Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Quật Khởi Chi Đệ Tam Đế Quốc - Chương 983: Nhật Bản máy bay phản lực nước Mỹ nặng lôi hạm

Mẫu tên lửa “Màu Bạc Tử Thần” do liên doanh giữa công ty Henschel của Đức và công ty Rolls-Royce của Anh sản xuất, thực chất là một loại máy bay phản lực cỡ nhỏ, nhưng cũng không quá nhỏ. Trọng lượng không tải lên tới gần 1,8 tấn, còn tổng trọng lượng đạt gần 2,8 tấn. Hơn nữa, nó còn được trang bị hai khẩu pháo tự động 20mm (ban đầu người Nhật không mua phiên bản có pháo, nhưng sau khi “Màu Bạc Tử Thần” được đưa về Nhật Bản, họ đã tự lắp đặt pháo 20mm của mình), hỏa lực cũng không hề yếu.

Ngoài ra, “Màu Bạc Tử Thần” còn có một phiên bản huấn luyện, với cánh và cánh đuôi lớn hơn, cùng bộ càng đáp có thể thu gọn.

Giờ đây, chỉ cần dựa theo mẫu mã của phiên bản huấn luyện để cải tiến số lượng “Màu Bạc Tử Thần” còn lại, họ có thể biến toàn bộ 180 quả tên lửa “Màu Bạc Tử Thần” thành máy bay tiêm kích tầm cao. Chúng có thể được máy bay Me264 mang lên độ cao hơn 12.000 mét, rồi sau đó phóng ra khi tiếp cận đội hình máy bay ném bom Mỹ. Tận dụng tốc độ cao và hỏa lực của mình, chúng sẽ phát động tấn công các máy bay ném bom tầm cao của Mỹ.

Và sau khi hoàn thành nhiệm vụ tấn công, những chiếc “Màu Bạc Tử Thần” này còn có thể sử dụng bộ càng đáp để hạ cánh tại các sân bay gần đó.

Ý tưởng biến một phần “Màu Bạc Tử Thần” thành máy bay tiêm kích tầm cao ban đầu được chính Minoru Genda, người từng lái thử loại tên lửa (phiên bản huấn luyện) này, đề xuất. Và ý tưởng này nhanh chóng nhận được sự ủng hộ từ Đại tướng Lục quân Hàng không Takeo Yasuda. Trước khoản chi khổng lồ 120 triệu Mark châu Âu, sự tranh chấp giữa lục quân và hải quân đã không còn là vấn đề. Đầu tư 120 triệu Mark châu Âu mà dùng hết chỉ một lần thì quả thực “quá không giống Nhật Bản”.

Ít nhất, nên tận dụng triệt để những chiếc “Màu Bạc Tử Thần” này trước khi động cơ của chúng hết niên hạn sử dụng, sau đó mới dùng chúng để đâm vào mục tiêu…

Thiếu tướng Takeo Yasuda phát biểu: “Hiện tại chúng ta còn 53 chiếc Me264. Nói cách khác, mỗi lần có thể phóng 53 chiếc máy bay phản lực 'Màu Bạc Tử Thần'. Máy bay tiêm kích Ki-61 Hien cũng có thể chuẩn bị sẵn sàng 70-80 chiếc trong thời gian ngắn. Như vậy, chúng ta có thể điều động hơn 120 chiếc máy bay tiêm kích tầm cao cùng lúc. Nếu số lượng máy bay ném bom tầm xa của Mỹ ít hơn 120 chiếc, thì việc tiêu diệt toàn bộ trong một đợt tấn công là hoàn toàn khả thi”.

Nghe vậy, Tổng trưởng Lục quân Sugiyama Hajime cư��i lớn mấy tiếng: “Nếu thực sự có thể đạt được một trận tiêu diệt hoàn toàn, máy bay ném bom của Mỹ sẽ không còn dám đến nữa”.

Thủ tướng Hideki Tojo nhìn các Đại thần Hải quân Yamamoto Isoroku và Osami Nagano, những người có vẻ khá mệt mỏi, rồi hỏi: “Về phía Hải quân… không có vấn đề gì chứ? Bây giờ Hải quân chưa vội phát động tấn công đặc biệt bằng tên lửa chứ?”

