(Đã dịch) Quật Khởi Chi Đệ Tam Đế Quốc - Chương 601: Hùng mạnh Liên Xô
Ngày 22 tháng 4 năm 1942, hôm nay là lễ kỷ niệm 72 năm ngày sinh của đồng chí Lenin, cố lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Liên Xô, một người theo Chủ nghĩa Mác nổi tiếng, nhà cách mạng, chính trị gia, nhà lý luận và nhà tư tưởng của giai cấp vô sản.
Cũng như những năm trước, Đảng và Chính phủ Liên Xô sẽ t�� chức các hoạt động tưởng niệm và hồi tưởng về cố lãnh tụ vĩ đại của họ. Còn nhân dân lao động ở mọi ngành nghề của Liên Xô sẽ nhân dịp này, cống hiến những thành quả lao động mới nhất và thành công nhất của mình, như một lễ vật dâng lên cố lãnh tụ vĩ đại.
Tuy nhiên, điểm khác biệt trong năm nay là các hoạt động kỷ niệm ngày sinh của đồng chí Lenin không chỉ có quy mô hoành tráng chưa từng thấy, mà còn phảng phất thêm vài phần mùi thuốc súng.
Đầu tiên, Đảng Bolshevik Liên Xô đã trao cho đồng chí Lenin một danh xưng cao quý mà trước đây chưa từng có: người tiên phong vĩ đại của cách mạng thế giới.
Tất cả những ai hiểu rõ đời sống chính trị Liên Xô đều biết, đây tuyệt nhiên không phải một danh xưng có thể tùy tiện sử dụng!
Cách mạng thế giới ư, đó chính là việc giai cấp vô sản toàn thế giới sẽ liên hiệp lại, dùng bạo lực lật đổ giai cấp tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản trên phạm vi toàn cầu!
Trong suốt mười mấy năm qua, Liên Xô vẫn đang vùi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trong một nước. Còn cái gọi là cách mạng thế giới... đó là thứ mà những phần tử Trotsky mới suốt ngày treo trên môi để đầu độc lòng người – ít nhất tại Liên Xô, dư luận chính thức của nước này rất ít đề cập đến nội dung liên quan đến cách mạng thế giới.
Nhưng lần này, nhân dịp lễ kỷ niệm ngày sinh của Lenin, khái niệm cách mạng thế giới gần như chỉ sau một đêm đã xuất hiện trên mọi tờ báo lớn nhỏ của Liên Xô.
Hơn nữa, năm 1942 này cũng là năm kết thúc của kế hoạch 5 năm lần thứ ba của Liên Xô. Khác với việc hai kế hoạch 5 năm trước tập trung vào cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng, trọng tâm của kế hoạch 5 năm lần thứ ba là công nghiệp quốc phòng quân sự, nhằm chuẩn bị cho cuộc cách mạng thế giới trong tương lai.
Căn cứ theo kế hoạch, trong vòng 5 năm từ 1938 đến 1942, Liên Xô sẽ đẩy mạnh phát triển ba ngành công nghiệp lớn: hàng không, đóng tàu và cơ khí.
Trong đó, công nghiệp hàng không phục vụ chủ yếu cho Không quân Hồng quân. Dọc theo bờ sông Volga và vùng núi Ural, quy mô lớn xây dựng các căn cứ công nghiệp hàng không. Ngay trong năm 1938, tổng sản lượng máy bay đã đạt gấp đôi so với năm 1937, đạt 7.500 chiếc, đứng đầu thế giới. Đến năm 1939, năm Chiến tranh thế giới bùng nổ, sản lượng máy bay của Liên Xô thậm chí lên tới gần 10.000 chiếc. Sau đó tiếp tục tăng trưởng ổn định hàng năm, luôn giữ vững vị trí dẫn đầu thứ nhất hoặc thứ hai thế giới. Hơn nữa, về mặt kỹ thuật cũng đạt được những bước tiến dài đáng kể, chế tạo thành công một loạt máy bay tiêm kích và máy bay ném bom đạt trình độ tiên tiến thế giới như MiG-3, LaGG-3, MiG-5, Yak-7 và Il-2, từ đó tăng cường đáng kể sức mạnh của Không quân Hồng quân.
