(Đã dịch) Thiết Thập Tự - Chương 47: Hòa bình thế giới (2)
Ngài Cố vấn, cảm tạ ngài cùng thuộc hạ của ngài vì nước Mỹ đã làm tất cả, các ngài vĩnh viễn là bạn bè của nhân dân Mỹ!
Ngày 11 tháng 6 năm 1946, một tháng sau khi Dewey chính thức tuyên bố bình định cuộc nổi dậy Bolshevik và dốc toàn lực vào công cuộc phục hồi nước Mỹ, Steiner cùng đoàn người đã lên đường trở về quê hương. Trước khi lên đường, Dewey không chỉ trao cho Steiner quân hàm cao nhất nước Mỹ – quân hàm Thượng tướng Năm Sao Danh dự mới được thiết lập, mà còn cùng lúc trao tặng Steiner cùng các thủ hạ đắc lực những vinh dự cao quý nhất của nước Mỹ – Huân chương Quốc hội, Huân chương Tổng thống, v.v.
Mỗi thành viên đội cận vệ tổng thống, kể cả ba quân lục, hải, không đã tham gia chiến dịch bình loạn, đều nhận được huy chương kỷ niệm "Phản Bolshevik" cùng huy chương Chiến Thắng... Còn về huy chương kỷ niệm Chiến tranh châu Âu, Chiến tranh Thái Bình Dương thì sẽ được phát sau.
Trong hơn một tháng này, danh vọng của Dewey gần như lên đến đỉnh điểm: Mặc dù ông đã ký hiệp ước đình chiến với phe Trục, bồi thường một khoản tiền lớn, nhưng vì ông đã chấm dứt chiến tranh, đặc biệt là đã bình định phong trào Cộng hòa đang càn quét nước Mỹ, người dân vẫn hoan nghênh ông. Đ��c biệt là sau khi tin tức ông ta bề ngoài nhượng lại một số lợi ích kinh tế, nhưng thực chất đã giành lại quần đảo Hawaii từ tay Nhật Bản được lan truyền, ấn tượng của dân chúng nhanh chóng thay đổi – "Dù sao đi nữa, Tổng thống Dewey là một người tốt, ông không chỉ chấm dứt chiến tranh, mà còn lấy lại Hawaii từ tay người Nhật, nếu không làm như vậy, trời mới biết sẽ còn bao nhiêu người phải chết!"
Theo hiệp định Nhật – Mỹ, hai bên sẽ tổ chức nghi thức chuyển giao tại Hawaii vào ngày 1 tháng 7, chính thức tuyên bố việc chuyển giao chủ quyền Hawaii, đặc biệt là Trân Châu Cảng. Trước đó, tướng hải quân Nhật Bản sẽ đến thăm Los Angeles và xin lỗi về những sai lầm trong chiến dịch Trân Châu Cảng. Đồng thời, Mỹ sẽ chuyển giao cho Nhật Bản các vật tư như tàu bè, sắt thép, xe tải, thiết bị trị giá hơn 8 tỷ đô la làm khoản bồi thường. Còn về khoản nợ của Nhật Bản và Đức trị giá hơn 2,4 tỷ đô la đã được thanh toán trước hạn, từ nay về sau, Mỹ sẽ chịu trách nhiệm hoàn trả.
Sau khi hoàn tất những việc này, Dewey còn tuyên bố s��� nhận lời mời của Đức, tham dự đại hội thành lập Liên Hợp Quốc và kỳ họp đặc biệt đầu tiên của Liên Hợp Quốc tại Frankfurt vào tháng 10.
Theo lựa chọn của Hoffman, Alsace và Lorraine là nơi đặt trụ sở chính của EU, bao gồm các cơ quan chính trị – Hội đồng EU, Quốc hội châu Âu, Tòa án châu Âu; kinh tế – Cộng đồng Kinh tế châu Âu, Ngân hàng Tái thiết châu Âu; quân sự – Bộ Tổng tư lệnh Liên minh Hiệp ước Berlin, tất cả đều đặt tại đây. Còn Frankfurt là nơi đặt trụ sở chính của Liên Hợp Quốc – bao gồm các cơ quan hành chính, hội đồng và Ngân hàng Thế giới của Liên Hợp Quốc cũng tập trung tại đây.
