(Đã dịch) Thục Hán Phục Hưng - Chương 324: .5 : Tiểu sử Bắc Cung Thuần, Lưu Mãnh, Phạm Trường Sinh
Bắc Cung Thuần (?-318), tên tự và quê quán không rõ. Ông từng là quan lại của Tây Tấn và Hán Triệu. Thuở ban đầu, Bắc Cung Thuần giữ chức Đốc hộ Lương Châu. Do Lạc Dương bị Vương Di công chiếm, ông được Trương Quỹ, người bị Vương Di đâm chết, phái đến Lạc Dương. Ông từng hai lần hiệp trợ đẩy lùi quân Hán Triệu, bảo vệ Lạc Dương. Sau Loạn Vĩnh Gia, ông quy phục nhà Hán, nhậm chức Thượng thư. Trong Loạn Cận Chuẩn, ông tập hợp lực lượng tự giữ tại Đông cung, nhưng bị Cận Khang, đường đệ của Cận Chuẩn, giết hại.
Năm Vĩnh Gia thứ hai (308), tướng lĩnh nước Hán là Vương Di dẫn quân uy hiếp Lạc Dương, kinh sư lâm nguy. Thứ sử Lương Châu Trương Quỹ bèn phái Bắc Cung Thuần cùng Trương Phỉ mỗi người chỉ huy 5.000 tinh kỵ nhập kinh chi viện. Vương Di sau khi đến Lạc Dương đã đóng quân tại cửa Tân Dương. Bắc Cung Thuần liền suất lĩnh hơn trăm người đột kích quân Vương Di, đại phá đối phương, buộc Vương Di phải lui quân. Tiếp đó, Bắc Cung Thuần lại tại Hà Đông đánh bại một tướng lĩnh khác của nước Hán là Lưu Thông, tạm thời bảo đảm an toàn cho Lạc Dương. Mùa đông năm Vĩnh Gia thứ ba (309), nước Hán lại phái Lưu Thông, Vương Di, Hô Diên Dực và nhiều người khác nam tiến công Lạc Dương. Bắc Cung Thuần thừa lúc đêm tối suất hơn một ngàn người tấn công quân Hán, giết chết Chinh Lỗ tướng quân Hô Diên Hạo. Chẳng bao lâu, Hô Diên Dực bị bộ hạ của mình giết chết, đại quân tan rã. Lưu Thông dù có ý đồ tiếp tục tấn công nhưng lại bị quân Tấn đánh bại, cuối cùng đành phải rút quân.
Năm Vĩnh Gia thứ năm (311), quân Hán công phá Lạc Dương, bắt sống Tấn Hoài Đế cùng các tông thất quan lại ở Lạc Dương. Bắc Cung Thuần chuyển sang phò trợ Nam Dương Vương Tư Mã Mô tại Trường An. Nhưng không lâu sau, Lưu Xán lại tấn công Trường An, binh lực kéo đến Hạ Khuê. Tư Mã Mô phái binh xuất chiến nhưng thất bại, liền đầu hàng và sau đó bị Lưu Xán giết chết. Bắc Cung Thuần cùng những người khác thì bị giải đến kinh đô Bình Dương của nhà Hán.
Tại nhà Hán, Bắc Cung Thuần làm quan đến chức Thượng thư. Đến năm Hưng Nguyên (318), Cận Chuẩn giết Hán đế Lưu Xán rồi tự lập làm Hán Thiên Vương. Bắc Cung Thuần liền chiêu tập người Hán, tự giữ tại Đông cung, nhưng cuối cùng bị Cận Khang, đường đệ của Cận Chuẩn, sát hại.
Mọi thông tin trong đây đều được biên dịch kỹ lưỡng bởi truyen.free.
Phạm Trường Sinh (219 – 318), còn có tên là Diên Cửu, Trùng Cửu, hoặc Văn (hay Chi), tự l�� Nguyên Thọ. Ông là người vùng Phù Lăng Đan Tâm (nay là Kiềm Giang) và là một trong "Thục chi Bát Tiên".
