Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Thần Quyến Tây Ban Nha - Chương 90: Di dân lương thực vấn đề

Để di dân, Alfonso đã triệu tập 50 chiếc thương thuyền cỡ lớn, tải trọng từ 500 đến 1000 tấn, dốc toàn lực đi lại giữa Bremen và Nam Phi. Thậm chí, ngay cả 10 chiếc thiết giáp chiến hạm mới đóng xong cũng kiêm luôn việc vận chuyển không ít dân chạy nạn.

Để đẩy nhanh tiến độ, mỗi chiếc thuyền chất chứa ít nhất hơn một nghìn dân chạy nạn. Những dân chạy nạn này chen chúc nhau tại bất kỳ không gian trống nào trên thuyền, dựng giường tạm để nghỉ ngơi. Thậm chí, ngay cả trên boong thuyền cũng ngủ kín những thanh niên trai tráng.

May mắn thay, các thương thuyền của Alfonso có tốc độ nhanh hơn hẳn những tàu thuyền thông thường. Nếu cứ chầm chậm trên biển rộng, riêng về lương thực và nước ngọt cũng đủ khiến người ta phiền não đến chết.

Cũng may là trong tay Alfonso có rất nhiều axit citric, có thể giữ cho thùng nước ngọt không bị biến chất. Nếu không, vận chuyển nhiều người như vậy, chỉ riêng vấn đề nước uống cũng có thể khiến người ta sụp đổ. Hơn nữa, vì số lượng người quá đông, trên thuyền không thể nấu nướng. Vì vậy, món ăn mà mọi người dùng nhiều nhất chính là bánh mì đen cứng đến nỗi có thể ném chết người. Những chiếc bánh mì đen này đều được Alfonso ra lệnh dùng giấy dầu chống ẩm đóng gói kín, đồng thời hút hết không khí ra để tránh biến chất. Có điều, điều khiến Alfonso phiền muộn là số giấy dầu dùng để đóng gói không hề rẻ hơn bánh mì đen – giấy dầu ở Châu Âu đúng là đắt đỏ một cách đặc biệt.

Suốt nửa cuối năm 1625, 10 chiếc tàu chiến bọc thép cùng 50 chiếc thương thuyền vũ trang dưới trướng Alfonso đã tất bật vận chuyển dân chạy nạn. Hơn nữa, tại khu vực Đức Ý, khi đại quân Đan Mạch tiến về phía nam, số lượng dân chạy nạn Thiên Chúa giáo đồ ngày càng nhiều. Hàng vạn dân chạy nạn mới, tổng cộng lên đến 50 vạn người, một lần nữa gia nhập làn sóng di dân.

Cũng may là đại quân của Tilley đã chặn đứng đại quân Đan Mạch tại thành Khoa Long, hai bên rơi vào thế đối đầu. Nếu không, với thói hung hăng của quân đội Đan Mạch, họ còn có thể tạo ra thêm hơn một triệu dân chạy nạn nữa. Có điều, Christiane IV chỉ dẫn theo 4 nghìn quân đội, còn Tilley dẫn theo 3 nghìn người đến. Bá tước Tilley có tài chỉ huy vượt trội hơn Christiane IV. Vì vậy, mặc dù quân đội đế quốc chiếm ưu thế về nhân số, hai bên vẫn giao chiến ngang sức.

Về vấn đề sinh tồn của dân chạy nạn tại hai khu vực thuộc địa lớn ở Nam Phi – Mở Phổ Đôn và Đức Ban, Pedro cùng Lạc Phỉ Tư đều đã trình báo cáo.

Ban đ���u, mọi người cho rằng cuộc sống của dân chạy nạn sẽ rất khó khăn. Nhưng theo báo cáo, dân chạy nạn lại sống khá tốt.

Mở Phổ Đôn của Pedro nhìn có vẻ điều kiện không bằng khu vực Đức Ban. Nhưng theo báo cáo của Pedro, cuộc sống của dân chạy nạn ở Mở Phổ Đôn lại dễ chịu hơn dân chạy nạn ở Đức Ban.

Vì sao lại thế? Thì ra, khu vực Mở Phổ Đôn có ngư trường tốt đẹp ở phía tây trên biển rộng. Còn trên đất liền, 2000 lính đánh thuê nhanh chóng càn quét những bộ lạc nhỏ rải rác.

Trong số 2000 lính đánh thuê này, có 1000 người là kỵ binh. Họ chỉ cần cưỡi ngựa, mang theo súng hỏa mai và cung tên, đi một vòng trên thảo nguyên Nam Phi là có thể săn được vô số con mồi, chủ yếu là linh dương và ngựa vằn.

Một con linh dương đủ cho hơn trăm người ăn một ngày. Săn được nhiều con mồi, cả vùng Mở Phổ Đôn đều có thịt để ăn.