Công nghiệp cơ khí tập trung phục vụ các đơn vị cơ giới hóa của Lục quân Hồng quân Liên Xô. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ ba, công nghiệp cơ khí Liên Xô không chỉ sản xuất ra số lượng lớn các loại xe tăng với tính năng vượt trội như BT-7, T-34, KV-1, KV-2, mà còn xây dựng các căn cứ sản xuất xe tăng quy mô lớn, khiến cho sản lượng xe tăng của Liên Xô vượt xa tổng sản lượng của các nước châu Âu dưới sự lãnh đạo của Đức, và ngang ngửa với sản lượng xe tăng của Mỹ, quốc gia đang trong thời kỳ chiến tranh toàn diện.
Còn ngành đóng tàu, vốn từ trước đến nay là một điểm yếu của công nghiệp Liên Xô, trong kế hoạch 5 năm lần thứ ba cũng đã đạt được những thành tựu khiến cả thế giới phải chú ý. Và vào ngày đặc biệt 22 tháng 4 năm 1942 này, công nghiệp đóng tàu Liên Xô đã trình làng thành quả quan trọng nhất mà họ đã gian khổ phấn đấu suốt nhiều năm ròng – Thiết giáp hạm Liên Xô (số 1)!
Bên cạnh bến tàu của Xưởng đóng tàu Baltic Ordzhonikidze tại thành phố Leningrad, được đặt tên theo Lenin, một quái vật thép khổng lồ, với tổng chiều dài 269,4 mét, chiều rộng lớn nhất 38,9 mét, mớn nước đầy tải 10,4 mét và ba tháp pháo ba nòng cỡ 406mm, đang phô diễn vẻ uy dũng của mình trước các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đến thị sát. Đó chính là Thiết giáp hạm Liên Xô (số 1), với lượng giãn nước tiêu chuẩn gần 59.150 tấn, lượng giãn nước đầy tải 65.150 tấn, được mệnh danh là thiết giáp hạm hùng mạnh thứ hai thế giới!
Trên boong tàu, ở phía mũi của Thiết giáp hạm Liên Xô (số 1), Kuznetsov, Ủy viên Nhân dân Hải quân Hồng quân kiêm Tổng Tư lệnh, với giọng đầy tự hào, nói với Stalin: "Thưa Đồng chí Tổng Bí thư, theo chỉ thị của ngài, các đồng chí tại Cục Thiết kế Chiến hạm Đặc biệt Trung ương số 1, Cục Thiết kế số 4 của Xưởng đóng tàu Baltic và Xưởng đóng tàu Baltic Ordzhonikidze, sau bốn năm gian khổ phấn đấu, cuối cùng đã hoàn thành công tác thiết kế và xây dựng Thiết giáp hạm Liên Xô (số 1) sớm hơn một năm so với dự kiến."
"Thiết giáp hạm Liên Xô (số 1) của chúng ta hiện là thiết giáp hạm lớn thứ hai thế giới về lượng giãn nước, chỉ sau chiếc thiết giáp hạm 8 vạn tấn của Nhật Bản. Còn ở châu Âu, nó là thiết giáp hạm lớn nhất, ngay cả lớp Hindenburg của Đức cũng không thể sánh bằng chúng ta."
Việc không thể sánh bằng chỉ là về lượng giãn nước (trọng tải), còn về khả năng phòng vệ, lớp Liên Xô cũng không bằng lớp Hindenburg. Độ dày đai giáp chính ở mạn tàu của cả hai lớp tương đương nhau, giáp boong của lớp Hindenburg không bằng lớp Liên Xô. Tuy nhiên, chất lượng thép bọc giáp của Đức vư��t xa Liên Xô, hơn nữa lớp Hindenburg còn có hệ thống giáp bảo vệ dạng khung phức tạp hơn, khả năng phòng vệ dưới nước cũng tốt hơn Liên Xô.
