế ngày càng hưng thịnh.
Đúng như Ô Liên đã nói, người Hồ sinh tồn chủ yếu dựa vào ba nguồn tài nguyên: "Cây rong", "Sô cảo" và "Muối địa".
Cây rong, chính là những đồng cỏ tự nhiên xanh tốt. Sô cảo, tức là cỏ khô làm thức ăn gia súc. Muối địa, dĩ nhiên là chỉ vùng đất sản sinh ra muối.
Các loại muối ăn thời đó chủ yếu có: muối biển, muối hồ (hồ muối), hầm muối, muối mỏ (mỏ muối). Muối hồ có lịch sử lâu đời, vào thời Tây Chu, Diêm Trì đã sản xuất muối hồ quy mô lớn. Vì hồ muối nằm ở Diêm Huyện, Hà Đông, tên cổ là Diêm Trì, cũng được gọi là "Diêm Trì Hà Đông". Hơn nữa, vì hạt muối hồ trắng nõn, nó còn được gọi là "Muối Hà Đông". Dùng muối hồ để ướp dưa cải, rau củ thì màu sắc đẹp đẽ, hương vị thơm ngon và giữ được lâu.
Các quận biên giới cũng có hồ muối. Ví dụ như quận Ngũ Nguyên có hai hồ muối: Bạch Hồ và Ô Hồ.
Những hồ muối này cũng là mục tiêu trọng điểm mà người Hồ thường xuyên chiếm đoạt và cướp bóc.
Trung Quốc lấy nông nghiệp làm gốc, từ xưa đã xem nước lụt, hạn hán và châu chấu là ba mối họa lớn nhất. « Kinh Thi - Tiểu Nhã » liền có ghi chép về "Điệc nhĩ minh đằng" (螽斯). Đằng, chính là châu chấu.
Nạn châu chấu thường đi đôi với hạn hán. Một mặt, trong những năm khô hạn, vì mực nước ngầm hạ thấp, đất đai khô cứng, độ ẩm giảm xuống, số lượng trứng châu chấu tăng vọt. Đồng thời, trong những năm hạn hán, sông ngòi, mặt hồ thu hẹp, những vùng đất trũng lộ ra, cũng cung cấp thêm nhiều nơi thích hợp cho châu chấu đẻ trứng. Mặt khác, thực vật trong môi trường khô hạn có hàm lượng nước thấp, châu chấu ăn những loại này sẽ sinh trưởng nhanh chóng và có sức sinh sản cực cao.
Vì vậy, từ xưa đã có câu "hạn cực mà châu chấu" (hạn hán cực độ sinh châu chấu).
Đợt nạn châu chấu lần này gây ra tai họa cực lớn. Thảo nguyên cũng không tránh khỏi tai ương. Cho nên tộc Tiên Ti thường chỉ quấy nhiễu biên giới vào những năm mất mùa, nhưng năm nay, đúng vào mùa xuân hè vốn là thời điểm chăn nuôi ngựa, lại quy mô cướp bóc các quận biên giới.
Hộ Ô Hoàn Giáo úy Hạ Dục đã nhìn thấy cơ hội chiến lược lóe lên trong tình thế nguy cấp này. Ông ta muốn nhân cơ hội Tiên Ti suy yếu, một lần dẹp yên phương Bắc.
Triều đình ta, trong cuộc chiến kéo dài với Tây Khương, Tiên Ti, Ô Hoàn, đã rèn luyện được một nhóm trung thần, danh tướng. Tiêu biểu là "Lương Châu Tam Minh": Hoàng Phủ Quy, Trương Hoán, Đoàn Quýnh. Không chỉ ba người này tài năng xuất chúng, mà một nhóm tá quan, phó tướng dưới trướng họ cũng đều là những tướng tài. Hạ Dục chính là một trong số đó. Hạ Dục trước đây từng làm Hộ Khương Tư Mã dưới trướng Đoàn Quýnh, lập được nhiều chiến công. Năm Hi Bình thứ ba, Hạ Dục khi ấy giữ chức Thái thú Bắc Địa quận, Lương Châu. Khi Tiên Ti quấy nhiễu Bắc Địa, Hạ Dục đã truy kích và đánh bại. Ông được gia phong Hộ Ô Hoàn Giáo úy.
Lưu Bị hỏi Ô Liên, biết rằng thảo nguyên vốn xanh tốt như thảm lụa vào thời điểm này, giờ lại không còn một ngọn cỏ. Ngay cả mầm non vừa nhú cũng bị châu chấu gặm sạch. Bảy châu của Đại Hán gặp nạn châu chấu, triều đình mở kho cứu trợ, nông dân còn có thể sống sót. Thế nhưng, những người dân chăn nuôi trên thảo nguyên, nếu không còn gia súc, chỉ có thể chết đói. Việc tộc Tiên Ti phá lệ tiến công vào tháng tư, đủ thấy tình thế cấp bách đến nhường nào.
Đúng như mật tín của Tả Phong, trận chiến này là không thể tránh khỏi.
Nghĩ đến đây, Lưu Bị vội vàng lấy ra cuộn bản đồ địa hình, cẩn thận quan sát.
