(Đã dịch) Quật Khởi Chi Đệ Tam Đế Quốc - Chương 1008: Từ Rzhev bắt đầu
Vào tháng 4 năm 1944, trong văn phòng của Tư lệnh trưởng Quân đội Quốc phòng Đức, Nguyên soái Đế chế Hirschmann, đối diện bàn làm việc treo một tấm bản đồ chiến trường khổng lồ thể hiện tình hình xung quanh Moscow. Từ tấm bản đồ này, có thể thấy rõ một đường chiến tuyến hình vòng cung dài xuất hiện ở phía tây và phía bắc Moscow.
Chiến tuyến phía bắc đại khái trải dài dọc theo thượng nguồn sông Volga, bắt đầu từ Uglich, dọc theo hướng tây sông (thực chất là đông bắc - tây nam), qua Kalyazin, Dubna, Konakovo, thành phố Kalinin, Staritsa. Đến Rzhev, chiến tuyến thay đổi hướng từ đông bắc - tây nam thành nam - bắc.
Từ Rzhev xuôi về phía nam là Sychyovka và Vyazma – bởi vì đây là cửa ngõ phía tây của Moscow, nên trong lịch sử, quân đội Xô-Đức đã tiến hành những cuộc tranh giành kịch liệt dọc theo tuyến Rzhev - Vyazma, tổng cộng đã xảy ra bốn chiến dịch lớn cùng một chuỗi các chiến dịch nhỏ liên tiếp!
Trong dòng thời gian này, Rzhev là nơi tiếp giáp của Cụm Tập đoàn quân Bắc và Cụm Tập đoàn quân Trung tâm của quân Đức.
Từ Rzhev về phía nam cho đến chiến tuyến Vyazma, thuộc trách nhiệm của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm dưới sự chỉ huy của Nguyên soái Manstein, trong đó Tập đoàn quân Thiết giáp số 4 của Đại tướng Hoth là lực lượng tấn công chủ lực. Còn từ Rzhev về phía đông bắc cho đến tiền tuyến Uglich, do Cụm Tập đoàn quân Bắc của Nguyên soái Model chỉ huy, với Tập đoàn quân Thiết giáp số 6 do Đại tướng Paulus chỉ huy là lực lượng tấn công chính.
Tổng binh lực chiến trường của Cụm Tập đoàn quân Bắc và Cụm Tập đoàn quân Trung tâm của quân Đức (thực chất bao gồm nhiều đơn vị quân đội châu Âu và liên quân Bạch vệ Nga) đã vượt quá 2,7 triệu người, chiếm hơn 50% binh lực chiến trường của quân Đức (liên quân châu Âu) tại mặt trận phía Đông.
Xét đến việc ba vòng vây ở Warsaw, Minsk và bán đảo Crimea vẫn đang kìm chân một lượng lớn binh lực chiến trường của quân Đức (liên quân), chiến dịch Moscow sắp bắt đầu có thể coi là đòn tấn công tổng lực của quân Đức (liên quân).
Tương tự, Hồng quân Liên Xô cũng đã tập trung một lượng lớn sinh lực tại tuyến chiến đấu hình vòng cung lớn ở ngoại ô Moscow, chuẩn bị cho trận quyết chiến cuối cùng.
Đối với Hồng quân Liên Xô mà nói, nước Nga dù rộng lớn, nhưng họ đã không còn đường lui, bởi vì phía sau họ chính là Moscow!
Sáng sớm ngày 5 tháng 4, Hirschmann vừa từ trang viên Zossen đến văn phòng Bộ Tổng Tham mưu, đang lật xem báo cáo tình hình chiến sự quần đảo Hawaii do Đại sứ quán Nhật Bản gửi tới.
Báo cáo của Nhật Bản đương nhiên là tình hình vô cùng tốt đẹp. Trong tuần lễ tác chiến trước đó (Nhật Bản mỗi tuần đều thông báo tình hình chiến sự cho Đức, và ngược lại Đức cũng thông báo cho Nhật Bản), Nhật Bản lại đánh chìm 5 tàu sân bay của Mỹ, bao gồm tàu USS Enterprise và 2 chiếc lớp Essex.
Ngoài ra, còn có 2 thiết giáp hạm lớp Iowa cùng vài chiếc tuần dương hạm hạng nặng bị hư hại nghiêm trọng, và hàng chục chiến hạm cỡ nhỏ cùng tàu vận tải bị đánh chìm.
Số lượng máy bay chiến đấu trên tàu sân bay và máy bay chiến đấu từ đất liền của Mỹ bị bắn hạ còn lên tới hơn 500 chiếc, trong đó có hàng chục chiếc tiêm kích P-51 và P-47 có sức chiến đấu mạnh mẽ.