Ông xuất thân từ hào tộc bản địa, là thủ lĩnh Thiên Sư đạo tại vùng Thành Đô thuộc Tây Tấn. Ông cũng là Thừa tướng của chính quyền Đại Thành do quân khởi nghĩa lưu dân Tây Tấn thành lập ("Thành Hán", một trong "Mười Sáu nước" thời Ngũ Hồ Thập Lục Quốc), được phong làm "Tứ Thời Bát Tiết Thiên Địa Thái Sư" và Tây Sơn hầu. Dưới sự khuyên bảo của Phạm Trường Sinh với tôn chỉ "nghỉ ngơi dưỡng sức, giảm bớt sưu thuế, chấn hưng giáo hóa", chính quyền Đại Thành từng một thời hưng thịnh.
Năm Diên Hi thứ mười một đời Thục Hậu Chủ (năm 248), quận Phù Lăng (quận trị nay thuộc trấn Úc Sơn, huyện Bành Thủy) nổi dậy phản loạn, Xa Kỵ tướng quân Đặng Chi dẫn quân chinh phạt, bình định. Sau khi bình định, triều đình để tránh tái diễn biến loạn, đã cưỡng chế di dời hơn năm ngàn hộ dân Phù Lăng về Thành Đô, trong đó có cả gia đình Phạm Trường Sinh. Lúc bấy giờ, một số người trong cảnh chiến loạn đã tìm đến tôn giáo để thoát khỏi nỗi khổ hiện thực và tìm kiếm nơi nương tựa tinh thần. Bởi vậy, "Thiên Sư đạo" do Trương Đạo Lăng sáng lập, đã cực thịnh một thời tại vùng Thành Đô. Phạm Trường Sinh, người đã chịu đủ nỗi khổ chiến loạn và sự kỳ thị, cũng gia nhập Thiên Sư đạo, và cư trú lâu dài tại Tây Sơn Thành Đô (núi Thanh Thành). Nhờ ông chú trọng tín nghĩa, học rộng tài cao, ông rất được các giáo đồ Thiên Sư đạo kính phục, được suy tôn làm thủ lĩnh Thiên Sư đạo tại vùng Thành Đô.
Ông tu luyện Đạo giáo, hướng về cảnh giới thần tiên, được cho là đã đắc Trường Sinh thuật. Sách "Phương dư thắng lãm" của Chúc Mục thời Tống chép: "Tiên Chủ (Lưu Bị) không thể chiêu mộ ông, bèn phong làm Tiêu Dao Công", "Lưu Thiện xem trạch là Trường Sinh quán". "Liệt Tiên truyện" chép về người Thục rằng: "Năm hơn trăm tuổi, người tôn sùng là tiên, xưng là Trường Sinh". "Tư Trị Thông Giám" cũng ghi: "Trường Sinh bác học đa tài, tuổi gần trăm, người Thục phụng ông như thần".
Gia tộc Phạm Trường Sinh đời đời nắm giữ bộ khúc, bản thân ông lại là gi��o chủ Thiên Sư đạo. Khi Lý Lưu chiếm cứ Bì Thành, ông sở hữu hơn ngàn hộ gia đình, cư trú dưới chân núi Thanh Thành. Núi Thanh Thành là một trị sở của Thiên Sư đạo, một phúc địa động thiên nổi tiếng. Phạm Trường Sinh sở hữu bộ khúc dưới chân núi Thanh Thành, tất nhiên cũng nắm giữ tín đồ đạo giáo. Ông có thể xuất lương thực cung cấp cho quân đội, điều này đủ để cho thấy ông có thực lực kinh tế hùng hậu, hơn nữa lại là một giáo chủ Đạo giáo có vũ trang. Từ Dư, tham quân của Bình Tây tướng quân phủ La Thượng, nhận thấy nguồn sức mạnh này của Phạm Trường Sinh. Ông đề nghị La Thượng phong mình làm Vấn Sơn thái thú, liên hiệp Phạm Trường Sinh cùng tấn công Lý Lưu; nhưng La Thượng không chấp thuận. Từ Dư oán giận, bèn đầu hàng Lý Lưu; Lý Lưu dùng ông làm An Tây tướng quân. Từ Dư, người Phù Lăng, cùng Phạm Trường Sinh xem như đồng hương. Thông qua lời du thuyết của Từ Dư, Phạm Trường Sinh đã bí mật cung cấp lương thực cho quân lưu dân. Vấn đề lương thảo của quân Lý Lưu tạm thời được giải quyết, thoát khỏi cảnh đói kém khó khăn.