Đương nhiên, với cách săn giết như vậy, động vật hoang dã ở gần đó chắc chắn sẽ giảm mạnh. Nhưng mặc kệ điều đó, chỉ cần sống sót qua một hai năm, khi ruộng đất được khai khẩn, họ sẽ không cần phải ra ngoài săn giết hàng ngàn, hàng vạn động vật hoang dã nữa.

Đối với dân di cư, giai đoạn đầu là gian nan nhất. Bởi vì, vào giai đoạn đầu, dân di cư thiếu lương thực nhất. Nếu chỉ đơn thuần dựa vào việc vận chuyển lương thực từ Châu Âu, với giá lương thực đang cao ngất ngưởng ở Châu Âu hiện nay, dù Alfonso là một siêu phú hào cũng sẽ phá sản.

Vì vậy, việc ăn uống tại chỗ, tận dụng tài nguyên địa phương, là điều quan trọng nhất đối với dân di cư. Và trên thảo nguyên Nam Phi, vô số động vật hoang dã đã cung cấp nguồn thịt dồi dào cho những dân chạy nạn mới đến.

Nếu dân di cư đến thảo nguyên Argentina hay Pampa, số lượng động vật hoang dã sẽ không nhiều bằng thảo nguyên Nam Phi, không thể nuôi sống hàng trăm nghìn dân chạy nạn.

Hơn nữa, khu vực Mở Phổ Đôn còn nhận được hơn trăm chiếc thuyền đánh cá lớn nhỏ khác nhau, cùng với một nhóm ngư dân lão luyện được điều động từ đảo Sardinia.

Hơn trăm chiếc thuyền đánh cá ra khơi, mỗi ngày cũng có thể kiếm về hơn trăm tấn hải sản. Tuy rằng tài nguyên ngư nghiệp ở bờ biển phía tây nam Châu Phi không phong phú bằng bốn ngư trường lớn nhất thế giới – ngư trường Hokkaido, ngư trường Newfoundland, ngư trường Biển Bắc và ngư trường Peru.

Nhưng vào thế kỷ 17, tài nguyên ngư nghiệp ở bờ biển tây nam Châu Phi hoàn toàn chưa có ai khai thác. Vì vậy, tài nguyên ngư nghiệp tự nhiên vẫn rất phong phú.

Do đó, dân chạy nạn ở Mở Phổ Đôn sống một cuộc sống tốt đẹp "có cá có thịt". Thậm chí, vì hải sản quá nhiều ăn không hết, họ đã sấy thành cá khô, số lượng lớn được hỗ trợ cho khu vực Đức Ban.

Khu vực Đức Ban, theo lý mà nói, khí hậu ẩm ướt, thích hợp hơn cho nông nghiệp. Thế nhưng, vì địa phương đã bị người da đen khai phá không ít, tài nguyên động vật hoang dã đã di chuyển đến nơi khác. Vì vậy, dân chạy nạn ở đây lại không có thuận lợi như dân chạy nạn ở Mở Phổ Đôn để ăn thịt động vật hoang dã. Hơn nữa, tài nguyên ngư nghiệp ở vùng ven biển cũng không quá phong phú.

Vì vậy, dân chạy nạn di cư đến khu vực Đức Ban có phần không đủ no. Nếu không phải Mở Phổ Đôn hỗ trợ một lượng lớn cá khô, dân chạy nạn ở Đức Ban vẫn thực sự khó có thể duy trì cuộc sống.

Tuy nhiên, nếu nông nghiệp ở Đức Ban phát triển, đó sẽ là một diện mạo khác. Có thể khẳng định rằng điều kiện nông nghiệp ở khu vực Đức Ban cực kỳ tốt, ít nhất là vượt xa khu vực Mở Phổ Đôn.

Bởi vì, theo khảo sát của các chuyên gia nông nghiệp, tình hình thủy lợi ở khu vực Đức Ban rất tốt, có rất nhiều sông ngòi tự nhiên tưới tiêu, vô cùng thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp.

Còn khu vực Mở Phổ Đôn, khí hậu tương đối khô hạn. Sông ngòi cũng không dày đặc như khu vực Đức Ban. Các chuyên gia thủy lợi đã khảo sát qua, cần phải đào kênh mương ở khu vực Mở Phổ Đôn, dẫn nước từ một số con sông chính của địa phương đến các đồng bằng và thung lũng. Như vậy, mới có thể phát triển nông nghiệp quy mô lớn ở khu vực Mở Phổ Đôn.

Nhưng điều kiện chăn nuôi ở khu vực Mở Phổ Đôn lại quá tốt. Hầu hết các khu vực đều là đồng cỏ tự nhiên tuyệt đẹp, rất thích hợp cho chăn nuôi.

Vì thế, Alfonso đặc biệt triệu tập vài nghìn con cừu Mỹ Lợi Nô giống tốt từ Tây Ban Nha về Nam Phi để chăn nuôi.