Osami Nagano và Yamamoto Isoroku nhìn nhau, Nagano đáp: “Trong vòng ba tháng tới, chưa cần thiết phát động tấn công đặc biệt bằng tên lửa”.

“Tấn công đặc biệt bằng tên lửa” là giai đoạn cuối cùng của “Chiến dịch Số Một”. Theo kế hoạch, 180-200 quả tên lửa “Màu Bạc Tử Thần” sẽ giáng đòn hủy diệt lên lực lượng tàu sân bay của Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ!

Và sau “Tấn công đặc biệt bằng tên lửa”, hạm đội liên hợp sẽ phát động cuộc phản công lớn, giáng đòn hủy diệt lên những gì còn sót lại của Hạm đội Thái Bình Dương và hạm đội đổ bộ Mỹ. Trong khi đó, các lực lượng Mỹ đã đổ bộ lên các đảo thuộc quần đảo Hawaii, một khi mất đi sự yểm trợ và tiếp viện từ hạm đội, sẽ chỉ còn cách toàn quân bị tiêu diệt.

Tuy nhiên, bây giờ vẫn chưa phải là lúc phát động “Tấn công đặc biệt bằng tên lửa”, bởi vì người Mỹ hiện tại mới chỉ đánh đến Rạn san hô Palmyra, thậm chí đảo Christmas còn chưa bị đụng đến, chứ đừng nói là đổ bộ lên quần đảo Hawaii.

Thủ tướng Hideki Tojo liền chuyển chủ đề sang cuộc chiến đang diễn ra tại Rạn san hô Palmyra: “Tình hình chiến sự ở Rạn san hô Palmyra thế nào rồi?”

Rạn san hô Palmyra có diện tích gần gấp đôi đảo Midway, cũng là một rạn san hô khó giữ. Tuy nhiên, quân Nhật vẫn tiến hành kháng cự tại đó, lý do rất đơn giản: đó là một rạn san hô.

Cái gọi là “rạn san hô” (atoll), đúng như tên gọi, là một vòng đảo hình tròn, xung quanh là các đảo san hô nổi trên mặt nước, giữa là một phá nước.

Địa hình đặc biệt này có thể được sử dụng làm bãi neo tự nhiên. “Bãi neo Chuuk” của Hạm đội Liên hợp Nhật Bản chính là một rạn san hô cỡ lớn.

Đương nhiên, Rạn san hô Palmyra không thể so sánh với Rạn san hô Chuuk; rạn san hô sau lớn hơn nhiều, có thể chứa toàn bộ Hạm đội Liên hợp. Trong khi đó, Rạn san hô Palmyra có diện tích hạn chế, nhiều nhất chỉ có thể chứa được mười mấy chiếc tàu bè. Đối với bốn hạm đội đặc nhiệm hỗn hợp khổng lồ của Mỹ mà nói, nó thực sự quá nhỏ.

Nhưng người Mỹ lại có thể đưa ụ nổi vào Rạn san hô Palmyra!

Ụ nổi là một loại ụ tàu có thể nổi và di chuyển trên biển, có khả năng tiếp nhận các chiến hạm, tàu sân bay có lượng giãn nước vài vạn tấn để đại tu ngay giữa biển, hệt như trong cảng. Để hoàn thành nhiệm vụ sửa chữa tàu, ụ nổi không chỉ đơn thuần là một chiếc ụ; nó còn phải được trang bị nhà máy điện cùng các xưởng cơ khí, điện, mộc, v.v. Nói rằng nó là một xưởng sửa chữa tàu di động trên biển thì hoàn toàn không hề quá lời.

Vật này, đối với một hạm đội tác chiến ở biển xa mà nói, quả thực là một báu vật. Nó cho phép lực lượng của mình có khả năng nhanh chóng sửa chữa các chiến hạm chủ lực ngay gần chiến trường. Hiện tại, Hạm đội Liên hợp châu Âu đang sở hữu bốn ụ nổi cỡ lớn, mỗi chiếc đều có thể tiếp nhận một thiết giáp hạm lớp “Hindenburg”.

