(Đã dịch) Ta Đích Ý Ngốc Lợi (Ngã Đích Ý Ngốc Lợi) - Chương 441: Boer chiến tranh bùng nổ
Cuộc đàm phán mua tàu chiến giữa Ý và Nga vẫn tiếp diễn; một thương vụ lớn như vậy phải mất ít nhất hai ba tháng mới có thể hoàn tất. Mặc dù việc Nga chuẩn bị mua tàu chiến của Ý thu hút sự chú ý đặc biệt, nhưng ở nhiều quốc gia, cả trong dân chúng lẫn giới chính phủ, lại có một sự kiện khác gây chấn động lớn hơn.
Vào tháng Tư năm nay, Thủ tướng thuộc địa Cape của Anh, Alfred Sir Milner, theo gợi ý của kiều dân Anh tại Transvaal, đã viết một bức thỉnh nguyện thư gửi Nữ hoàng Victoria, cầu xin bà bảo vệ lợi ích của thần dân Anh.
Trong khi đó, ở chính quốc Anh, Bộ trưởng Thuộc địa Chamberlain đã thúc đẩy hành động quân sự chống lại người Boer. Bên cạnh đó, truyền thông Anh cũng ra sức tạo dư luận, tuyên bố người Boer là những kẻ phá hoại hòa bình và không tuân thủ trật tự đế quốc, v.v. Họ còn kiêu ngạo tuyên bố rằng Đế quốc Anh chỉ cần một "cuộc dạo chơi vui vẻ" là có thể thôn tính hai quốc gia này.
Dưới sự kích động của truyền thông, người dân Anh sôi nổi bày tỏ sự ủng hộ chính sách thực dân của Đế quốc Anh. Thậm chí, Lục quân Đế quốc Anh còn tuyên bố chỉ cần mười triệu bảng Anh là có thể giải quyết xong rắc rối với người Boer. Sở dĩ phải đầu tư một khoản lớn mười triệu bảng Anh như vậy, là vì trước đó người Boer đã thể hiện sự anh dũng và thiện chiến; nếu không, năm triệu bảng Anh đã đủ.
Nguyên nhân sâu xa khiến Đế quốc Anh thù địch với hai quốc gia Boer đến vậy vẫn là vì lợi ích.
Năm 1884, các chuyên gia tìm mỏ đã phát hiện mỏ vàng Witwatersrand lớn nhất thế giới (mỏ vàng này chiếm 40% tổng trữ lượng vàng của thế giới) trên một khu vực mục trường hoang vắng nằm giữa Pretoria và sông Vaal, thuộc Cộng hòa Transvaal. Sau đó, thành phố Johannesburg được thành lập trên chính khu mỏ này.
Lợi nhuận và nguồn thu thuế từ mỏ vàng giúp nền kinh tế của Cộng hòa Transvaal phát triển nhanh chóng, còn Cộng hòa Orange Free State cũng phát triển không kém nhờ sản xuất kim cương. Việc hai quốc gia Boer liên tục phát hiện các nguồn tài nguyên khoáng sản đã khơi dậy ánh mắt tham lam của Anh.
Tất nhiên, trước đó Đế quốc Anh cũng từng dùng đến thủ đoạn vũ lực. Năm 1895, Tiến sĩ Jameson, một nhân viên cấp cao của công ty khai thác mỏ Nam Phi, đã dẫn 500 cảnh sát của công ty cùng một số súng liên thanh nhằm viễn chinh Transvaal và lật đổ chính quyền của Paul Kruger.
Kết quả là, ngoài 134 người bị tiêu diệt, những người còn lại, kể cả Jameson, đều bị bắt làm tù binh. Cuộc nổi dậy do "Ủy ban Cải cách Kiều dân" phát động như nội ứng cũng bị cảnh sát trấn áp. Đây chính là Chiến tranh Boer lần thứ nhất và cũng là nguyên nhân của bức điện báo nổi tiếng của Wilhelm II.
Tất nhiên, sau thất bại lần trước, lần này Đế quốc Anh nhận ra rằng dựa vào cảnh sát để làm những việc như vậy hoàn toàn không đáng tin cậy. Để kiểm soát hai nước cộng hòa Boer, vẫn cần quân chính quy ra tay.
Thế là, quân đội Đế quốc Anh bắt đầu tập trung về Nam Phi. Tất nhiên, trong khi chuẩn bị các biện pháp quân sự, Đế quốc Anh cũng nghĩ đến các biện pháp "bất chiến tự nhiên thành" để buộc hai quốc gia Boer, những kẻ đã mạo phạm uy thế của đế quốc, phải nhanh chóng nhận ra sai lầm của mình và ngoan ngoãn tuân theo mệnh lệnh của Đế quốc Anh.
Vì vậy, vào tháng Sáu, Tổng đốc thuộc địa Cape Milner và Tổng thống Cộng hòa Transvaal Kruger đã tiến hành cuộc đàm phán cuối cùng tại Bloemfontein về vấn đề bảo vệ quyền lợi của kiều dân.
Tổng thống Kruger này, ngay sau khi mỏ vàng Witwatersrand được phát hiện, đã đưa ra lời cảnh báo mang tính tiên tri: "Chúng ta không nên hoan hô mà nên than khóc, bởi vì điều này sẽ khiến mảnh đất của chúng ta ngập trong biển máu." Quả nhiên không nằm ngoài dự liệu của ông, sau đó người nước ngoài (chủ yếu là người Anh) đã ồ ạt kéo đến, và mâu thuẫn với người Boer ngày càng gia tăng.