Về phần hỏa lực pháo chính, lớp Liên Xô lại mạnh hơn. Bởi vì pháo chính của cả lớp Liên Xô và lớp Hindenburg đều là loại pháo 406mm SKC/34 với tầm bắn hiệu quả chưa đạt 52 lần đường kính nòng – những khẩu đại pháo này đều do Đức xuất khẩu cho Liên Xô vào thời kỳ quan hệ Xô-Đức tốt đẹp (Đức đã phải trả giá rất lớn để đổi lấy nhiều tài nguyên như vậy từ Liên Xô, và việc đóng được chiếc Thiết giáp hạm Liên Xô (số 1) này giờ đây chính là cái giá cao mà Đức phải trả). Liên Xô có 9 khẩu đại pháo 406mm, nhiều hơn lớp Hindenburg 1 khẩu, nên hỏa lực đương nhiên mạnh hơn. Tuy nhiên, lớp Liên Xô không có radar điều khiển hỏa lực, thiết bị ngắm quang học cũng không tốt bằng của Đức. Nếu thực sự đối đầu trên chiến trường, e rằng khó mà chiếm được ưu thế trước lớp Hindenburg.
Tuy nhiên, hệ thống động lực của lớp Liên Xô lại mạnh hơn lớp Hindenburg. Hệ thống động lực của lớp Hindenburg, giống như lớp Bismarck, đều gồm 12 nồi hơi và 3 turbine hơi nước. Trong khi đó, lớp Liên Xô lại có tới 16 nồi hơi và 4 turbine hơi nước, cũng là nồi hơi và turbine hơi nước nhập khẩu từ Đức, với nhãn hiệu và kiểu dáng tương tự như loại Bismarck sử dụng. Do đó, công suất mã lực của nó lớn hơn lớp Bismarck một phần ba, vượt quá 200.000 mã lực. Tuy nhiên, do hình dáng thân tàu, tốc độ tối đa của lớp Liên Xô chỉ có thể đạt 28,5 hải lý/giờ, không nhanh hơn lớp Hindenburg bao nhiêu.
Nhưng dù sao đi nữa, việc lớp thiết giáp hạm đầu tiên do Liên Xô tự đóng (dù trong quá trình xây dựng có nhận được sự hỗ trợ từ Đức và Ý) có thể đạt đến trình độ như vậy, vẫn là một bước tiến vượt bậc.
Mặc bộ quân phục xanh lá cây thẳng thớm, toàn thân toát lên vẻ tinh thần phấn chấn, Stalin hài lòng gật đầu: "Rất tốt. Việc hoàn thành chiếc Thiết giáp hạm Liên Xô (số 1) sớm hơn một năm so với kế hoạch ban đầu là một thành tích vĩ đại (việc hoàn thành sớm hơn so với kế hoạch ban đầu cũng là một phần của kế hoạch, vì theo kế hoạch ban đầu, chiến hạm được khởi công năm 1938 sẽ phải đến năm 1943 mới hoàn thành). Tuy nhiên, điều này vẫn chưa đủ. Công nhân đóng tàu Liên Xô cần tiếp tục nỗ lực, sớm hoàn thành nốt 3 chiếc lớp Liên Xô và 2 chiếc tuần dương hạm-thiết giáp lớp Kronstadt còn lại. Chỉ cần có 4 thiết giáp hạm lớp Liên Xô và 2 tuần dương hạm-thiết giáp lớp Kronstadt, quốc gia Xô Viết sẽ không còn phải sợ hãi, dù là trên biển hay trên đất liền."
Thiết giáp hạm lớp Liên Xô và tuần dương hạm-thiết giáp lớp Kronstadt là những công trình quan trọng nhất của ngành công nghiệp đóng tàu Liên Xô trong kế hoạch 5 năm lần thứ ba. Chiếc tuần dương hạm-thiết giáp Kronstadt (số 1) cũng đã được khởi công tại Xưởng đóng tàu Baltic Ordzhonikidze ở Leningrad. Chiếc tuần dương hạm-thiết giáp cỡ lớn này, với lượng giãn nước tiêu chuẩn 32.700 tấn và lượng giãn nước đầy tải 40.835 tấn, sử dụng hệ thống động lực giống lớp Liên Xô, nên tốc độ tối đa có thể đạt 32-34 hải lý/giờ.
Bố trí hệ thống pháo chính lại giống lớp Barbarossa của Đức, sử dụng 3 tháp pháo đôi 380mm. 6 khẩu pháo 380mm SKC/34 với tầm bắn hiệu quả 52 lần đường kính nòng cũng được nhập khẩu từ Đức, giống pháo chính của lớp Bismarck.
"Báo cáo Đồng chí Tổng Bí thư, chiếc Liên Xô (số 2) hiện đang được trang bị tại Xưởng 190 (Xưởng tàu A. Marti) và có thể hoàn thành vào tháng tới. Chiếc tuần dương hạm-thiết giáp Kronstadt (số 1) đang được trang bị tại Xưởng 189 (Xưởng đóng tàu Baltic Ordzhonikidze)."