Để đảm bảo giao thông thông suốt giữa ba thành phố Berlin, Alsace-Lorraine và Frankfurt, Speer cách đây không lâu đã công bố kế hoạch xây dựng siêu đường sắt: Dự kiến sẽ xây dựng tuyến đường sắt chạy bằng điện mới, có tốc độ lên tới 150 km/h, và có khả năng vận hành với tốc độ lên đến 250 km/h trong tương lai, nối liền ba thành phố này, đồng thời lấy đây làm nòng cốt, thúc đẩy xây dựng mạng lưới đường sắt cao tốc toàn nước Đức. Hiện tại, bản đồ nước Đức từ cực tây Luxembourg đến cực đông Meißen gần 1500 km, từ cực bắc bán đảo Đan Mạch đến chân núi Alps của Áo cũng xấp xỉ 1500 km, thực sự là cường quốc số một Trung Âu. Mạng lưới đường sắt hiện có đã không đủ đáp ứng nhu cầu.
Tuyến siêu đường sắt này cũng là một phần của kế hoạch đường sắt cao tốc châu Âu. Hoffman tràn đầy tham vọng hy vọng trong vòng 20 năm sẽ kết nối các thủ đô và thành phố lớn của các quốc gia châu Âu. Thiết kế cuối cùng sẽ là một mạng lưới tỏa ra hình cánh chim nhạn: Lấy Berlin làm trung tâm, cánh trái sẽ nối liền Luân Đôn, Amsterdam, Brussels, Frankfurt, Paris cho đến Madrid và Lisbon; cánh Nam sẽ nối Prague, Vienna, Bologna đến Roma và Sicily; cánh phải sẽ nối Warsaw, Minsk, Moscow, trong đó còn có một nhánh từ Minsk đến Kiev.
Điểm không chắc chắn duy nhất chính là tuyến đông nam: Tức là tuyến đường từ Vienna kéo dài về phía đông nam, đi qua Budapest, Bucharest, Sofia cho đến Istanbul. Bởi vì các quốc gia dọc tuyến đường này như Romania, Hungary, Bulgaria và Thổ Nhĩ Kỳ vẫn còn tương đối nghèo. Vì vậy, tuyến này chỉ mới được quy hoạch ý tưởng, việc thi công thực tế có thể phải bắt đầu sau những năm 1960.
Tuy nhiên, Speer cho rằng việc hoàn thành mạng lưới đường sắt cao tốc xuyên châu Âu vào những năm 1970 là hoàn toàn khả thi. Khi mục tiêu tốc độ 250 km/h được thực hiện, sau này các thủ đô và thành phố lớn của châu Âu đến Berlin sẽ chỉ mất nhiều nhất nửa ngày – so với đường hàng không thì ít tốn công sức và kinh tế hơn.
Trong nội bộ các quốc gia, việc xây dựng đường cao tốc phổ biến là cần thiết, bởi vì các quốc gia Tây Âu nhìn chung không lớn, dân số cũng không quá dày đặc. Xây dựng đường cao tốc song song với đường sắt cao tốc càng có ý nghĩa và phù hợp với tình hình quốc gia. Nhìn chung, bản đồ giao thông châu Âu sẽ là một mô hình ba trong một: lấy đường sắt cao tốc làm động mạch chủ, đường cao tốc làm mao mạch, và hàng không làm yếu tố bổ sung quan trọng. Vận tải đường thủy sau này chỉ còn giá trị trong lĩnh vực hàng hóa và một phần du lịch.
Kế hoạch xây dựng đường sắt khổng lồ này có vẻ rất đồ sộ, nhưng thực chất chỉ là một phần trong kế hoạch phục hưng của Speer. Theo kế hoạch của ông, Liên minh châu Âu sau này sẽ thực hiện vận hành thống nhất trong từng lĩnh vực như nhiên liệu, y dược, giao thông, giáo dục, công nghiệp hóa chất, sắt thép, quân sự, thực sự hiện thực hóa kế hoạch thịnh vượng của châu Âu.
Dewey và chính phủ Mỹ cũng rất thèm muốn gói ý tưởng xây dựng khổng lồ này của châu Âu, đã nhiều lần chủ động đề xuất yêu cầu, hy vọng các doanh nghiệp Mỹ cũng có thể được chia một phần. Hơn nữa, ông còn bày tỏ có thể dùng khoản nợ của Đức đối với Mỹ để đẩy nhanh quá trình bồi thường – Ban đầu, khoản bồi thường cho Đức được thỏa thuận sẽ hoàn thành trong 20 năm, Dewey bày tỏ nếu có thể hỗ trợ như vậy, Mỹ sẵn lòng thanh toán xong trong vòng 10 năm.