Trong khi đó, thiệt hại của riêng Nhật Bản chỉ là dưới 500 chiếc máy bay từ đất liền không thể trở về.
Nếu như báo cáo chiến sự của Nhật đáng tin cậy, đây quả thực là một trận đại thắng nữa.
Thế nhưng, chiếc P-47 "Bình sữa" với tầm bay không quá lớn kia làm sao lại xuất hiện trên chiến trường quần đảo Hawaii? Cho dù "Bình sữa" có mang thêm bình xăng phụ, cũng rất khó để bay từ đảo Midway, rạn san hô Palmyra và đảo Johnston đến quần đảo Hawaii để tác chiến phải không?
Chẳng lẽ người Mỹ đã thiết lập được một sân bay trên đảo Niihau? Nếu quả thật là như vậy, Nhật Bản sắp gặp phải rắc rối không nhỏ rồi.
Bởi vì trong dòng thời gian này, dòng P-47 tập trung phát triển khả năng đánh chặn, phần lớn các mẫu máy bay đều được thiết kế theo tiêu chuẩn của tiêm kích đánh chặn. Chúng không chỉ có tính năng vượt trội ở độ cao lớn mà hỏa lực còn cực kỳ mạnh mẽ. Mẫu P-47D mạnh nhất trang bị 8 khẩu súng máy hàng không Browning 12,7mm, có thể dễ dàng biến chiếc Ju 288 của Đức thành một mớ lỗ thủng. Cũng chính vì mối đe dọa từ loại máy bay này mà công ty Junkers đã phải cho ra mắt mẫu Ju 288 kiên cố hơn vào đầu năm 1944.
Để đối phó với dòng F-190 hộ tống Ju 288 của Đức, P-47 còn được thiết kế đặc biệt bền bỉ, dù bị một chiếc F-190 trang bị 4 khẩu pháo 20mm và 4 khẩu súng máy 12,7mm tấn công, chúng thường vẫn có thể an toàn trở về.
Sau khi đánh chặn thành công và thoát khỏi giao tranh, người Mỹ còn phát triển hệ thống "bơm tăng lực" cho P-47D (tương tự hệ thống tăng lực M50 của Đức), giúp đạt được công suất khẩn cấp lên tới hơn 2.500 mã lực ở độ cao trung bình.
Ngoài ra, nhờ hỏa lực mạnh mẽ và khả năng chịu đòn đặc biệt, P-47 còn có thể được sử dụng làm máy bay ném bom chiến đấu hỗ trợ mặt đất! Ngoài 8 khẩu súng máy 12,7mm, chiếc máy bay này còn có thể mang tối đa 2.000 pound bom – lượng vũ khí này không hề kém cạnh so với máy bay ném bom hạng nặng "bảo bối" của Nhật Bản!
Dù loại máy bay này không thể đánh bại các tiêm kích Nhật Bản như Shiden (Tử Điện) và Nakajima Ki-84 ở độ cao trung bình và thấp, nhưng 8 khẩu súng máy hàng không 12,7mm vẫn có thể dễ dàng bắn hạ các máy bay như "Yokosuka", "Nakajima Ki-84" và các mẫu thuộc lớp "Hiryū" của Nhật Bản.
Đối với máy bay ném bom chiến lược Me 264 "Tử Thần Bạc" dùng để phóng, P-47D càng là một mối đe dọa cực lớn!
Đúng lúc Hirschmann đang thay người Nhật lo lắng, bên ngoài văn phòng vang lên tiếng của Thượng tá Pipe, sĩ quan phụ tá của ông: "Thưa Nguyên soái Đế chế, Cụm Tập ��oàn quân Bắc có báo cáo khẩn cấp."
"Vào đi." Hirschmann đặt báo cáo tình hình chiến sự xuống, gọi Pipe vào.
Một bản sao điện báo nhanh chóng được đặt trên bàn làm việc của Hirschmann. Nội dung bản sao điện báo vô cùng đơn giản, chỉ có vài dòng chữ ngắn gọn: "Sáng sớm hôm nay, các vị trí của Tập đoàn quân Bạch vệ Nga số 1 và Sư đoàn Kỵ binh Cơ giới số 3 Pháp tại tiền tuyến Rzhev đã phải hứng chịu pháo kích dữ dội từ quân Liên Xô. Đến 7 giờ 30 phút, cuộc pháo kích vẫn chưa dừng lại." – Bộ Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân Bắc, ký tên: Model.
"Tổng chỉ huy quân đội đã biết chuyện này chưa?" Hirschmann hỏi sĩ quan phụ tá Pipe của mình.