Nhật Bản không có loại “xa xỉ phẩm” này. Sức mạnh của Hải quân Nhật Bản chủ yếu tập trung vào các hạm đội tác chiến và không quân hải quân; các loại tàu phụ trợ, tàu vận tải, tàu công binh không thể so sánh với Mỹ, thậm chí còn kém xa so với châu Âu. Đừng nói đến ụ nổi, ngay cả tàu sửa chữa giá thành phải chăng hơn cũng chỉ có duy nhất Akashi.

Tuy nhiên, mặc dù Hải quân Nhật Bản không có ụ nổi, nhưng các tướng lĩnh của họ đều biết về sự tồn tại của loại khí tài này.

Hơn nữa, trên Rạn san hô Palmyra còn có một sân bay nhỏ có thể tiếp nhận và phóng hơn chục hoặc hai chục chiếc máy bay một động cơ. Mặc dù không nhiều, nhưng đủ để bố trí một trung đội P-51B để cung cấp sự yểm trợ trên không nhất định cho ụ nổi bên trong rạn san hô.

Do đó, Rạn san hô Palmyra, nơi thích hợp để triển khai ụ nổi, phải được phòng thủ bằng mọi giá, dù chỉ là để câu giờ một chút cũng tốt.

Ngoài ra, việc quân Nhật phòng thủ Rạn san hô Palmyra c��n có thể thu hút hạm đội đổ bộ của Hải quân Mỹ, tạo cơ hội cho tàu ngầm và tàu phóng lôi hạng nặng tấn công.

Đô đốc Yamamoto Isoroku tiếp lời: “Thưa Thủ tướng, Hạm đội Mặt trận Trung Thái Bình Dương báo cáo rằng các đội tàu tấn công của Mỹ đã dàn trận trên mặt biển gần Rạn san hô Palmyra, tạo thành đội hình hình vuông rộng 88 dặm vuông. Pháo hạm đã bắt đầu bắn từ sáng nay”.

88 dặm vuông tàu đổ bộ? Tojo thầm nghĩ: Tàu đổ bộ của Nhật Bản tính theo “chiếc”, hóa ra tàu đổ bộ của Mỹ lại tính theo bao nhiêu dặm vuông…

Tojo hỏi: “Vậy Hạm đội 8 sẽ không ngồi yên chứ?”

Yamamoto tự tin đáp lời: “Lực lượng tấn công bằng ngư lôi hạng nặng của Hạm đội 8 đã lên đường, và sẽ sớm phát động tấn công ngư lôi hạng nặng vào hạm đội đổ bộ của Mỹ! Đồng thời, các tàu ngầm cũng sẽ phát động tấn công bất ngờ… Theo giờ Hawaii tối nay, hàng chục chiến hạm Mỹ sẽ bị đánh chìm quanh Rạn san hô Palmyra!”

Trung tướng Kinkaid, Tư lệnh Hạm đội Đặc nhiệm Hỗn hợp 31 của Mỹ, buông ống nhòm xuống khi nhìn thấy xe tăng lội nước dẫn đầu lính thủy đánh bộ tràn lên bãi cát Rạn san hô Palmyra. Ông quay sang hỏi Chuẩn tướng Arleigh Burke, người đang đứng thẳng tắp trong quân phục cạnh mình: “Arleigh, quân ta đã đổ bộ rồi, anh biết điều này có ý nghĩa gì không?”

Chuẩn tướng Arleigh Burke đã được thăng cấp sau chuyến “Tuần tra Thái Bình Dương” lần trước của Hạm đội 58, trở thành Chuẩn tướng Hải quân. Chức vụ thường ngày của ông cũng thay đổi, từ Tham mưu trưởng Hải đoàn tàu sân bay thành Tư lệnh Hải đoàn tuần tra.

Nhân tiện nhắc đến, Arleigh Burke chính là chỉ huy tàu khu trục xuất sắc nhất của Hải quân Mỹ. Ông đã tạo dựng danh tiếng trên các chiến trường Đại Tây Dương và Caribe, đến nỗi Hải quân Đức cũng biết có một nhân vật tài tình trong việc sử dụng lực lượng tàu khu trục như vậy. Khi chỉ huy trung đội tàu khu trục tác chiến ở Biển Caribe, ông đã tích lũy 11 lần chiến thắng, đánh chìm 12 tàu phóng lôi châu Âu (8 chiếc lớp “Tier” của Đức, 4 chiếc lớp “Folgore” của Ý) và 4 tàu khu trục, trong đó có một chiếc tàu khu trục đáng sợ l��p “Le Fantasque” của Pháp!