Cừu Mỹ Lợi Nô là quốc bảo của Tây Ban Nha. Chúng vừa có thể dùng làm thịt để ăn, vừa rất thích hợp để nuôi lấy lông, thu được len chất lượng tốt. Mãi cho đến thế kỷ 18, Tây Ban Nha vẫn nghiêm ngặt quy định – tuyệt đối không cho phép buôn bán cừu Mỹ Lợi Nô sống ra nước ngoài, người vi phạm sẽ bị xử tử.

Cũng may Alfonso là hoàng tử Tây Ban Nha, và trên danh nghĩa, Nam Phi cũng thuộc quyền sở hữu của Tây Ban Nha. Vì vậy, Alfonso mới có thể nhận được sự chấp thuận, vận chuyển ba, bốn nghìn con cừu Mỹ Lợi Nô về Nam Phi.

Dù vậy, Alfonso vẫn phải hoàn tất nhiều thủ tục, nhận được giấy phép mới có thể vận chuyển hàng nghìn con cừu Mỹ Lợi Nô lên thuyền.

Sau khi các chuyên gia khảo sát, cuối cùng, hai khu vực thuộc địa lớn ở Nam Phi được sắp xếp như sau: Khu vực Đức Ban chủ yếu phát triển nông nghiệp, trồng trọt lúa nước và lúa mì, cùng với mía và cây bông. Còn khu vực Mở Phổ Đôn, bao gồm cả Mở Phổ Đôn và các vùng đồng bằng ven biển lân cận có hệ thống sông ngòi thuận tiện cho tưới tiêu, cũng chủ yếu làm nông nghiệp. Trong khi đó, các vùng thảo nguyên rộng lớn ở nội địa chủ yếu phát triển chăn nuôi. Đồng thời, Mở Phổ Đôn cùng một số cảng cá ở phía tây Nam Phi, rất nhiều dân chạy nạn chủ yếu làm nghề ngư nghiệp.

Qua tính toán, hai khu vực thuộc địa ở Nam Phi có thể chứa được 1 triệu người. Còn những dân chạy nạn tiếp theo chỉ có thể lựa chọn đồng bằng La Plata ở Argentina, ngăn cách với Nam Phi bởi Đại Tây Dương.

Nói đến, khu vực đồng bằng La Plata có hệ thống sông ngòi phát triển, nguồn nước dồi dào, cực kỳ thích hợp để phát triển nông nghiệp. Còn thảo nguyên Pampa ở phía nam đồng bằng lại càng là khu vực thích hợp cho chăn nuôi.

Argentina đời sau chính là một quốc gia nổi tiếng về nông nghiệp và chăn nuôi. Xuất khẩu thịt bò đứng đầu thế giới, sản lượng lúa mì cũng rất lớn, là một trong những quốc gia sản xuất lương thực nổi tiếng thế giới.

Hơn nữa, không giống với Bắc Mỹ, khu vực đồng bằng La Plata ở Argentina, hầu hết các bờ sông đều là thảo nguyên. Không giống khu vực Bắc Mỹ, muốn khai khẩn ruộng đất ư? Trước tiên phải chặt hết rừng rậm khắp nơi đã. Khối lượng công việc này, ngay từ đầu đã rất lớn.

Còn nếu khai khẩn ruộng đất ở khu vực đồng bằng La Plata thì rất đơn giản. Chỉ cần vào mùa thu (mùa thu ở Nam bán cầu tương đương với mùa xuân ở Bắc bán cầu), đốt lửa thiêu hủy cỏ khô ven sông là có thể dọn sạch đất hoang. Và tro phân có thể mang đến lượng kali phong phú cho đất.

Việc dân di cư cần làm là trực tiếp lắp cày vào trâu để khai khẩn. Mà khu vực đồng bằng La Plata có nguồn nước ngầm phát triển, việc tưới tiêu cũng cực kỳ thuận tiện.

Điều bất tiện duy nhất là tài nguyên động vật hoang dã ở khu vực đồng bằng La Plata không nhiều, không thể nuôi sống hàng trăm nghìn dân di cư.

Vì vậy, Alfonso hạ lệnh tăng cường thuyền đánh cá ở phía tây Nam Phi, sấy khô một lượng lớn cá để hỗ trợ Argentina đang đối mặt qua đại dương. Khi một nhóm dân chạy nạn đến Argentina, lương thực ban đầu sẽ phụ thuộc vào nguồn cung từ ngư dân Nam Phi.

Và một khi nông nghiệp ở khu vực đồng bằng La Plata của Argentina phát triển, nó sẽ trở thành một vựa lương thực khổng lồ, vững chắc cung cấp lượng lớn lương thực cho dân số.

Để giữ gìn tâm huyết người dịch, xin chớ sao chép đăng tải khi chưa được phép.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free