"Nguyên soái Guderian đã biết rồi ạ, ông ấy đang ở phòng tác chiến số một để nghiên cứu tình hình chiến sự."
Hirschmann, "Chiến thần" này, từ trước đến nay đều dựa vào trí tuệ của cấp dưới để chỉ huy tác chiến, vì vậy hiện tại Nguyên soái Guderian, Tổng chỉ huy thực quyền của Quân đội Quốc phòng, đang đảm nhiệm vai trò tổng chỉ huy của Quân đội Quốc phòng.
"Được rồi, ta sẽ đến ngay." Hirschmann đứng dậy, chỉnh sửa quân phục, đội mũ lên đầu, rồi sải bước đi về phía phòng tác chiến số một.
Khi Hirschmann đến phòng tác chiến số một, Guderian đang cùng một số sĩ quan tham mưu tinh nhuệ của quân Đức với quân phục thẳng tắp tiến hành diễn tập sa bàn. Thấy Hirschmann bước vào, tất cả mọi người đứng nghiêm giơ tay chào, nhưng không hô: "Heil Hitler!"
Khẩu hiệu "Heil Hitler!" trong quân Đức chỉ được sử dụng giữa các thành viên Lực lượng Vệ quốc (SS). Nếu một chỉ huy Lực lượng Vệ quốc chào một chỉ huy Quân đội Quốc phòng, họ cũng sẽ không hô khẩu hiệu này.
"Tình hình thế nào?" Hirschmann đáp lễ, rồi tiến đến bục sa bàn, nhìn những mô hình gỗ trên đó và hỏi.
Guderian lắc đầu, nói: "Không ổn lắm. Địa hình khu vực Rzhev không thuận lợi cho quân ta, xung quanh có quá nhiều rừng rậm, sông ngòi và đầm lầy. Hơn nữa, hiện tại đang là mùa lầy lội, từ hôm nay cho đến ngày 10 tháng 4, khu vực đó sẽ có tuyết rơi liên tục trong vài ngày, máy bay của chúng ta không thể cất cánh được."
Khu vực trung tâm của mặt trận Xô-Đức thực chất không phải là một địa điểm tác chiến lý tưởng. Mặc dù là đồng bằng, nhưng lại có quá nhiều rừng rậm, sông ngòi và đầm lầy, gây bất lợi cho việc di chuyển của các đơn vị cơ giới hạng nặng.
So với đó, đại thảo nguyên giữa Kharkov và Stalingrad lại là một chiến trường rất tốt.
Tuy nhiên, muốn chiếm được Moscow thì nhất định phải quyết chiến với quân Liên Xô trên mặt trận trung tâm, nơi có điều kiện địa hình không mấy thuận lợi.
"Mục tiêu của quân Liên Xô chắc chắn là các đơn vị thuộc Cụm Tập đoàn quân Bắc." Hirschmann nói, "Nhưng Nguyên soái Model đã có sự chuẩn bị. Ông ấy là một chuyên gia về phòng ngự, chắc chắn sẽ gây thiệt hại nặng nề cho Hồng quân tấn công. Điều này vô cùng có lợi cho bước tiếp theo trong việc bao vây Moscow."
Hirschmann đưa ra phán đoán này dựa trên thành phần binh lực của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm và Cụm Tập đoàn quân Bắc. Mặc dù số lượng binh lực của hai cụm tập đoàn quân này chênh lệch không đáng kể, nhưng các đơn vị thuộc Cụm Tập đoàn quân Trung tâm gần như đều là quân Đức. Sức chiến đấu của họ rất mạnh, quân Liên Xô dù có dốc toàn bộ lực lượng của Phương diện quân Trung tâm cũng không thể nào đánh bại hơn một triệu quân Đức dưới quyền Manstein.
Trong khi đó, Cụm Tập đoàn quân Bắc, do lấy Peterburg làm căn cứ để tiến xuống phía nam, nên có một l��ợng lớn các đơn vị Bạch vệ Nga, quân Pháp và quân Ba Lan, sức chiến đấu tương đối yếu kém. Quân Liên Xô phản công có cơ hội nhất định để giành thắng lợi.
"Hiện tại vẫn chưa thể đưa ra kết luận cuối cùng," Guderian cau mày nói, "Hãy quan sát thêm đã... Trước hết cứ để người Liên Xô trình diễn vài ngày, đợi đến khi ý đồ của họ hoàn toàn lộ rõ, rồi quyết định cách phản công cũng không muộn."