Ngoài những thành tích đáng nể, ông còn phát minh một chiến thuật đặc biệt để đối phó với ngư lôi oxy loại 93: đó là chủ động phóng ngư lôi Mk11 hoặc Mk15 trước khi chiến hạm địch kịp bắn ngư lôi loại 93. Mục đích không phải để phá hủy đối phương bằng ngư lôi, mà là khiến chiến hạm địch phải cơ động né tránh, làm chậm trễ việc phóng ngư lôi của họ, từ đó giành thời gian cho pháo kích của phe mình. Bởi vì trong quá trình đối đầu với các tàu phóng lôi của Hạm đội Liên hợp châu Âu, ông đã phát hiện ngư lôi của đối phương rất dễ tự phát nổ. Do đó, trong tình huống ngư lôi không thể sánh bằng đối thủ, ông kiên quyết dùng pháo kích chính xác để vô hiệu hóa ngư lôi của địch.

Nhờ chiêu này, không ít tàu phóng lôi châu Âu đã bị tiêu diệt dưới tay ông, và sau đó ông còn nhận được biệt danh “Sát thủ tàu phóng lôi”. Tuy nhiên, ở Thái Bình Dương, ông không phải đối phó với các tàu phóng lôi châu Âu có hỏa lực yếu ớt, mà là các tàu khu trục và tuần dương hạm mạnh mẽ của Nhật Bản, vốn trang bị ngư lôi hạng nặng. Sau “Trận Hải chiến đêm Midway lần thứ nhất”, người Mỹ đã nhận ra rằng người Nhật sẽ áp dụng chiến thuật tấn công ngư lôi ban đêm, một thủ đoạn từng gây khiếp sợ trên chiến trường Caribe, để đối phó với họ.

Arleigh Burke đáp: “Thưa cấp trên, tối nay hạm đội đổ bộ sẽ phải đối mặt với cuộc tập kích đêm của tàu khu trục Nhật Bản! Nhưng tôi s��� khiến những chiếc tàu khu trục Nhật Bản đến tập kích đêm phải biết tay”.

Kinkaid vỗ vai Arleigh Burke và nói: “Vậy thì quá tốt. Arleigh, tối nay tôi nhất định phải dẫn hạm đội chủ lực của Hạm đội Đặc nhiệm Hỗn hợp 31 rút ra biển xa để ẩn nấp, vì vậy các tàu đổ bộ gần Rạn san hô Palmyra và lực lượng lính thủy đánh bộ trên rạn san hô sẽ chỉ có thể trông cậy vào hải đội tuần tra của anh”.

Ông ngừng một lát rồi hỏi: “Arleigh, lực lượng đã đủ chưa?”

Arleigh Burke đáp: “Đủ! Bốn chiếc tuần dương hạm hạng nặng tuân thủ hiệp ước, 16 chiếc tàu khu trục phóng lôi hạng nặng lớp Gridley, đủ sức đối phó với lũ quỷ Nhật Bản”.

Thì ra Mỹ cũng có tàu khu trục phóng lôi hạng nặng! Đó chính là lớp Gridley, được thiết kế và chế tạo vào những năm 30. Tốc độ lý thuyết tối đa là 38,5 hải lý/giờ, nhưng trên thực tế có thể đạt tốc độ hơn 40 hải lý/giờ, chỉ chậm hơn chút ít so với lớp “Le Fantasque” của Pháp. Hỏa lực ngư lôi là bốn ống phóng ngư lôi 533mm bốn nòng, không thể nạp lại, không thể sánh được với l���p Shimakaze có ba ống phóng ngư lôi 610mm năm nòng và có khả năng nạp lại một lần.

Tuy nhiên, số lượng tàu lớp “Gridley” nhiều hơn rất nhiều so với lớp “Shimakaze”. Do nhu cầu chiến tranh giằng co ở Biển Caribe, loại tàu khu trục nhanh có lượng giãn nước tiêu chuẩn 1500 tấn này đã được Mỹ đóng hàng loạt, với tổng số lên đến hàng chục chiếc.

Bản chuyển ngữ này, từ A đến Z, thuộc quyền sở hữu của truyen.free.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free