Sau đó, để bảo vệ lợi ích của người dân nước mình, ông đã ban hành quy định vào năm 1890 rằng di dân nước ngoài phải cư trú ít nhất 14 năm mới có thể có quyền công dân. Điều này khiến người Anh ở Johannesburg vô cùng phản đối. Tất nhiên, điều này càng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn với Anh và cuối cùng dẫn đến sự bùng nổ của hai cuộc Chiến tranh Boer.
Cuộc đàm phán lần này cũng không thuận lợi, vì hai bên không thể đạt được sự đồng thuận về các vấn đề cốt lõi. Người Boer không chấp nhận yêu cầu của Đế quốc Anh về quyền lực của mẫu quốc, ngay cả khi thời hạn cư trú để kiều dân có thể lấy quyền công dân Transvaal được giảm từ 14 năm xuống còn 5 năm.
Trước động thái "không biết điều" như vậy của người Boer, Đế quốc Anh càng tăng cường vận chuyển binh lực đến Nam Phi và bố trí các đơn vị này dọc biên giới hai nước. Rõ ràng, nếu dùng biện pháp mềm dẻo không được, Đế quốc Anh chỉ còn cách dùng vũ lực.
Thái độ hung hăng ép người của Đế quốc Anh khiến cả hai quốc gia Boer đều nhận thấy điều chẳng lành. Để đối phó với mối đe dọa từ Anh, hai quốc gia Boer đã liên kết lại với nhau.
Để tránh rơi vào thế bị động về chiến lược và đồng thời phá vỡ kế hoạch của người Anh, hai quốc gia Boer quyết định ra tay trước, không thể chờ quân đội Anh hoàn tất việc bố trí.
Vì vậy, vào ngày 9 tháng 10 năm 1899, chính phủ Transvaal đã gửi tối hậu thư đến Anh, yêu cầu Anh ngừng tăng viện quân đến Nam Phi, rút toàn bộ quân đội đã đến Nam Phi sau ngày 1 tháng Sáu, và chuyển mọi vấn đề tranh chấp sang trọng tài ngoại giao, với thời hạn trả lời trong 48 giờ.
Một chính phủ Transvaal bé nhỏ lại dám uy hiếp Đế quốc Anh. Bộ trưởng Thuộc địa Chamberlain đã trực tiếp ra lệnh cho Milner bác bỏ các điều kiện do Nam Phi đưa ra.
Vì vậy, vào chiều ngày 11 tháng 10 năm 1899, hai ngày sau đó, quốc hội liên bang của Cộng hòa Transvaal và Cộng hòa Orange Free State đã tuyên chiến với Anh, và Chiến tranh Boer lần thứ hai bùng nổ.
Trước cuộc Chiến tranh Boer này, các nước đều vô cùng đồng cảm với hoàn cảnh của người Boer. Các phong trào lên tiếng ủng hộ các nước Cộng hòa Boer diễn ra không ngừng nghỉ. Hà Lan và Bỉ đã thành lập nhiều tổ chức dân sự, vận động quyên góp tiền, đăng tải bài viết, lập quỹ tài chính, và quyên tặng cho Transvaal các bệnh viện dã chiến cùng thiết bị y tế.
Hàng ngàn tình nguyện viên từ Hà Lan, Bỉ, Đức, Pháp, Mỹ, Nga, Ireland, Ý và các nước Scandinavia đã vượt biển đến Transvaal, sẵn sàng kề vai chiến đấu cùng người Boer.
Tất nhiên, đây đều là những phong trào tự phát từ dân chúng. Các chính phủ nước ngoài thì không mấy xem trọng hai nước Cộng hòa Boer nhỏ bé này. Ngay cả những nhà quân sự lạc quan nhất cũng cho rằng hai quốc gia Boer nhiều nhất chỉ có thể chống đỡ cuộc tấn công của Đế quốc Anh trong nửa năm.
Đây cũng là quan điểm của Nguyên soái Cadorna và Thượng tướng Simeone.
"Tâu Bệ hạ, cuộc Chiến tranh Boer này bùng nổ, mặc dù người Boer có thể lợi dụng lúc Đế quốc Anh chưa hoàn tất việc bố trí để giành lấy tiên cơ, nhưng đã có hơn mười ngàn quân Anh được bố trí tại các cứ điểm xung quanh hai nước. Người Boer chỉ riêng việc chiếm được các cứ điểm đó đã phải chịu tổn thất rất nhiều binh lính. Theo thiển ý của thần, hai quốc gia Boer chỉ có tám trăm ngàn dân, số dân này căn bản không đủ làm nên việc lớn. Họ nhiều nhất chỉ có thể chống đỡ được hai ba chiến dịch lớn, sau đó sẽ rất khó khăn."
Nguyên soái Cadorna đã cố gắng nói một cách uyển chuyển, bởi theo suy đoán của ông, người Boer cơ bản chỉ có thể chống cự trong ba tháng. Đợi đến khi quân đội Đế quốc Anh tập trung hoàn chỉnh, sân khấu sẽ thuộc về họ.
Không trách Nguyên soái Cadorna lại nghĩ như vậy, nếu không phải đã quá quen thuộc với cuộc chiến tranh được người Anh ví như Waterloo này, thì chính ông cũng sẽ không tin rằng vì hai quốc gia Boer nhỏ bé này, Đế quốc Anh lại phải chịu tổn thất thảm trọng đến vậy.
Như vậy có thể thấy, trước Chiến tranh Boer, uy thế của Đế quốc Anh lớn đến nhường nào. Vào thời điểm đó, thách thức địa vị của Đế quốc Anh cơ bản là một nhiệm vụ bất khả thi; tất nhiên, sau khi Chiến tranh Boer kết thúc, điều này đã trở thành một nhiệm vụ đầy khó khăn và chật vật.
Bản văn này được đội ngũ biên tập của truyen.free thực hiện và giữ bản quyền.