Lại gọi các tâm phúc đại tướng Hoàng Trung, Từ Vinh, Ô Liên hỏi: "Nếu làm tướng, nên tiến quân như thế nào?"
Từ Vinh tung hoành Liêu Đông, nắm rõ địa hình các quận biên giới như lòng bàn tay. Ông liền nói: "Sau khi Đàn Thạch Hòe thống nhất các bộ tộc Tiên Ti, ông ta đã chia lãnh thổ thành ba phần: phía đông Bắc Bình là Đông bộ, từ Bắc Bình đến Thượng Cốc là Trung bộ, và phía tây Thượng Cốc là Tây bộ. Nếu ta làm tướng, quân ta nên chia làm ba đường: một cánh quân xuất phát từ Đại quận, một cánh quân từ Vân Trung, và cánh còn lại từ Nhạn Môn. Ba đường cùng tiến, thẳng tiến vương đình!"
Lưu Bị vội vàng soi đèn xem.
Từ Cao Liễu huyện thuộc Đại quận về phía bắc ba trăm dặm, chính là nơi vương đình Tiên Ti – Đạn Hãn Sơn tọa lạc!
Thế nhưng, tộc Tiên Ti phía nam chiếm giữ biên giới, phía bắc chống lại Đinh Linh, phía đông phục tùng Phù Dư, phía tây tấn công Ô Tôn. Chiếm trọn lãnh thổ cũ của Hung Nô, rộng hơn bốn ngàn dặm từ đông sang tây, hơn bảy ngàn dặm từ nam sang bắc, kết nối các vùng núi, sông, đầm lầy, hồ muối. Với lãnh thổ rộng lớn như vậy, đáng lẽ phải đặt trung tâm phòng thủ ở giữa. Vậy tại sao lại cứ đặt vương đình ở Đạn Hãn Sơn, nơi gần với Đại Hán ta như vậy?
Thấy Lưu Bị có vẻ không hiểu, Từ Vinh liền giải thích: "Người Hồ sinh tồn chủ yếu dựa vào ba thứ: Cây rong, sô cảo và muối địa. Những nguồn tài nguyên này không dồi dào, vị trí của chúng lại cố định và đều nằm gần biên giới của ta."
Nguyên nhân chính là như thế. Từ thời Lưỡng Hán, triều đình thường lợi dụng người Hồ quy phụ làm người dẫn đường, hoặc thông qua những người dân biên giới thông thạo tiếng Hồ để thu thập tình báo, sau đó dùng kỵ binh cơ động, tiến hành các cuộc tấn công nhanh chóng, chính xác vào cứ điểm của người Hồ, nhằm tiêu diệt sinh lực đối phương. Hành động này được gọi là "Đảo tổ" (Đánh úp sào huyệt).
Với ý nghĩa là đánh thẳng vào sào huyệt địch.
Từ Vinh lại nói: "Ta đoán rằng cuộc bắc phạt lần này của triều đình, chính là nhằm thực hiện kế sách "Đảo tổ"!"
Thì ra là thế!
Vì muốn thực hiện kế sách "Đảo tổ" và vì Đàn Thạch Hòe đã chia tộc Tiên Ti thành ba bộ: Đông, Trung, Tây, cho nên cần phải chia quân thành ba đường. Các cánh quân xuất phát đều là tinh nhuệ kỵ binh Đại Hán. Ngày đêm phi nước đại, chỉ cần một cánh quân phá được địch, là có thể tiến thẳng vào sào huyệt của chúng. Nếu có thể chém giết được Hồ Tù Đàn Thạch Hòe, tộc Tiên Ti nhất định sẽ đại loạn. Tiên Ti sau khi phân liệt sẽ không còn đủ sức đối kháng với Bắc Hung Nô, hay các bộ tộc Ô Hoàn ở ba quận đã quy phục Hán triều.
Cách làm như vậy, quả thật rất có lý.
Nhưng nếu không thể tốc chiến tốc thắng, một đòn mà trúng, mà lại lâm vào đánh lâu dài, thì Hán triều đang loạn trong giặc ngoài lúc này, căn bản không thể chống đỡ nổi.
Hộ Ô Hoàn Giáo úy Hạ Dục đã tấu trình: "Kính xin điều động binh lính từ các quận U Châu và biên cương xa xôi đi tấn công, trong vòng một mùa đông và hai mùa xuân (tức một năm), nhất định có thể tiêu diệt được chúng." Điều đó cũng có nghĩa là cuộc chiến này phải được giới h��n trong khoảng thời gian "một đông, hai xuân" (tức một năm)!
Vậy thì đúng là kế sách "Đảo tổ".
Gặp Hoàng Trung trầm mặc không nói, Lưu Bị liền hỏi: "Nghĩa phụ nghĩ sao về chuyện này?"
Không đợi Hoàng Trung mở miệng, Ô Liên đã lắc đầu: "Kế sách này quá hung hiểm."
Lưu Bị vội vàng hỏi: "Vì sao?"
Bản dịch này được phát hành độc quyền bởi truyen.free, mong bạn đọc thưởng thức từng câu chữ.