Đối mặt với cuộc phản công của Liên Xô, Guderian tỏ ra vô cùng thận trọng, không đưa ra quyết định ngay lập tức. Hirschmann hiểu đây là sự cẩn trọng của một người chiến thắng – hiện tại, chiến thắng của nước Đức đã nằm trong tầm tay, chỉ cần tiến quân vững chắc, bao vây quân Liên Xô đang cố thủ Moscow là được. Không cần phải tỏ ra quá cấp tiến hay mạo hiểm.
Đối với nước Đức mà nói, trên chiến trường Xô-Đức, điều cốt yếu là tránh mắc sai lầm và không để lộ sơ hở.
Mạo hiểm tấn công bất ngờ mới là điều mà người Liên Xô cần làm.
...
Lúc này, Nguyên soái Zhukov, Tổng Tham mưu trưởng Hồng quân Liên Xô kiêm Tư lệnh Phương diện quân Trung tâm, cũng đang cùng Nguyên soái Pavlov, Đại tướng Rokossovsky và Nguyên soái Shaposhnikov cùng những người khác tụ họp một chỗ để nghiên cứu báo cáo chiến sự từ tiền tuyến gửi về.
Lần này, quân Liên Xô không chọn bất kỳ đòn nghi binh lừa gạt nào, mà trực tiếp tập trung binh lực tấn công Rzhev. Bởi vì thời tiết mưa tuyết chỉ kéo dài vài ngày như vậy, không thể lãng phí dù chỉ một chút, nếu không trên bầu trời sẽ tràn ngập những chiếc F-190 và Focke Zero D của Đức.
Hai loại máy bay này khi đối phó với chiến cơ Mỹ trên Đại Tây Dương đã không còn hiệu quả cao, vì vậy Không quân Đức đã sớm bắt đầu tiến hành đấu thầu nghiên cứu "tiêm kích pít-tông tối thượng". Hiện tại, công tác nghiên cứu dòng "tối thượng" đã hoàn thành, với mẫu tiêm kích Ta 152 của công ty Focke-Wulf đã trúng thầu cho phiên bản tiêm kích pít-tông tối thượng dành cho độ cao lớn.
Còn phiên bản tiêm kích pít-tông tối thượng dành cho độ cao trung bình và thấp thì rơi vào tay công ty Focke, vốn rất có kinh nghiệm trong nghiên cứu máy bay tàu sân bay. Mẫu tiêm kích Focke 636 (Anh gọi là Hawker Sea Fury) được phát triển hợp tác giữa công ty Focke và công ty Hawker của Anh đã nhận được sự tán dương nhất trí từ Không quân Đức và lực lượng không quân hải quân, trở thành thế hệ vua mới ở độ cao trung bình và thấp, thay thế cho Focke Zero D.
Tuy nhiên, những nơi đầu tiên được trang bị Ta 152 và Focke 636 không phải là chiến trường phía Đông đang rực lửa, mà là chiến trường Đại Tây Dương tương đối yên bình.
Bởi vì F-190 và Focke Zero D vẫn là những thế lực vô địch trên chiến trường phía Đông! Ở độ cao dưới 5.000 mét, không một loại tiêm kích Liên Xô nào có thể đối kháng với Focke Zero D. Còn ở độ cao trên 5.000 mét, các mẫu F-190a/B/c/d cũng đủ sức đối phó với tất cả các chiến đấu cơ của Liên Xô.
Công ty Focke-Wulf còn cho ra mắt dòng máy bay ném bom chiến đấu F và G của F-190 vào năm 1942, vốn rất được quân đội Đức ở tiền tuyến ưa chuộng. Hiện nay, chúng đã thay thế Ju 87, trở thành loại máy bay tấn công mặt đất chủ yếu của quân Đức.
Đến đầu năm 1944, hệ thống hỏa tiễn "Sát thủ xe tăng" (hay ống rocket của người Đức) cũng được trang bị lên F-190F, giúp nó có khả năng chống tăng mạnh mẽ hơn. Nếu để hai loại máy bay ném bom chiến đấu F-190F và F-190G cất cánh, các đơn vị xe tăng của quân Liên Xô sẽ bị ảnh hưởng lớn nếu hoạt động vào ban ngày.
Vì vậy, khi vạch ra kế hoạch "Vệ binh Đỏ", Zhukov và những người khác đặc biệt chú trọng mối đe dọa từ trên không. Họ thà không lựa chọn bất kỳ hành động nghi binh nào, mà cố gắng hết sức rút ngắn thời gian tấn công, để các đơn vị tấn công có thể tận dụng thời tiết mưa tuyết mà tránh được nguy hiểm từ trên không.
Với tinh hoa ngôn ngữ được chắt lọc, bản dịch này là sự đóng góp độc quyền từ truyen.free, gửi đến những tâm hồn yêu truyện.