Sau ba năm thực tiễn lãnh đạo quân lưu dân của Lý Đặc và Lý Lưu, Lý Hùng nhận ra rằng việc không được người bản địa Thục Trung ủng hộ là vô cùng nguy hiểm. Lý Lưu, thông qua sự thuyết phục của Từ Dư, đã giúp quân lưu dân nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ Phạm Trường Sinh, nhờ đó mà vượt qua được khó khăn, chuyển nguy thành an. Mặc dù Phạm Trường Sinh nguyên quán là Phù Lăng Đan Hưng, nhưng họ Phạm đã cư trú ở Thục Trung hơn trăm năm, có ruộng đất, có hơn ngàn hộ bộ khúc, lại là thủ lĩnh Đạo giáo, có hàng vạn mối liên hệ với người Thục; tức là có thực lực tương đương. Vì lẽ đó, "Lý Hùng thấy Phạm Trường Sinh có đức tiếng, được người Thục trọng vọng, muốn nghênh đón ông làm quân chủ và thờ phụng", cốt để hòa giải mâu thuẫn giữa lưu dân sáu quận và người bản địa Thục Trung.
Phạm Trường Sinh cho rằng mình không thể lãnh đạo đại quân lưu dân, bèn tận dụng đạo bào khoác trên người để truyền đạt thiên ý, nói rằng: "Đại Nguyên ngũ hành vận chuyển, đại hội giáp độc chung tại Lý, không phải tiết của ta vậy" (theo "Thập Lục Quốc Xuân Thu"). Ông không nhận ngôi hoàng đế, mà còn khuyên Lý Hùng tự lập.
Tháng 3 năm Quang Hi nguyên niên (năm 306), Phạm Trường Sinh từ núi Thanh Thành đến Thành Đô. Sáu tháng sau, Lý Hùng đăng cơ hoàng đế, quốc hiệu là Đại Thành, cải nguyên Yến Bình, lấy Phạm Trường Sinh làm Thừa tướng, lại kiêm "Tứ Thời Bát Tiết Thiên Địa Thái Sư", phong Tây Sơn hầu, và được hưởng đ��c quyền "bộ khúc được miễn phục dịch, quân binh chinh phạt không dự, tô thuế chỉ nộp cho gia đình". Đây là sự báo đáp của Lý Hùng và tầng lớp thượng lưu lưu dân dành cho Phạm Trường Sinh: về chính trị, ông là Thừa tướng, phẩm cấp cao nhất triều; về kinh tế, bộ khúc của ông không phải gánh vác lao dịch, ruộng đất của ông cũng không phải nộp tô thuế cho chính quyền Đại Thành. Ông trở thành một quý tộc phong kiến đích thực, vừa có ruộng đất, vừa có nông dân dựa vào, lại còn được hưởng đặc quyền miễn thuế lao dịch. Phạm Trường Sinh từ việc ủng hộ tập đoàn lưu dân đến khi gia nhập chính quyền Đại Thành, đã kết nối các chư hầu sáu quận, các đại địa chủ người Hán và các đại địa chủ Thục Trung, tạo thành hạt nhân thống trị của chính quyền Đại Thành. Đây chính là bản chất giai cấp của chính quyền Đại Thành. Phạm Trường Sinh trong chính quyền Đại Thành được hưởng các đặc quyền kinh tế giống như các quý tộc vương công Tây Tấn, tức là đặc quyền của đại địa chủ được hợp pháp hóa trong chính quyền Đại Thành.