Hoffman không đóng cánh cửa này lại, mà bày tỏ rằng nếu Mỹ đồng ý, tất cả có thể thảo luận kỹ lưỡng tại hội nghị Liên Hợp Quốc. Liên minh châu Âu về nguyên tắc không từ chối thiện chí tham gia kế hoạch phục hưng châu Âu của Mỹ, nhưng trước tiên, cần tiếp tục thảo luận về hiệp ước kiểm soát vũ khí.
Kế hoạch kiểm soát vũ khí cũng là mong muốn của Nhật Bản. Hiện tại, với hơn 3 triệu quân lục chiến cùng một hạm đội liên hợp khổng lồ, chính phủ Nhật Bản không thể gánh vác nổi gánh nặng – Đến tháng 6 năm 1946, số lượng hàng không mẫu hạm chính quy của Nhật Bản đã vượt qua 15 chiếc, cộng thêm các tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu chở dầu đồng bộ, sức mạnh quân sự đã bành trướng đến mức khó có thể tưởng tượng trước chiến tranh. Mọi mặt vật liệu và tiếp liệu cũng đã đến mức không thể chịu đựng nổi, nếu tiếp tục tái vũ trang thì sẽ tự hủy diệt. Việc rút lui khỏi Hawaii thực ra đã tạo đà rất lớn cho Nhật Bản, giúp họ không cần phải duy trì một tuyến tiếp tế dài hơn mười nghìn hải lý nữa. Theo đề nghị của Teikichi Hori, Nhật Bản hy vọng vấn đề kiểm soát vũ khí có thể được thảo luận tại kỳ họp đặc biệt đầu tiên của Liên Hợp Quốc.
Theo ý tưởng của Nhật Bản: lực lượng lục quân của Nhật Bản sau này sẽ duy trì khoảng 1,2 triệu quân; hạm đội chủ lực hải quân cùng với hạm đội Mỹ và hạm đội liên hợp châu Âu sẽ duy trì tỷ lệ 5:5:7.
Dewey cũng có ý tưởng giải trừ quân bị tương tự, bởi vì hiện tại, với hơn 9 triệu quân đội và chi tiêu quốc phòng 150 tỷ đô la, ông cảm thấy tuyệt vọng. Đề nghị của ông là Liên minh châu Âu duy trì lực lượng bộ binh trong vòng 2 triệu, Nhật Bản trong vòng 1 triệu, và Mỹ duy trì 1,5 triệu (bao gồm lục quân và thủy quân lục chiến). Về sức mạnh hạm đội, châu Âu, Mỹ, Nhật sẽ duy trì tỷ lệ 11:10:7.
Còn theo ý tưởng của Hoffman, lực lư��ng quân đội của Liên minh châu Âu sẽ kiểm soát ở mức khoảng 2 triệu, trong đó Đức sẽ chiếm 1 triệu. Về quy mô hạm đội, tỷ lệ 12:8:6 giữa châu Âu, Mỹ, Nhật là tốt nhất.
Nói cách khác, tất cả các bên đều cho rằng lực lượng bộ binh là gánh nặng không thể chịu nổi và cần phải cắt giảm, nhưng trong lĩnh vực hải quân, hai bên vẫn có sự khác biệt khá lớn: Nhật Bản cho rằng việc châu Âu có nhiều hơn một chút hải quân là có thể chấp nhận, nhưng yêu cầu được ngang hàng với Mỹ; Mỹ cho rằng hải quân châu Âu có thể nhiều hơn một chút, nhưng ít nhất phải duy trì tỷ lệ Mỹ-Nhật là 10:7; còn Hoffman cho rằng hải quân châu Âu về cơ bản phải đủ sức đối phó với tổng lực lượng của Mỹ và Nhật – dù sao hạm đội liên hợp châu Âu được tạo thành từ bốn cường quốc lớn là Anh, Pháp, Ý, Đức, mà quy mô của bất kỳ quốc gia nào riêng lẻ cũng không đủ lớn.
Bản chuyển ngữ này là thành quả độc quyền của truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.