Kuznetsov giơ một tay lên, chỉ về phía một bến tàu khác cách đó khoảng 3.000 mét. Ở đó, một chiến hạm cỡ lớn về cơ bản đã hoàn thành, uy nghi sừng sững, tựa như một con quái vật khổng lồ đang chờ xuất trận.
"Vậy còn 2 chiếc lớp Liên Xô và tuần dương hạm-thiết giáp Kronstadt (số 2) thì sao?"
"Chúng đang được đóng tại Xưởng 402 Molotovsk (Xưởng đóng tàu phương Bắc)," Kuznetsov đáp, "Do Xưởng 402 là xưởng mới, kinh nghiệm còn thiếu nên tiến độ công trình chậm hơn, có lẽ phải đến đầu năm 1943 mới có thể hoàn thành."
Vì bờ hữu ngạn Ukraine từng thuộc về Ba Lan, nên trong không gian thời gian này, Liên Xô không có ba trung tâm đóng tàu lớn, thiếu đi một trung tâm đóng tàu Nikolayev. Tuy nhiên, việc xây dựng Xưởng đóng tàu phương Bắc lại được hoàn thành sớm hơn. Vào cuối kế hoạch 5 năm lần thứ hai, Xưởng 402 đã được hoàn thành, và vì vậy, 2 chiếc lớp Liên Xô cùng 1 chiếc lớp Kronstadt đang được khởi công xây dựng tại Molotovsk (Severodvinsk).
Tuy nhiên, việc Xưởng 402 ở phía bắc đóng 3 chiến hạm mặt nước cỡ lớn này lại có lợi cho Hải quân Hồng quân Liên Xô. Bởi vì hiện tại Địa Trung Hải hoàn toàn bị Hải quân Liên minh châu Âu kiểm soát, một khi chiến tranh nổ ra, Hạm đội Biển Đen của Liên Xô cơ bản không thể thoát khỏi Biển Đen, ngay cả sự tồn tại của hạm đội cũng không có ý nghĩa gì. Ngược lại, Hạm đội phương Bắc của Liên Xô lại có nhiều triển vọng, có thể xuất kích ra Bắc Đại Tây Dương để giao chiến với Hải quân Đức.
Và theo "Kế hoạch Sấm sét Lớn" do Bộ Dân ủy Quốc phòng Liên Xô và Bộ Tổng Tham mưu Hồng quân xây dựng, trước khi Hồng quân Liên Xô phát động tấn công, các chiến hạm chủ lực của Hạm đội Baltic sẽ theo nhóm tiến về Molotovsk để hội quân với Hạm đội phương Bắc.
Sau khi chiến tranh bùng nổ, họ sẽ nhân cơ hội đó xuất kích từ Molotovsk, cùng Hải quân Anh và Mỹ giao chiến với Hạm đội Liên minh châu Âu để giành quyền kiểm soát Bắc Đại Tây Dương.
Nhưng khi vừa nghĩ đến sức mạnh hiện tại của Hạm đội Liên minh châu Âu do Đức dẫn đầu, Stalin không khỏi hơi nhíu mày. Ông không quá lo lắng về các vấn đề trên đất li���n. Hồng quân có các đơn vị thiết giáp và không quân hùng mạnh. Trong trường hợp Đức tấn công nước Anh, ông rất tự tin có thể đối phó. Cho dù không thể tiến thẳng vào Berlin, ít nhất cũng có thể gây thiệt hại nặng nề cho quân Đức, giành lại khu vực Baltic, miền Tây Ukraine và Ba Lan.
Mà trên biển, vốn là nơi ông tự tin nhất. Sức mạnh hải quân của ba quốc gia Anh, Mỹ, Xô cộng lại hoàn toàn có thể áp đảo Đức, Ý và Pháp. Nhưng bây giờ... trên biển lại trở thành nơi ít chắc chắn nhất. Đây cũng là lý do chính khiến đồng chí Stalin chọn ngày sinh nhật của Lenin để ăn mừng và thị sát xưởng đóng tàu ở Leningrad.
Mọi nỗ lực chuyển ngữ này đều vì độc giả của truyen.free.