Lúc này, Phạm Trường Sinh đã ở tuổi thượng thọ, còn Lý Hùng mới ba mươi tuổi. Già trẻ đồng lòng, quân thần hòa hợp. Dưới ảnh hưởng của tôn chỉ "thanh tâm quả dục, kính thiên ái dân" của Phạm Trường Sinh, và sự khuyên bảo "nghỉ ngơi dưỡng sức, giảm bớt sưu thuế, chấn hưng giáo hóa, đừng quá hiếu chiến", chính quyền Đại Thành đã thi hành chính sách khoan dung, giảm nhẹ sưu dịch, khuyến khích sản xuất, chấn hưng văn giáo, chấn chỉnh phong hóa, xử phạt không tùy tiện, hình phạt không lạm dụng, ân uy lan xa. Số người xưng thần quy phụ ngày càng tăng nhanh, Đại Thành từng một thời hưng thịnh.
Tháng 4 năm 318 (năm Hưng Nguyên đời Đông Tấn Nguyên Đế), Phạm Trường Sinh qua đời tại Thành Đô.
Sau khi Phạm Trường Sinh qua đời, con trai ông là Phạm Bí được Lý Hùng phong làm Thừa tướng.
Năm 347, Thành Hán bị đại tướng Hoàn Ôn của Đông Tấn tiêu diệt. Các tướng lĩnh Thành Hán như Đặng Định, Ngỗi Văn và những người khác bèn tôn Phạm Bí lên làm đế. Căn cứ sách sử chép, Phạm Bí "dùng điều yêu dị mê hoặc chúng", bởi vậy rất nhiều ng��ời đất Thục quy phụ ông.
Năm 349, Thứ sử Ích Châu Chu Phủ và Long Tương tướng quân Chu Đảo của Đông Tấn tấn công Phạm Bí. Phạm Bí bị giết, Ích Châu liền được bình định.
Tôn trọng quyền sở hữu bản dịch, thông tin này được biên soạn bởi truyen.free.
Lưu Mãnh (?-272) là thủ lĩnh Hung Nô tại Tịnh Châu (nay là phía tây nam thành phố Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây) vào những năm đầu triều Tấn. Ông là con trai của Hữu Hiền Vương Khứ Ti của Hung Nô.
Vì tổ tiên ông là cháu ngoại của hoàng tộc nhà Hán, nên ông lấy họ Lưu. Ông từng giữ chức Bắc Bộ Soái (cũng từng là Trung Bộ Soái, Hữu Hiền Vương, Thiền Vu). Tháng Giêng năm Thái Thủy thứ bảy (271), Lưu Mãnh khi đó đang là Hữu Hiền Vương Hung Nô, đã vượt biên trốn thoát và đồn trú tại thành Khổng Tà. Tháng Mười Một cùng năm, Lưu Mãnh tấn công Tịnh Châu nhưng bị Thứ sử Châu là Lưu Khâm đánh bại. Ông nhiều lần xâm chiếm Tịnh Châu, khiến vùng biên cương không được yên ổn. Tháng Giêng năm Thái Thủy thứ tám (272), Giám quân Hà Trinh của triều Tấn thảo phạt Lưu Mãnh và đã đánh bại ông nhiều lần. Tuy nhiên, qua nhiều trận giao tranh trực diện, bộ hạ của Lưu Mãnh vẫn cường hãn khó chế ngự, nên Hà Trinh chỉ giành được thắng lợi nhỏ. Hà Trinh bèn dụ dỗ Tả Bộ Soái Lý Khác, thuộc hạ của Lưu Mãnh. Lý Khác sau đó đã chém đầu Lưu Mãnh và đầu hàng triều Tấn.
Con trai của Lưu Mãnh là Lưu Phó Luân gia nhập bộ Tiên Ti Thác Bạt, trở thành thủy tổ của bộ Độc Cô. Các bộ hạ còn lại của ông, do em trai Cáo Thăng Viên lãnh đạo, trở thành bộ Thiết Phất.
Đây là một ấn phẩm độc quyền từ truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.